nghiên cứu công tác cổ phần hoá và hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty cổ phần xây lắp và vật liệu xây dựng khánh hoà - Pdf 22

1
Họ và tên: Nguyễn Thị Mộng Thuỷ
MSSV: 44D4315
Ngành: Quản trị kinh doanh
Tên đồ án: Nghiên cứu công tác cổ phần hoá và hiệu quả sản xuất kinh doanh tại
công ty cổ phần Xây lắp và Vật liệu Xây dựng Khánh Hoà.

MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết của đề tài.
Mục tiêu cơ bản của mọi doanh nghiệp khi hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế
thị trường là phải đạt hiệu quả kinh doanh. Mục tiêu cao nhất và không thay đổi đó là
phát triển trên cơ sở có lợi nhuận cao, bảo toàn và tăng vốn kinh doanh, mang lại lợi
ích cho chủ đầu tư và người lao động trong doanh nghiệp. Đồng thời đóng góp vào sự
phát triển của cộng đồng, của xã hội. Để thực hiện được điều đó thì tối thiểu nhất là
các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải tạo ra được các thu nhập bù
đắp các khoản chi phí bỏ ra, vừa có tích luỹ để tái sản suất mở rộng.Sự phát triển đó
đòi hỏi các doanh nghiệp phải quan tâm đặt biệt đến hiệu quả kinh tế và phải luôn
phấn đấu nâng cao hiệu quả kinh tế của mình. Đây là mục tiêu cơ bản, lâu dài của
doanh nghiệp. Chỉ có nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp mới có
thể tồn tại và phát triển được trong nền kinh tế thị trường.
Trên cơ sở học tập, nghiên cứu về mặt lý thuyết đã được trang bị trong Nhà trường
để vận dụng vào thực tiễn sinh động trong đời sống các doanh nghiệp, em đã chọn đề
tài: “Đánh giá công tác cổ phần hoá và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại
công ty cổ phần Xây lắp và Vật liệu Xây dựng Khánh Hoà”.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đề tài khảo sát, phân tích và đánh giá tình hình hoạt động sản xuất - kinh doanh
của Công ty Cổ phần Xây lắp và Vật liệu Xây dựng Khánh Hoà sau khi cổ phần hoá.
3. Phương pháp nghiên cứu:
- Quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
- Ngoài ra còn có các phương pháp khác như: phân tích tổng hợp, phân tích thống
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
3 PHẦN I TỔNG LUẬN VỀ CỔ PHẦN HOÁ VÀ HIỆU
QUẢ KINH TẾ TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN
XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

trạng tài chính của các DNNN được xác định một cách chính xác, các khoản nợ, đặc
biệt là nợ khó đòi được giải quyết, các loại tài sản được kiểm kê, đánh giá lại theo giá
trị thực tế. Do đó, cổ phần hoá góp phần làm cho các mối quan hệ tài chính của doanh
nghiệp với Nhà nước và với các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài doanh
nghiệp được xác định, giải quyết một cách rõ ràng, tạo điều kiện cho doanh nghiệp
hoạt động lành mạnh sau cổ phần hoá.
Cổ phần hoá DNNN là giải pháp để Nhà nước thay đổi cơ cấu đầu tư theo hướng
thu hồi vốn đầu tư trong những lĩnh vực mà Nhà nước không cần nắm giữ và chuyển
giao cho các thành phần kinh tế khác, tập trung đầu tư vào những lĩnh vực trọng yếu
của nền kinh tế quốc dân. Do đó, cổ phần hoá tạo điều kiện để thành phần kinh tế Nhà
nước thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.
Thông qua cổ phần hoá, các doanh nghiệp thu hút được các nguồn vốn nhàn rỗi
trong nhân dân, các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, thiết lập quan hệ lâu dài
với người lao động, những nhà cung cấp và khách hàng. Trên cơ sở đó, sau cổ phần
hoá các doanh nghiệp sẽ có điều kiện đầu tư nâng cao trình độ công nghệ, mở rộng thị
trường, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
1.2 Các bước tiến hành cổ phần hoá:
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
5
Theo Nghị định 64/2002/ NĐ – CP, ngày 19/6/2002 của Chính phủ, quy trình cổ phần
hoá thông qua các bước như sau:
1.2.1 Thành lập ban đổi mới quản lý doanh nghiệp tại công ty.
Nhiệm vụ của Ban đổi mới quản lý tại doanh nghiệp là:
- Tuyên truyền, giải thích cho người lao động trong doanh nghiệp những chủ
trương, chính sách của Chính phủ để tổ chức thực hiện.
- Chuẩn bị các tư liệu, hồ sơ pháp lý khi thành lập doanh nghiệp.
- Kiểm tra và lập hồ sơ về tình hình công nợ, tài sản, nhà xưởng, vật kiến trúc do
doanh nghiệp đang quản lý.
- Kiểm tra và lập hồ sơ về vật tư, hàng hoá ứ đọng, kém hoặc mất phẩm chất và đề
ra hướng giải quyết.

đền bù, tiền san lấp mặt bằng; các khoản này được tính vào giá trị doanh nghiệp.
- Giá trị tài sản lưu động gồm tiền mặt, vật tư hàng hóa (căn cứ vào kiểm kê thực tế
và giá trị đã được xác đinh lại căn cứ vào thời giá hiện hành), các khoản phải thu, giá
trị các tài sản lưu động khác (thế chấp, ký quỹ, ký cược ngắn hạn) được tính theo công
thức sau: - Giá trị xây dựng cơ bản dở dang (đối với các công trình xây dựng dở dang gắn
liền với các hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp mà công ty cổ phần có
nhu cầu xây dựng tiếp) được xác định như đối với tài sản cố định nêu trên.
- Giá trị vốn góp liên doanh, liên kết (nếu có) được xác định lại bằng số thực có
theo mặt bằng giá trị khi thực hiện cổ phần hoá. Vốn góp liên doanh bao gồm tiền, vật
tư hàng hoá, tài sản cố định, đất đai (giá trị đền bù và san lấp mặt bằng).
- Nguồn vốn hình thành, gồm có vốn chủ sở hữu, nợ phải trả, các khoản lỗ, quỹ
phúc lợi và khen thưởng, vốn nhận liên doanh. Các nguồn vốn và quỹ phải được xác
định rõ phần thuộc sở hữu nhà nước (ngân sách cấp hoặc tự bổ sung), vốn nhận liên
doanh và các phần thuộc sở hữu khác (chi tiết từng loại nguồn). Nợ phải trả bao gồm
nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và nợ khác. Các khoản lỗ bao gồm lỗ năm trước, nợ không
đòi được, những khoản thiệt hại còn lại sau khi được bảo hiểm và người gây thiệt hại
bồi thường, tài sản vật tư mất, thiếu hụt và những khoản lỗ khác. Quỹ phúc lợi và khen
thưởng bao gồm những tài sản được hình thành từ nguồn quỹ phúc lợi và khen thưởng
bằng tiền chưa chia.

Sau khi xác định lại giá trị từng loại tài sản và nguồn hình thành, giá trị doanh
nghiệp được tính theo công thức sau:

TSLĐ
khác
+
Giá tr

doanh
nghiệp sau
kiểm kê,
đánh giá lại
=

Giá tr

TSLĐ
+
+

Giá tr

TSCĐ
_
V
ốn góp

liên
doanh,
liên kết
+
Giá tr

PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
7
- Lợi thế của doanh nghiệp về vị trí địa lý thuận lợi, nhãn mác có uy tín, trình độ
quản lý tốt, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp…được tính vào giá trị doanh nghiệp
khi tiến hành cổ phần hoá. Cách xác định giá trị lợi thế của doanh nghiệp như: lấy tỷ
suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh bình quân trong 3 năm trước khi cổ phần hoá so
với tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh của các doanh nghiệp cùng loại trong ngành
kinh tế kỹ thuật (theo phân loại của Nhà nước); giá trị lợi thế của doanh nghiệp bằng
phần chêch lệch về tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh của doanh nghiệp cổ phần
hoá nhân với giá trị doanh nghiệp sau khi kiểm kê, đánh giá lại. 1.2.3 Xây dựng phương án cổ phần hoá:
Ban đổi mới quản lý tại doanh nghiệp tổ chức kiểm kê tài sản, vật tư, vốn, công nợ
của doanh nghiệp và phân loại thành các nhóm sau:
- Tài sản đang dùng
- Tài sản không cần dùng.
- Tài sản xin thanh lý.
- Tài sản (hiện vật) được hình thành từ quỹ khen thưởng, phúc lợi của doanh
nghiệp.
Căn cứ vào số liệu trên sổ sách kế toán và kết quả kiểm kê, Ban đổi mới quản lý


=

PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
8
- Phổ biến hoặc niêm yết công khai các dự kiến phương án để mọi người lao động
biết và cùng thảo luận.
- Tổ chức đại hội công nhân viên bất thường để lấy ý kiến về dự thảo phương án,
bàn phương hướng, biện pháp cụ thể làm cơ sở hoàn thiện phương án. Tuy nhiên, Ban
đổi mới quản lý có thể tổ chức lấy ý kiến bằng các hình thức khác nếu thấy có hiệu
quả.
- Hoàn thiện phương án trình lên cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, hoàn chỉnh dự
thảo điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần để chuẩn bị trình Đại hội cổ
đông xem xét, quyết định.
1.2.4 Thông báo công khai về việc cổ phần hoá doanh nghiệp:
Ban đổi mới quản lý tại doanh nghiệp thông báo công khai trên các phương tiện
thông tin đại chúng chủ trương bán cổ phần, tổ chức bán cổ phần của doanh nghiệp
cho các cổ đông, mở sổ đăng ký mua cổ phần của các cổ đông, đăng ký mua tờ cổ
phiếu tại Kho bạc Nhà nước và thông báo công khai tình hình tài chính của doanh
nghiệp đến thời điểm cổ phần hoá.
Triệu tập Đại hội cổ đông lần thứ nhất để bầu Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát,
thông qua điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần.
1.2.5 Ra mắt công ty cổ phần:
Với sự chứng kiến của Ban đổi mới quản lý tại doanh nghiệp, đại diện cơ quan
quản lý vốn và tài sản Nhà nước, Giám đốc, kế toán trưởng doanh nghiệp đã cổ phần
hoá bàn giao cho Hội đồng quản trị công ty cổ phần các hồ sơ về lao động, vốn, tài
sản, danh sách hồ sơ cổ đông và các tài liệu sổ sách khác của doanh nghiệp.
Ban đổi mới quản lý tại doanh nghiệp bàn giao những công việc còn lại (nếu có)
cho Hội đồng quản trị và tuyên bố tự giải thể từ ngày ký biên bản bàn giao.
Hội đồng quản trị công ty cổ phần phải hoàn tất những công việc còn lại, bao gồm:

Theo Báo Tài chính tháng 3/2005 thì từ năm 1992 đến nay, cả nước đã cổ phần hoá
được 2242 DNNN. Trong đó, các doanh nghiệp có vốn Nhà nước dưới 5 tỷ đồng là
1.327 doanh nghiệp, chiếm 59,2% tập trung ở các ngành thi công xây lắp, công nghiệp
sản xuất hàng tiêu dùng, thương mại dịch vụ, chế biến nông phẩm do các địa phương
quản lý; các doanh nghiệp có vốn Nhà nước từ 5 – 10 tỷ đồng là 500 doanh nghiệp,
chiếm 22,3%; còn lại, các doanh nghiệp có vốn Nhà nước trên 10 tỷ đồng là 415
doanh nghiệp, chiếm 18,5%.
Cổ phần hoá đã tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, bao gồm Nhà
nước, người lao động trong doanh nghiệp, cổ đông ngoài doanh nghiệp, trong đó
người lao động trong doanh nghiệp trở thành người chủ thực sự phần vốn góp của
mình trong công ty cổ phần. Tính bình quân kết quả cổ phần hoá trong thời gian qua
cho thấy chủ sở hữu Nhà nước nắm giữ 46,5% vốn điều lệ, tương ứng 10.792 tỷ đồng;
người lao động trong doanh nghiệp nắm giữ 38,1% vốn điều lệ, tương ứng 8.847 tỷ
đồng; cổ đông ngoài doanh nghiệp nắm giữ 15,4% vốn điều lệ, tương ứng 3.654 tỷ
đồng.
Cổ phần hoá đã trở thành giải pháp cơ bản và quan trọng nhất trong cơ cấu lại
DNNN để DNNN có cơ cấu thích hợp, quy mô lớn, tập trung vào những ngành, lĩnh
vực then chốt của nền kinh tế. Hoàn thành cổ phần hoá của 2.242 doanh nghiệp như đã
nêu trên, chúng ta không chỉ đơn thuần giảm được số lượng DNNN mà còn để DNNN
có được bước cơ cấu lại quan trọng. Từ chỗ DNNN rất phân tán, dàn trải trong tất cả
các ngành, lĩnh vực, qua cổ phần hóa đã tập trung vào 39 ngành, lĩnh vực then chốt
TÌNH HÌNH CỔ PHẦN HOÁ NƯỚC TA GIAI
ĐOẠN 1992 - 2005

1327

500

415


Vốn Nhà nước

Số DN

PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
10
của nền kinh tế, trong đó nhiều ngành, lĩnh vực DNNN cần chi phối để Nhà nước làm
công cụ điều tiết vĩ mô. Quy mô vốn của DNNN cũng được tăng lên đáng kể. Năm
2001, vốn bình quân của một DNNN khoảng 24 tỷ đồng, nay đã tăng lên đến 63,6 tỷ
đồng. Tài chính doanh nghiệp được lành mạnh hoá hơn một bước thông qua cơ cấu lại
các khoản nợ, xử lý tài sản ứ đọng, tồn kho lâu ngày, thông qua công ty mua bán nợ
của doanh nghiệp.
Cổ phần hoá đã huy động thêm vốn của xã hội đầu tư vào phát triển sản xuất kinh
doanh. Trong quá trình cổ phần hoá DNNN, một mặt vốn Nhà nước tại doanh nghiệp
được đánh giá lại khách quan hơn, tiếp cận hơn với phương thức thị trường, mặt khác
đã huy động được 12.411 tỷ đồng của các cá nhân, tổ chức ngoài xã hội vào doanh
nghiệp để kinh doanh, đầu tư phát triển sản xuất.
Cổ phần hoá góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Do lợi ích được đảm bảo hài hoà, tuyệt đại đa số sau cổ phần hoá các công ty hoạt
động có hiệu quả hơn. Theo báo cáo của các Bộ, ngành, địa phương về hiệu quả sản
xuất kinh doanh của 850 doanh nghiệp hoàn thành cổ phần hoá đã hoạt động trên một
năm cho thấy: Vốn điều lệ bình quân tăng 44%; Doanh thu bình quân tăng 139.76%,
trên 90% số doanh nghiệp sau cổ phần hoá đều hoạt động kinh doanh có lãi. Nộp ngân
sách bình quân tăng 24,9% mặc dù các doanh nghiệp này được hưởng ưu đãi về thuế
thu nhập doanh nghiệp, thuế sử dụng đất…Thu nhập của người lao động bình quân
tăng12%… (Theo Báo Tài chính, Tháng 3/2005).
1.3.2 Những tồn tại yếu kém:
Mặc dù vậy, quá trình cổ phần hoá vẫn còn có những hạn chế:
- Hệ thống các quy định pháp lý cho triển khai cổ phần hoá DNNN còn chưa được
đầy đủ trong khi những vấn đề mới liên tục nảy sinh, đặc biệt là quy trình thống nhất

2.1 Khái niệm và bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp.
2.1.1 Khái niệm:
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Quan điểm 1: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức độ hữu ích của sản phẩm sản
xuất ra, tức là giá trị sử dụng của nó. Quan điểm này lẫn lộn giữa hiệu quả với mục
tiêu kinh doanh.
Quan điểm 2: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là sự tăng trưởng về kinh tế tức là sự
tăng trưởng của các mục tiêu kinh tế, cách tìm hiểu này chỉ là phiến diện, đứng trên
mức độ biến động theo thời gian.
Quan điểm 3: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức tiết kiệm chi phí và mức độ
tăng kết quả.
Quan điểm 4: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là chỉ tiêu được xác định bằng tỷ lệ so
sánh giữa kết quả và chi phí.
Quan điểm 5: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức tăng của kết quả sản xuất kinh
doanh trên mỗi lao động.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
12
Quan điểm 6: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện sự
tập trung phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực
đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh. Nó là thước đo
ngày càng trở nên quan trọng của sự tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh
giá việc thực hiện các mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong từng thời kỳ.
Như vậy, hiệu quả kinh tế đạt được khi kết quả đạt được tăng và chi phí bỏ ra để
đạt được kết quả đó giảm hoặc khi kết quả tăng và chi phí tăng nhưng tốc độ tăng của
chi phí chậm hơn tốc độ tăng của kết quả đạt được.
2.1.2 Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là nâng cao năng suất lao động và tiết
kiệm lao động xã hội. Nó gắn liền với hai quy luật tương ứng của nền sản xuất xã hội
là quy luật tăng năng suất lao động và quy luật tiết kiệm thời gian. Chính vì việc khan

lớn để nâng cao hiệu quả kinh tế và là điều kiện cơ bản để phát huy sức mạnh của tiến
bộ kỹ thuật công nghệ trong sản xuất.
2.2.3 Trình độ khai thác sử dụng các nguồn sản xuất trong doanh nghiệp.
Việc khai thác và sử dụng các nguồn sản xuất một cách đầy đủ triệt để, hợp lý và
tiết kiệm các nguồn chi phí thì doanh nghiệp càng có khả năng tăng hiệu quả kinh tế,
tăng nhanh tích luỹ và cải thiện đời sống. Việc khai thác và sử dụng các nguồn sản
xuất theo hướng này phải chú ý về mặt chủng loại, số lượng.
2.2.4 Trình độ hoàn thiện quản lý trong doanh nghiệp.
Các nhân tố về tiến bộ khoa học kỹ thuật, trình độ tổ chức sản xuất, trình độ khai
thác và sử dụng các nguồn sản xuất có ảnh hưởng quyết định trực tiếp đến từng mặt,
từng lĩnh vực của vấn đề nâng cao hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, những nhân tố này
không phát huy được đầy đủ và có hiệu quả tối đa trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp nếu không có tác động của quản lý. Có thể nói trình độ quản
lý là một nhân tố tổng hợp, có ý nghĩa đến sự sống còn, sự tồn tại và phát triển của
một doanh nghiệp, một ngành và toàn bộ nền kinh tế hay thậm chí cả một xã hội.
Quản lý doanh nghiệp suy cho cùng là quản lý con người một cách sáng tạo để họ
có thể tác động lại các yếu tố về kỹ thuật công nghệ, vật chất, tiền, vốn nhằm mang lại
hiệu quả kinh tế cao sau một quá trình sản xuất kinh doanh. Trình độ quản lý càng cao
thì hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh đạt được càng lớn và ngược lại. 2.3. Các phương pháp đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
2.3.1 Phương pháp so sánh:
Một chỉ tiêu kinh tế đơn thuần vẫn chưa thể hiện đầy đủ mức độ đạt hiệu quả ở một
doanh nghiệp như thế nào. Thông qua phương pháp so sánh ta mới có thể thấy được
mức tăng trưởng, phát triển hay những bước đi thụt lùi đối với các hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Trong phương pháp này ta phải so sánh mức hiệu quả
giữa các năm như thế nào, năm nay có cao hơn năm trước hay không? Trên cơ sở đó
tìm ra những nguyên nhân dẫn đến tình trạng tăng hay giảm của kết quả hoạt động
kinh tế của doanh nghiệp, từ đó có biện pháp phát huy và khắc phục.

Số tương đối động thái là biểu hiện biến động về mức độ của chỉ tiêu kinh tế qua
một thời gian nào đó. Nó được tính bằng cách so sánh mức độ đạt được của chỉ tiêu
kinh tế được biểu hiện bằng số lần hay số phần trăm.
Số tương đối động thái có thể tính theo kỳ gốc, liên hoàn hoặc cố định tuỳ theo
mục đích nghiên cứu và thường dùng dưới hai dạng sau:
+ Cố định kỳ gốc(định gốc) =
(
)
ni
y
y
i
,1
0
=
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
15

+ Thay đổi kỳ gốc(liên hoàn)=

Trong đó: y
0
: giá trị kỳ gốc.
Y
i
: giá trị kỳ cần so sánh.
n : số kỳ cần thống kê, nghiên cứu.

v Số tương đối kết cấu: Phản ánh tỷ trọng của từng bộ phận chiếm trong tổng thể.


i
i
,1
1
=
-
Trị số của từng bộ phậnTrị số của tổng thể
Tỷ trọng của từng bộ
ph
ận so với tổng thể

*100 (%)
=

PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
16
Để phân tích, ta thường dùng các phương pháp hệ số chênh lệch và phương pháp
thay thế liên hoàn.
2.4. Hệ thống đánh giá các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế.
2.4.1 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động trong doanh nghiệp.
Lao động là yếu tố quan trọng nhất trong ba yếu tố: sức lao động, đối tượng lao
động và tư liệu lao động. Nếu không có lao động thì mọi hoạt động sản xuất đều bị
ngưng trệ. Nó có ý nghĩa quyết định đến tình hình thực hiện nhiệm vụ sản xuất của
doanh nghiệp.Yếu tố lao động tác đông đến hai mặt: Số lượng lao động và trình độ lao
động
2.4.1.1 Chỉ tiêu năng suất lao động.
Chỉ tiêu này phản ánh trong một đơn vị thời gian một lao động sản xuất ra được

Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ

Số công nhân bình quân trong kỳ
NSLĐ
bq
=

PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
17
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng chi phí tiền lương sẽ thu được bao nhiêu đồng
doanh thu. Hiệu quả sử dụng chi phí sức lao động càng lớn khi doanh thu càng tăng
hoặc chi phí tiền lương giảm, hay cả doanh thu và chi phí càng tăng nhưng tốc độ tăng
doanh thu nhanh hơn tốc độ tăng chi phí.
2.4.1.3 Chỉ tiêu lợi nhuận bình quân trên một lao động.
Lợi nhuận là biểu hiện bằng tiền của sản phẩm thặng dư do sản xuất kinh doanh
mang lại. Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp biểu hiện về số lượng và chất
lượng của kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận là nguồn quan trọng để
tái sản xuất mở rộng toàn bộ nền kinh tế quốc dân và từng đơn vị kinh doanh. Lợi
nhuận còn là đòn bẩy kinh tế quan trọng có tác dụng khuyến khích người lao động và
các đơn vị ra sức phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Công thức tính lợi nhuận bình quân cho một lao động
2.4.1.4 Mối quan hệ giữa năng suất lao động và tiền lương bình quân của công
nhân (I).
Hiệu quả kinh tế được nâng cao khi tốc độ tăng năng suất lao động bình quân cao

1
W
0

I =
< 1
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
18
Trong đó:
TL
1
:Tiền lương bình quân của một công nhân năm kế hoạch
TL
0
:Tiền lương bình quân của một công nhân năm báo cáo
W
1
: Năng suất lao động bình quân một công nhân năm kế hoạch
W
0
: Năng suất lao động bình quân một công nhân năm báo cáo
2.4.2 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ và VCĐ.
2.4.2.1Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định.
v Hiệu suất sử dụng TSCĐ
Công thức:
Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng NGTSCĐ tham gia vào sản xuất thì tạo ra bao
nhiêu đồng doanh thu. Doanh thu tạo ra trên một đồng nguyên giá bình quân TSCĐ

Nguyên giá TSCĐ bình quân
H
q
TSCĐ
=
Lợi nhuận trong kỳ

Nguyên giá TSCĐ bình quân

PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
19
v Hiệu suất sử dụng VCĐ:
Công thức:

Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng VCĐ tham gia vào quá trình sản xuất kinh
doanh thì tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu. Doanh thu tạo ra càng nhiều chứng tỏ hiệu
quả sử dụng VCĐ càng cao.
v Hiệu quả sử dụng VCĐ:

Công thức:

Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng VCĐ bình quân tham gia vào quá trình sản xuất
thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Lợi nhuận càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng
VCĐ càng cao.


Lợi nhuận trong kỳ

V
ốn cố định b
ình quân trong k


L =
Doanh thu thuần

Vốn lưu động bình quân

PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
20
Chỉ tiêu này cho biết VLĐ quay được bao nhiêu vòng trong kỳ.
2.4.3.2 Số ngày của một vòng luân chuyển VLĐ (K).
Công thức:

Chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết để hoàn thành một vòng luân chuyển VLĐ.
4.3.3 Hệ số đảm nhiệm VLĐ (H).
Công thức:
Chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết để tạo ra một đồng doanh thu thuần thì bình
quân cần bao nhiêu đồng VLĐ.

Doanh thu thuần
H
q
=
Lợi nhuận thực hiện trong kỳ

Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Tỷ suất lợi nhuận
trên chi phí
Lợi nhuận thực hiện trong kỳTổng chi phí
=
Doanh lợi tổng vốn =
Lợi nhuận thực hiện

Vốn kinh doanh bình quân
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
21

Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng vốn bỏ vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong
kỳ thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh
nghiệp càng làm ăn có hiệu quả.
2.4.4.3 Doanh lợi vốn chủ sở hữu:
Công thức:
Chỉ tiêu này cho biết bình quân một đồng vốn chủ sở hữu sử dụng trong kỳ mang


Lợi nhuận thực hiện

Vốn chủ sở hữu bình quân

Doanh lợi doanh thu =

Lợi nhuận thực hiện

Doanh thu trong kỳ
R
hh
=

Tổng tài sản

Nợ ngắn hạn
R
NH
=
TSLĐ & ĐTNH

Nợ ngắn hạn
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
22
Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp có thể sử dụng toàn bộ TSLĐ và các khoản đầu
tư tài chính ngắn hạn để trang trải các khoản nợ ngắn hạn như thế nào.
2.4.5.3 Tỷ số thanh toán nhanh (R
q
).

Tỷ số này cho biết trong toàn bộ nguồn vốn mà doanh nghiệp huy động trong kỳ
có bao nhiêu phần trăm là nợ phải trả. Nếu qua phân tích tỷ số này có xu hướng gia
tăng thì đây là dấu hiệu cho thấy tính tự chủ về tài chính của doanh nghiệp đang giảm
dần.
2.4.5.7 Vòng quay tổng vốn.
R
q
=
Tiền & các khoản quy đổi nhanh thành tiềnNợ ngắn hạn
R
t
=
Vốn bằng tiền

Các khoản nợ ngắn hạn
R
lv
=

Lợi nhuận trước thuế và lãi vayLãi vay phải trả
Tỷ số nợ =

Nợ phải trả


Một doanh nghiệp kinh doanh có lãi, có khả năng trang trải các khoản nợ thì đương
nhiên doanh nghiệp đã bảo toàn được vốn. Đánh giá khả năng phát triển vốn là xem
xét bổ sung vốn hàng năm từ nguồn lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp.
Để đánh giá khả năng tự bảo hiểm cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ta
phải xem xét các vấn đề sau:
- Thiết lập các quỹ dự phòng.
- Mục đích lập các khoản dự phòng là bù đắp các khoản do giảm giá hàng tồn kho,
giảm giá đầu tư ngắn hạn và dài hạn dự phòng các khoản nợ khó đòi.
Vòng quay tổng vốn =

Doanh thu

Tổng tài sản bình quân

Vòng quay hàng tồn kho =
Giá vốn hàng bán

Hàng tồn kho bình quân
Vòng quay các khoản phải thu =
Doanh thu & thu nhập khác

Các khoản phải thu bình quân
Kỳ thu tiền bình quân (ACF) =
360

Vòng quay các khoản phải thu
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
24
- Quỹ đầu tư và phát triển.
Đối với một doanh nghiệp thì mục tiêu tối thiểu nhất là hoạt động sản xuất kinh

PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
25

PHẦN II

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CỔ PHẦN HOÁ
VÀ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP VÀ VẬT
LIỆU XÂY DỰNG KHÁNH HOÀ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status