Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học nông nghiệp hà nội
PHM TH HNG
THNH PHN SU HI TRấN C TM (C TM, C
PHO) V THIấN CH CA CHNG; C IM
HèNH THI, SINH HC, SINH THI CA LOI SU
C QU (Leucinodes orbonalis Guenộe) V XUN Hẩ
2010 TI Mấ LINH, H NI
luận văn thạc sĩ nông nghiệp Chuyên ngành : Bảo vệ thực vật
Mã số : 60.62.10
Ngời hớng dẫn khoa học : PGS.TS. NG TH DUNG Hà Nội, 2010
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
i
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường, Viện ðào tạo
sau ñại học, Khoa Nông học, Thư viện trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội
ñã giúp ñỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu học tập tại trường.
Tôi xin cảm ơn sự quan tâm giúp ñỡ tận tình, tạo mọi ñiều kiện thuận
lợi của các thầy cô và cán bộ của Bộ môn Côn trùng, Khoa Nông học, Ban
chủ nhiệm khoa, cán bộ Viện ðào tạo sau ñại học trường ðại học Nông
nghiệp Hà Nội.
Cuối cùng tôi xin dành sự tri ân của mình tới gia ñình, người thân và
bạn bè luôn bên cạnh ñộng viên cổ vũ tôi.
Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2010
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
iii
MỤC LỤC
PHẦN 1. MỞ ðẦU 1
1.1. ðẶT VẤN ðỀ 1
1.2. MỤC ðÍCH NGHIÊN CỨU 2
1.3. YÊU CẦU NGHIÊN CỨU 2
1.3.1. ðiều tra thành phần sâu hại và thiên ñịch trên cây họ cà (cà pháo, cà
tím) vụ xuân 2010 tại Mê Linh, Hà Nội 2
1.3.2. ðiều tra diễn biến mật ñộ sâu hại chính trên cà dưới ảnh hưởng của một
số yếu tố sinh thái (giống, thời vụ) 2
1.3.3. Nghiên cứu một số ñặc ñiểm hình thái, sinh học, sinh thái của loài sâu
ñục quả cà (Leucinodes orbonalis Guenée) 2
1.3.4. Khảo sát hiệu lực của một số loại thuốc ñối với sâu ñục quả cà 2
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
2.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI 3
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
4.1. THÀNH PHẦN SÂU HẠI VÀ THIÊN ðỊCH BẮT MỒI TRÊN CÀ VỤ
XUÂN-HÈ 2010 TẠI MÊ LINH, HÀ NỘI 24
4.1.1. Tình hình sản xuất cà pháo, cà tím tại Mê Linh, Hà Nội 24
4.1.2. Thành phần sâu hại trên cà pháo, cà tím vụ xuân-hè 2010 tại Mê Linh,
Hà Nội 25
4.1.3. Thành phần thiên ñịch trên cây cà pháo, cà tím 27
4.2. DIỄN BIẾN MẬT ðỘ CỦA MỘT SỐ LOẠI SÂU CHÍNH HẠI CÀ VỤ
XUÂN-HÈ 2010 TẠI MÊ LINH, HÀ NỘI 29
4.2.1. Diễn biến tỉ lệ hại của sâu ñục quả cà L.orbonalis vụ xuân–hè 2010 tại
Mê Linh, Hà Nội 29
4.2.2. Diễn biến tỉ lệ hại của sâu xanh Helicoverpa armigera Hubner trong
vụ xuân hè 2010 tại Mê Linh, Hà Nội 31
4.2.3. Diễn biến mật ñộ của sâu sâu khoang Spodoptera litura Fabr. hại cà vụ
xuân hè 2010 tại Mê Linh, Hà Nội 34
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
v
4.2.4. Diễn biến mật ñộ của bọ trĩ Thrips palmi Karny hại cà pháo, cà tím vụ
xuân hè 2010 tại Mê Linh, Hà Nội 36
4.3. ðẶC ðIỂM HÌNH THÁI VÀ SINH HỌC CỦA SÂU ðỤC QUẢ CÀ . 37
4.3.1. ðặc ñiểm hình thái sâu ñục quả cà 37
4.3.2. Một số ñặc ñiểm sinh vật học của sâu ñục quả cà L. orbonalis Guenée 40
4.4. KHẢO SÁT HIỆU LỰC CỦA MỘT SỐ THUỐC BVTV TRỪ SÂU ðỤC
QUẢ CÀ L. orbonalis Guenée 51
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ 54
5.1. KẾT LUẬN 54
5.2. ðỀ NGHỊ 55
Bảng 15. Hiệu lực của thuốc trừ sâu ñối với sâu ñục quả cà L. orbonalis Guenée 52
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
vii
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1. Diễn biến tỉ lệ hại do sâu ñục quả cà L. orbonalis qua các giai ñoạn
sinh trưởng, phát triển của cây cà vụ xuân hè 2010 tại Mê Linh, Hà Nội 30
Hình 2. Diễn biến tỉ lệ hại của sâu xanh H. armigera Hubner trong vụ xuân
hè 2010 tại Mê Linh, Hà Nội 33
Hình 3. Diễn biến mật ñộ của sâu sâu khoang Spodoptera litura Fabr hại cà
vụ xuân hè 2010 tại Mê Linh, Hà Nội 35
Hình 4. Diễn biến mật ñộ của bọ trĩ Thrips palmi Karny hại cà pháo, cà tím vụ
xuân hè 2010 tại Mê Linh, Hà Nội 37
Hình 5. Trưởng thành 39
Hình 6. Trứng 39
Hình 7. Sâu non tuổi 5 39
Hình 8. Nhộng 39
Hình 9. Nhịp ñiệu ñẻ trứng của sâu ñục quả L.orbonalis khi nuôi sâu non trên
quả cà pháo 47
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
1
PHẦN 1:
Cùng với những tiến bộ về giống, kỹ thuật trồng, là sự phát triển của
dịch hại. ðể ñảm bảo năng suất, nông dân thường sử dụng biện pháp hoá học
vì hiệu quả nhanh, ñơn giản, thông dụng… Tuy nhiên, việc lạm dụng thuốc
bảo vệ thực vật phòng chống sâu bệnh ñã làm ô nhiễm môi trường, dư lượng
thuốc bảo vệ thực vật tồn ñọng trong nông sản quá mức làm giảm chất lượng
hàng hoá và ảnh hưởng rất lớn ñến sức khỏe của con người ñặc biệt là khi
dùng cà muối - một món ăn rất ñược ưa thích của người dân. Do ñó, vấn ñề
sản xuất cà an toàn là rất cần thiết.
ðể góp phần chủ ñộng phòng chống sâu hại cà chúng tôi tiến hành
nghiên cứu ñề tài:
“Thành phần sâu hại trên cà (cà tím, cà pháo) và thiên ñịch của
chúng; ñặc ñiểm hình thái, sinh học, sinh thái của loài sâu ñục quả
(Leucinodes orbonalis Guenée) vụ xuân hè 2010 tại Mê Linh, Hà Nội”
1.2. MỤC ðÍCH NGHIÊN CỨU
Xác ñịnh ñược thành phần sâu hại cà và thiên ñịch của chúng; Tình
hình gây hại của những loài sâu hại chính; ðặc ñiểm sinh học, sinh thái của
loài sâu ñục quả, nhằm cung cấp nguồn thông tin cho khoa học và làm cơ sở
ñể ñề xuất biện pháp phòng chống một cách hợp lý, ñem lại hiệu quả sản xuất,
bảo vệ môi trường và sức khỏe con người.
1.3. YÊU CẦU NGHIÊN CỨU
1.3.1. ðiều tra thành phần sâu hại và thiên ñịch trên cây họ cà (cà pháo, cà
tím) vụ xuân 2010 tại Mê Linh, Hà Nội.
1.3.2. ðiều tra diễn biến mật ñộ sâu hại chính trên cà dưới ảnh hưởng của một
số yếu tố sinh thái (giống, thời vụ)
1.3.3. Nghiên cứu một số ñặc ñiểm hình thái, sinh học, sinh thái của loài sâu
ñục quả cà (Leucinodes orbonalis Guenée)
1.3.4. Khảo sát hiệu lực của một số loại thuốc ñối với sâu ñục quả cà
giống cà tím. Cà tím ñược gọi là "eggplant" tại Hoa Kỳ, Australia và Canada. Tên
gọi này có từ một thực tế là quả của một số giống ban ñầu có màu trắng và trông
giống như quả trứng gà. Do quan hệ họ hàng gần của nó với cà ñộc dược, nên ñã
có thời người ta tin rằng nó là một loại cây có ñộc tính.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
4
Cây cà tím thường ñược phân loại theo hình dạng của quả. Có 5 nhóm
cơ bản: Dạng hình cầu, dạng thon dài, dạng hình trụ, dạng ñặc biệt và dạng
hình hạt ñậu Hà Lan. Mỗi loại có màu sắc, kích cỡ từ khi trồng ñến thu hoạch
là khác nhau. Ở Mỹ, người ta thường trồng loại quả to, màu tía ñậm và hình
giống trái lê. Loại hình này rất phổ biến ở ñây và thường ñược sử dụng ñể làm
các món nhồi, nướng và áp chảo. Các giống ñặc trưng ở Nhật thì lại là loại
hình quả nhỏ với những quả hình trụ, vỏ ñẹp, mỏng, màu tía ñậm hoặc là màu
tím, có pha thêm màu trắng hoặc màu xanh. Ở Nhật người ta cũng thường chế
biến thành các món rán, nướng, áp chảo và giầm dấm Một loại hình quả
nhỏ nhất ñó là cà dạng hạt ñậu Hà Lan, kích cỡ của nó như một hòn bi, phải
thu hoạch khi có màu xanh sáng và vẫn còn giòn. ðây là loại không phổ biến
ở Bắc Mỹ vì nó hơi ñắng. Nó ñược phổ biến ở Nam Á, Ấn ðộ và Trung
Quốc. ðiều ñặc biệt thú vị là người ta dùng tươi, dưới dạng muối (Eggplant,
2008) [39].
Theo USDA, sản xuất cà tím có tính tập trung cao, với 93% sản phẩm ñến
từ 7 quốc gia. Trung Quốc là nước sản xuất lớn nhất (55% tổng sản phẩm của
thế giới) và Ấn ðộ ñứng thứ 2 với 28%; tiếp ñến là Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật
Bản là một trong mười quốc gia sản xuất nhiều cà tím nhất trên thế giới. Mỹ là
nước có diện tích trồng cà tím ñứng thứ 20 trên thế giới. Số lượng vùng trồng
hơn 4.000.000 (16.000km
2
Cà pháo Solanum macrocarpon, về phân loại thực vật học của cây này
hiện chưa có sự thống nhất cao trong các tài liệu nhưng hầu hết ñều xếp nó là
một biến chủng của loài cà tím, một số lại xếp nó thành một loài riêng.
Theo Grubben (2004) [38] cây cà pháo Solanum macrocarpon là một
cây có nguồn gốc nhiệt ñới ñược trồng rộng rãi như một loại rau ñược ưa
thích ở nhiều nước. Chi Solanum gồm trên 1000 loài phân bố trên thế giới. Ở
châu Phi và các ñảo lân cận có ít nhất 100 loài bản ñịa, và khoảng 20 trong số
ñó mới ñược giới thiệu. S. macrocarpon là một loài có nguồn gốc từ châu Phi.
Hình thức dại, có gai ñược tìm thấy ở hầu hết các vùng nhiệt ñới ở châu Phi.
Các giống ñịa phương ñược trồng cho lá thường ñược thấy ở Tây và Trung
Phi, trong khi ñó trồng cho lấy quả ñược giới hạn ở các vùng ven biển ẩm ướt
của Tây Phi. Tùy theo mục ñích mà người ta có thể trồng lấy lá hoặc quả ñể
sử dụng. Ở Tây Phi nó ñược coi là một loại rau ăn lá và quả quan trọng cung
cấp cho thị trường và trong các vườn gia ñình.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
6
2.1.2. Tình hình sâu hại cà
Cũng như các cây trồng khác người nông dân khi trồng cà phải ñối phó
với một loạt các vấn ñề về sâu bệnh và các biện pháp chăm sóc ñể tạo ra một
quần thể cây khỏe. Theo chương trình IPM trên cây cà tím của trung tâm châu
Á (SUSVEG) [53], cà tím bị ảnh hưởng bởi bọ phấn (Bemisia tabaci),
Myllcerus discolour , nhện ñỏ (Tetranychus curcurbitae) và một số bệnh ở
trên lá, bệnh trong ñất như héo xanh vi khuẩn. Ở một số vùng của Guijarat,
dịch hại nghiêm trọng nhất của cà tím chính là sâu ñục chồi, quả Leucinodes
orbonalis, một loài sâu bộ cánh vảy mà sâu non của chúng ñược bảo vệ rất tốt
khỏi tác ñộng của thuốc trừ sâu và kẻ thù tự nhiên khi một khi chúng ñã chui
dàng nhìn thấy chồi non bị héo, có thể quan sát thấy lỗ thủng nhỏ màu sẫm
ñược bao quanh bởi vùng màu nâu trên bề mặt quả và cuống quả. Phía trong
quả rỗng và ñầy phân sâu, quả không có giá trị thương phẩm.
- Bọ rùa ăn lá Epilachna vigintioctopunctatta F. (28 chấm), Epilachna
duodecastigma Mulsant (12 chấm), hầu hết bọ rùa là con ăn thịt các côn trùng
khác (côn trùng có ích). Tuy nhiên hai loài bọ rùa ở ñây là trường hợp ngoại
lệ. Mô lá bị chúng ăn hại giữa các gân. Lá có thể bị ăn trơ trụi chỉ còn gân
chính và những vệt nhỏ bị hại hay có thể phát hiện những lỗ nông trên bề mặt
quả. Khi bị ñộng bọ rùa thường lủi xuống ñất hoặc bay ñi. Sâu non thường ở
nguyên tại chỗ. Do bọ rùa có màu vàng nên rất dễ phát hiện chúng. Kích
thước của chúng rất khác nhau. Trứng màu vàng và thường ñược ñẻ ở mặt
dưới lá và trông như những thùng nhỏ xếp gần nhau. Có thể phát hiện sâu trên
lá ở tất cả các giai ñoạn phát triển.
- Bọ trĩ Thrips palmi Karny: Chúng gây tổn thương rõ nhất ở mặt dưới
lá của những lá tầng dưới, vùng bị hại ngả màu nâu và khô. Trường hợp bị hại
nặng cả lá bị khô. Thiệt hại tương tự có thể quan sát ñược ở dọc gân giữa ở
mặt trên lá. Lật ngược lá và quan sát ở những vùng không bị hại bao quanh
những vùng màu nâu hoặc có mô lá bị hại. Nếu quan sát kĩ có thể nhận thấy
những con bọ trĩ rất nhỏ ñang chuyển ñộng.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
8
- Rầy hại lá Amrasca biguttla (Ishida), Amrasca devastans (Distant),
Hishimonus phiatis (Distant): Lá bị hại quăn ngược dọc theo mép lá. Vùng
mép ngoài của lá chuyển màu vàng hoặc cháy. Lá rất nhỏ và có các vết khảm
vàng, khả năng ñậu quả thấp. Có thể dễ dàng phát hiện thấy rầy trưởng thành
và rầy non ở mặt dưới lá. Rầy sinh sản nhiều lứa trong năm trong ñiều kiện
khí hậu ấm áp. Cây bị hại nặng có thể làm giảm năng suất quả và tổn thất
Sâu ñục quả Leucinodes orbonalis Guenée phá hại trên cà tím và các
cây khác thuộc họ cà như : Khoai tây Solanum tuberosum, Solanum torvum,
cà pháo Solanum macrocarpon, và cây lu lu ñực Solanum nigrum. Thỉnh
thoảng có thể xuất hiện trên Solanum gilo, Solanum aculeatissimum, và cà
chua Lycopersicon esculentum. Một số cây kí chủ khác không phải là thức ăn
tự nhiên của loài sâu này có thể kể như ớt ngọt Capsicum anuum, Punica
granatum và loài bầu .
Sâu ñục quả khi xuất hiện ñã gây ra các tác hại kinh tế nghiêm trọng
cho người nông dân. Khi sâu non ñục vào ngọn gây ra héo ngọn làm cây bị suy
yếu và năng suất giảm. Khi chúng ñục vào quả, chúng sẽ ăn phần thịt quả làm
rỗng quả ở bên trong làm mất giá trị thương phẩm của quả. Mặt khác ñây cũng là
ñiều kiện ñể cho nấm bệnh tấn công quả, làm quả không ăn ñược và thối.
Theo của S. Kr. Ghosh and S.K. Senapati (2009) [52] thì sự phát sinh,
phát triển phá hại của sâu ñục quả có mối tương quan rất chặt chẽ ñến nhiệt
ñộ, ẩm ñộ và lượng mưa. Chúng hoạt ñộng mạnh nhất vào mùa hè và mùa
mưa, phổ biến là từ tháng 5 cho ñến tháng 8. Tại khoảng thời gian này chúng
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
10
có thể gây hại cho quả từ 49,5–81%, trong ñó tỉ lệ quả bị phá hại cao nhất là
vào ñầu tháng 6 khi nhiệt ñộ và ñộ ẩm trung bình, lượng mưa tương ứng là
27,8
o
C, 79,2% và 81,2mm. Loài sâu này ít hoạt ñộng trong những tháng mùa
ñông (thường từ tháng 12 ñến tháng 1). Theo thống kê của EPPO năm 2008
[35] thì tại châu Á tỉ lệ quả bị phá hại bởi loài Leucinodes orbonalis Guenée
là khoảng 65%. Cũng theo A. Korycinska và R. Canon (2010) [23] thì sâu ñục
quả Leucinodes orbonalis Guenée ñể sinh trưởng và phát triển ñược phải yêu cầu
khi sử dụng thuốc trừ sâu ñể phòng trừ thì dẫn ñến rất nhiều hiệu quả tiêu cực
ñó là gây ảnh hưởng xấu ñến môi trường, chi phí sản xuất lớn, gây ảnh hưởng
ñến thiên ñịch và dư lượng thuốc trừ sâu tồn ñọng trong sản phẩm thu hoạch
rất lớn gây nguy hiểm cho con người và ñộng vật. Chính vì vậy biện pháp
IPM vẫn là biện pháp lâu dài và hiệu quả. Nó bao gồm các biện pháp tổng
hợp: biện pháp canh tác, sử dụng giống chống chịu, biện pháp cơ giới vật lý,
biện pháp sinh học và biện pháp hóa học.
Theo chương trình IPM trên cây cà tím của trung tâm châu Á
(SUSVEG) [53] thì biện pháp canh tác là biện pháp ñược yêu cầu ñầu tiên cho
các vùng trồng cà. Phải thu dọn sạch tàn dư cây trồng, tiêu hủy hoặc ñốt vì nó
có thể chứa nhộng, hoặc sâu non mới nở sau khi thu hoạch, ñồng thời cày bừa
kỹ ñể diệt nhộng. Mặt khác vườn ươm cây phải ñặt cách xa nơi trồng thương
phẩm (có chứa tàn dư cây trồng). Phải sử dụng biện pháp luân canh, không
ñược trồng liên tục cà trên một mảnh ñất nhiều vụ hoặc luân canh với cây kí
chủ khác, tốt nhất là luân canh với cây trồng nước.
Về biện pháp sử dụng thiên ñịch, do giai ñoạn sâu non ñược bảo vệ bên
trong thân hoặc quả nên các con côn trùng bắt mồi rất khó tấn công chúng.
Chỉ có ong kí sinh Trathala flavo-orbitalis có ống ñẻ trứng dài và khỏe ñủ ñể
chạm tới sâu non và ñẻ trứng lên chúng. Dự án nghiên cứu tại BARI cho thấy
rằng T. flavo-orbitalis có thể có hiệu quả tốt ñến việc phòng trừ sâu non của
sâu ñục quả cà, nhưng phải ñảm bảo nông dân phải sử dụng rất ít thuốc sâu vì
nó rất nhạy cảm với thuốc trừ sâu.
Một biện pháp hiện nay ñang ñược rất nhiều tác giả quan tâm ñó là sử
dụng bẫy pheromone ñể tiêu diệt con trưởng thành ñực. Bả pheromone gồm 2
hoạt chất ñó là (E)–11–hexadecenyl acetate (E11-16: AC) và (E)-11-
hexadecen-1-ol (E11-16:OH), trong ñó chất E11-16: AC là chất chính. Hàm
lượng E11-16: AC chiết suất ra từ một con cái khoảng từ 18,9–46,4ng (trung
bình khoảng 33ng) . Sau khi nghiên cứu tại Ấn ðộ và Bangladesh, người ta
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
12
Họ Cà ở Việt Nam có 15 chi, với 57 loài, phân bố rộng khắp từ Bắc vào
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
13
Nam. Họ Cà ở Việt Nam có nhiều giá trị thực tiễn như: làm thuốc, làm rau ăn
và làm cảnh. Nhiều loài vừa có giá trị làm thuốc lại vừa có cả giá trị làm rau
ăn hay làm cây cảnh. Trong các loài có giá trị làm thuốc thì không ít loài có
chứa alcaloit, nên việc sử dụng chúng cần hết sức lưu ý. Bởi alcaloit trong họ
Cà là những hợp chất vừa có tác dụng làm thuốc ñồng thời vừa có khả năng
gây ngộ ñộc. các loài ñược sử dụng làm rau ăn cũng có giá trị kinh tế không
nhỏ, trong ñó phải kể ñến một số loài ñem lại những lợi ích rất to lớn cho con
người: khoai tây, cà chua, tiếp ñến có thể kể là cà tím. Tuy nhiên, một số loài
trong thành phần có chứa một hàm lượng alcaloit nhất ñịnh, nên việc sử dụng
chúng làm rau ăn cần hết sức thận trọng (Nguyễn Tiến Bân, 1997) [12].
Họ cà là cây thân cỏ 1 năm, cao tới 1m, có lông hình sao mịn. Thân và
cành ít có lông măng, thỉnh thoảng có gai cong chắc. Lá hình trứng hoặc bầu
dục, cỡ 6–18 x 5–11cm, chóp nhọn hoặc tù, gốc không ñều, mép có thuỳ lượn
sóng, có lông măng hình sao hoặc thỉnh thoảngcó ít gai mảnh trên cả hai mặt,
ở mặt dưới dày hơn; cuống lá dài 2-4,5cm. Cụm hoa dạng xim bọ cạp (có hoa
ñỉnh lưỡng tính, các hoa còn lại thường là hoa ñực) hay hoa (mọc) ñơn ñộc, ở
ngoài nách lá; cuống hoa dài 1-1,8cm. ðài có lông hình sao, thường có gai dài
tới 3mm ở mặt ngoài; thuỳ dài hình mũi mác. Tràng màu tía hoặc tím, dai 3-
5cm; thuỳ tràng hình tam giác, dài 1cm. Chỉ nhị dài 2,5mm; bao phấn dài
7,5mm. Bầu nhẵn; vòi nhuỵ dài 4–7mm, nhẵn hoặc có lông; núm nhuỵ
thường 2-3 thuỳ. Quả mọng ñen, tía, hồng, nâu, vàng hoặc vàng nhạt khi chín
hoàn toàn, có nhiều hình dạng và kích thước khác nhau, phần lớn ñường kính
> 6cm; vỏ quả giữa và vùng vách hơi trắng, xốp dày. Hạt màu vàng nhạt,
dạng thấu kính lồi, cỡ 3-4 x 2,5-3,5mm.
ñược trồng nhiều ở Cát Tiên-Lâm ðồng. Nó ñang là một trong những cây
ñem lại thu nhập cao ở vùng lũ Cát Tiên.
- Các giống lai: Hai Mũi Tên ñỏ, Kiều Nương, Triệu Quân, cho năng
suất rất cao.
Cà tím có thể trồng ñược nhiều vụ trong năm nhưng cho năng suất cao
và hiệu quả nhất là trồng tháng 1, 2 thu hoạch tháng 4-6 (Nguyễn Văn Tuất và
cộng sự, 2005) [13].
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
15
Cà tím ñược sử dụng trong ẩm thực của nhiều quốc gia, từ Nhật Bản tới
Tây Ban Nha. Nó thường ñược chế biến dưới dạng thức ăn hầm, chẳng hạn
như trong món ratatouille của người Pháp, hay món moussaka ở ðông Nam
châu Âu, và nhiều món ăn khác nữa trong khu vực Nam Á và ðông Nam Á.
Nó cũng ñược ñem nướng nguyên vỏ cho ñến khi lớp vỏ hóa than, sau ñó lấy
ra lớp cùi thịt và phục vụ lạnh bằng cách trộn lẫn với các thành phần khác,
chẳng hạn như trong món baba ghanouj của khu vực Trung ðông hay món
melitzanosalata tương tự như vậy của người Hy Lạp. Ngoài ra theo kinh
nghiệm của nhân dân ta nó còn ñược sử dụng ñể làm thuốc lợi tiểu thông
mạch, ñề phòng chứng vữa ñộng mạch
Là một loài thực vật bản ñịa, nên cà tím ñược sử dụng rộng rãi trong ẩm thực
ở miền Nam Ấn ðộ, chẳng hạn các món sambhar, tương ớt, cà ri hay kootus. Do
bản chất ña năng và sử dụng rộng rãi, cả hàng ngày lẫn khi có lễ hội trong ẩm thực
Nam Ấn, nên cà tím cũng hay ñược coi là “vua rau cỏ” tại khu vực này.
Cà tím bỏ vỏ ñem nướng và trộn lẫn với hành, cà chua cùng một số gia vị
ñể tạo hương vị tạo thành món Baingan ka bharta (hay vangyacha bharta tại
Marathi) trong ẩm thực Ấn ðộ.
Ở Việt Nam, cà tím thường ñược nấu cùng tía tô và có trong các món ăn
Phúc, Bắc Giang … và cho hiệu quả kinh tế cao, xóa ñói giảm nghèo cho
nhiều gia ñình. Một số vùng trồng cà pháo ngon có tiếng là huyện Nghi Lộc
(Nghệ An), Láng (Hà Nội), Cái Sắn (huyện Tân Hiệp, Kiên Giang), huyện
Lục Yên (Yên Bái)
Cà pháo có thể ñược trồng ở ñộ cao ñến 600 m. Ở Việt Nam, nó có thể
trồng làm hai vụ: vụ sớm gieo hạt vào tháng 7-tháng 8, thu hoạch vào tháng
11-12; vụ chính gieo hạt vào tháng 11-tháng 12, thu hoạch quả vào tháng 3-
tháng 6, ngoài ra có thể trồng vào vụ muộn gieo tháng 1-tháng 2.
2.2.2. Tình hình sâu hại cà và biện pháp phòng trừ
Mặc dù cà pháo, cà tím ñược trồng rất phổ biến ở nước ta từ lâu những
nghiên cứu về sâu bệnh còn rất hạn chế. ða số các tài liệu trước ñây ñều cho
rằng sâu hại trên cây cà tương tự như cây cà chua gồm: Sâu xám, sâu xanh
ñục quả Helicoverpa armigera H., bọ trĩ Thrips tabaci, rầy xanh, bọ phấn
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
17
Bemisia tabaci, rệp … [6, 9, 13]. ðồng thời biện pháp phòng trừ cũng rất
chung chung và thường ñồng nhất với cây cà chua.
Theo Phạm Văn Biên và cộng sự (2004) [17] , trên cây cà tím bao gồm
các loại sâu hại: Bộ cánh cứng (Bọ dừa nâu Adoretus sinicus, Bọ rùa 28 chấm
Epilachna vigintioctopunctatta, ba ba xanh Taiwannia circumdata), Bộ hai
cánh (ruồi ñục lá Lyriomyza sp.), Bộ nửa cánh (bọ xít gai gồ ghề Megymenum
brevicornis), Bộ cánh ñều (Bọ phấn Bemisia myricae, rầy xanh hai chấm
Empoasca biguttula, rầy xanh ñuôi ñen hai chấm nhỏ Nephotettix virescens,
rầy trắng lớn Tettigoniella spectra), Bộ cánh vảy (Sâu xám Agrotis ypsilon,
sâu ñục quả Leucinodes orbonalis), Bộ cánh thẳng (cào cào lớn Acrida
chinensis, cào cào nhỏ Atratomorpha chinensis, dế dũi Gryllotalpa orientalis,
châu chấu sống lưng vàng Patanga succincta), Bộ cánh tơ (bọ trĩ Thrips sp.),