i
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. M
ục tiêu nghiên cứu 3
3. Ph
ương pháp nghiên cứu 3
3.1. Câu h
ỏi nghiên cứu 3
3.2. Khách th
ể và đối tượng nghiên cứu 4
3.3. Ph
ương pháp nghiên cứu 4
3.4. Ph
ạm vi và thời gian nghiên cứu 5
4. C
ấu trúc của luận văn 5
PHẦN NỘI DUNG 7
CH
ƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN 7
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài 7
1.2. T
ổng quan về các nghiên cứu liên quan đến đề tài 13
1.3. Khung lý thuy
ết của đề tài 20
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1. Xây dựng công cụ đo lường 24
2.2. T
ổng thể và mẫu nghiên cứu 25
2.3. Ki
B
ảng 2.5: Tương quan điểm giữa các tiểu thang đo mức độ đáp ứng về thái độ
c
ủa phiếu khảo sát nhà tuyển dụng 34
B
ảng 2.6: Tương quan điểm giữa các tiểu thang đo mức độ đáp ứng về kiến
th
ức của phiếu khảo sát sinh viên 34
B
ảng 2.7: Tương quan điểm giữa các tiểu thang đo mức độ đáp ứng về kỹ
n
ăng của phiếu khảo sát sinh viên 35
B
ảng 2.8: Tương quan điểm giữa các tiểu thang đo mức độ đáp ứng về thái độ
c
ủa phiếu khảo sát sinh viên 35
B
ảng 3.1: Vị trí việc làm sau khi được tuyển dụng 38
B
ảng 3.2: Phép thử Chi-Square về mối quan hệ giữa loại hình doanh nghiệp
và v
ị trí việc làm 40
B
ảng 3.3: Phép thử Chi-Square về mối quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp và
v
ị trí việc làm 41
B
ảng 3.4: Tổ chức đào tạo sinh viên mới tốt nghiệp 42
B
ảng 3.5: Phép thử Chi-Square về mối quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp và
ới công việc 58
v
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Tam giác đào tạo nhân lực "trường - sinh viên - doanh nghiệp" 21
Hình 1.2:
Tam giác năng lực sinh viên cần có để làm việc cho các doanh nghiệp .21
Hình 1.3:
Trường đào tạo năng lực cho sinh viên phù hợp yêu cầu doanh nghiệp .22
Hình 2.1: S
ố lượng doanh nghiệp được khảo sát 26
Hình 3.1: V
ị trí việc làm sau khi được tuyển dụng 38
Hình 3.2: T
ổ chức đào tạo sinh viên mới tốt nghiệp 42
Hình 3.3: T
ương quan giữa quy mô doanh nghiệp và đào tạo bổ sung 44
Hình 3.4: Th
ời gian đào tạo sinh viên mới tốt nghiệp sau khi tuyển dụng 45
Hình 3.5: N
ội dung đào tạo sinh viên mới tốt nghiệp sau khi tuyển dụng 47
Hình 3.6:
Đánh giá mức độ đáp ứng đối với công việc của sinh viên mới tốt
nghi
ệp 52
Hình 3.7: Th
ời gian tìm việc làm của sinh viên mới tốt nghiệp 56
Hình 3.8: T
ương quan giữa quy mô doanh nghiệp và mức độ đáp ứng đối với
công vi
ệc 59
t
ốc độ tăng trưởng khoảng 10%, trong khi đó nhu cầu nhân lực ngành công
ngh
ệ thông tin hiện tại là 30.000 người (Trần Anh Tuấn, 2010). Do đó, các
doanh nghi
ệp công nghệ thông tin đang thiếu lao động một cách trầm trọng.
Quy
ết định 1755/QĐ-TTg, ngày 22/09/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê
duy
ệt đề án “Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công nghệ thông tin
và truy
ền thông” đã chỉ ra rằng công nghệ thông tin là một ngành mũi nhọn
c
ủa quốc gia, ngành có khả năng đem lại nhiều lợi nhuận và thúc đẩy tăng
2
trưởng quốc gia. Quyết định cũng chỉ ra rằng để đạt yêu cầu tăng trưởng, nhu
c
ầu lao động ngành công nghệ thông tin hàng năm là rất cao, đến năm 2020
“80% sinh viên công ngh
ệ thông tin và truyền thông tốt nghiệp ở các trường
đại học đủ khả năng chuyên môn và ngoại ngữ để tham gia thị trường lao
động quốc tế. Tổng số nhân lực tham gia hoạt động trong lĩnh vực công
nghi
ệp công nghệ thông tin đạt một triệu người”.
Trong khi
đó, những năm gần đây, tình trạng sinh viên công nghệ thông
tin sau khi t
ốt nghiệp không tìm được việc làm hoặc việc làm không phù hợp
chuyên môn v
ẫn còn nhiều. Theo số liệu khảo sát của dự án giáo dục đại
v
ới công việc của sinh viên tốt nghiệp đại học nhưng chưa có nhiều nghiên
c
ứu chuyên biệt cho sinh viên tốt nghiệp ngành công nghệ thông tin. Do đó,
đề tài “Đánh giá mức độ đáp ứng đối với công việc của sinh viên tốt nghiệp
đại học ngành công nghệ thông tin từ phía nhà tuyển dụng (Nghiên cứu trên
địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh)” được đặt ra nhằm nghiên cứu, phân tích
các
đánh giá của doanh nghiệp, cụ thể là nhà tuyển dụng của các doanh
nghi
ệp, về mức độ đáp ứng đối với công việc của sinh viên tốt nghiệp ngành
công ngh
ệ thông tin.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính của luận văn là đánh giá mức độ đáp ứng đối với công
vi
ệc của sinh viên mới tốt nghiệp đại học ngành công nghệ thông tin.
M
ục tiêu cụ thể của luận văn là khảo sát các đánh giá của nhà tuyển
d
ụng về mức độ đáp ứng đối với công việc của sinh viên mới tốt nghiệp đại
h
ọc ngành công nghệ thông tin, xét trên các phương diện kiến thức, kỹ năng,
và thái
độ của sinh viên.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện nhằm giải đáp các câu hỏi sau đây:
- Sinh viên m
ới tốt nghiệp đại học ngành công nghệ thông tin thường
Phương pháp tra cứu tài liệu: được áp dụng để đọc và nghiên cứu các bài
vi
ết của những nhà khoa học và nhà giáo dục học liên quan đến tiêu chuẩn và
ph
ương pháp đánh giá khả năng đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng.
Ph
ương pháp phân tích và tổng hợp: được sử dụng trong nghiên cứu này
để phân tích và tổng hợp những câu hỏi khảo sát nhà tuyển dụng và sinh viên
t
ốt nghiệp ngành công nghệ thông tin.
5
Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi để khảo sát ý kiến đánh giá của nhà
tuy
ển dụng và sinh viên công nghệ thông tin đang làm việc tại doanh nghiệp
công ngh
ệ thông tin.
Ph
ương pháp phỏng vấn sâu bán cấu trúc để phỏng vấn các nhà tuyển
d
ụng và sinh viên công nghệ thông tin đang làm việc tại doanh nghiệp để thu
th
ập thông tin nhằm khẳng định thêm kết quả của phương pháp khảo sát bằng
b
ảng hỏi.
3.4. Phạm vi và thời gian nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là khảo sát doanh nghiệp công nghệ
thông tin trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Th
ời gian khảo sát của đề tài từ tháng 9/2012 đến tháng 01/2013.
4. Cấu trúc của luận văn
ực, kết quả đánh giá mức độ đáp ứng của sinh viên mới tốt nghiệp
ngành công ngh
ệ thông tin đối với nhà tuyển dụng về vị trí công tác, về đào
t
ạo bổ sung, về mức độ đáp ứng kiến thức, kỹ năng, và thái độ.
7
PHẦN NỘI DUNG
CH
ƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN
1.1. C
ơ sở lý luận của đề tài
1.1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài
Mục tiêu chính của luận văn là phân tích các đánh giá của nhà tuyển
d
ụng về mức độ đáp ứng đối với công việc của sinh viên mới tốt nghiệp đại
h
ọc ngành công nghệ thông tin. Trong đó, "đáp ứng" được hiểu là phản hồi lại
đúng với một đòi hỏi, một yêu cầu xác định; "mức độ" được hiểu là một mức
nào
đó trên một thang độ đo được xác định rõ ràng; "công việc" là việc cụ thể
phải bỏ công sức ra để làm (Từ điển Tiếng Việt phổ thông, 2002). Một cách
t
ổng quát, “mức độ đáp ứng đối với công việc” là thuật ngữ được dùng để xác
định sự hoàn thành các yêu cầu, các đòi hỏi của công việc đạt đến mức nào
trên thang
đánh giá. Trong luận văn này, mức độ đáp ứng đối với công việc
ch
ỉ định mức độ thích hợp của sinh viên đối với yêu cầu của nhà tuyển dụng.
N
ăng lực là khả năng, là điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để
ực, và chứng minh được (Từ điển Tiếng Việt phổ thông, 2002). Nói cách
khác,
định lượng kiến thức được tính bằng “biết điều gì”, có bốn phạm trù là
th
ực tế, khái niệm, tiến trình, và siêu nhận thức. Kiến thức thực tế gồm những
ki
ến thức riêng biệt và kiến thức về những chi tiết cụ thể. Kiến thức thuộc về
khái niệm bao hàm hệ thống thông tin, như những sự phân loại và những
ph
ạm trù. Kiến thức tiến trình bao gồm những thuật toán, phương pháp giải
quy
ết vấn đề bằng rút kinh nghiệm (hay là dựa trên kinh nghiệm), công nghệ,
và nh
ững phương pháp cũng như những kiến thức về việc khi nào chúng ta
nên s
ử dụng tiến trình này. Kiến thức siêu nhận thức là những kiến thức trong
quá trình t
ư duy và những thông tin về cách vận dụng quá trình này một cách
có hi
ệu quả (Lorin Anderson, 1999). Trong nghiên cứu này, kiến thức được
hi
ểu là những điều hiểu biết có được trong học tập hoặc trong cuộc sống.
M
ột trong ba hợp phần của năng lực cá nhân là kỹ năng. Kỹ năng là khả
năng vận dụng những kiến thức đã thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó
vào th
ực tế (Từ điển Tiếng Việt phổ thông, 2002). Kỹ năng của một cá nhân
gi
ữ vai trò quan trọng trong cuộc sống và được biểu hiện rất đa dạng, phức
t
ảm, chẳng hạn như cảm xúc, các giá trị, sự trân trọng, lòng nhiệt tình, động
l
ực và thái độ, Năm lĩnh vực hoạt động chính được liệt kê bắt nguồn từ hành
vi
đơn giản nhất tới phức tạp nhất: Tiếp thu các giá trị, tổ chức, đánh giá,
ph
ản hồi, đón nhận (Krathwohl, Bloom, Masia, 1973). Các nhà nghiên cứu
nhìn nh
ận thái độ như là một thành phần của nhân cách, có mối quan hệ với
các thu
ộc tính của nhân cách. Thái độ được hiểu là những biểu hiện ra bên
ngoài (b
ằng nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động) của ý nghĩ, tình cảm đối với
ng
ười hoặc việc, hay nói cách khác đó là cách nghĩ, cách nhìn và cách hành
động theo một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình hình (Từ điển Tiếng
10
Việt phổ thông, 2002). Từ những nhãn quan, những yêu cầu khác nhau, các
nhà nghiên c
ứu đã cho những khái niệm về "thái độ" như sau: “thái độ là
nh
ững cử chỉ, phong thái, ý nghĩ liên quan đến những hoàn cảnh xã hội”
(Guilford, 1964), “m
ỗi người thường có những phản ứng riêng biệt của mình
đối với những tác động của cuộc sống xung quanh, nhưng phản ứng ấy là thái
độ đặc trưng của từng người đối với những tác động đó. Thái độ và hành vi
t
ương ứng với nó, tương đối ổn định và bền vững gọi là nét tính cách” (Phạm
Minh H
ạc, 1998). Trong nghiên cứu này, chúng tôi hiểu thái độ là tính cách
ường đã giúp sinh viên hoàn thành tương đối các công việc được giao. Mức
độ đáp ứng kém là sinh viên chỉ đáp ứng được một phần công việc. Mức độ
11
đáp ứng rất kém là sinh viên hoàn toàn không đáp ứng được yêu cầu công
vi
ệc.
1.1.2. Giới thiệu chung về ngành công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương
ti
ện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông
- nh
ằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông
tin r
ất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và
xã h
ội. Công nghệ thông tin phục vụ trực tiếp cho việc cải tiến quản lý Nhà
n
ước, nâng cao hiệu quả của các hoạt động sản xuất, kinh doanh và các hoạt
động kinh tế - xã hội khác, từ đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của
nhân dân. Công ngh
ệ thông tin được phát triển trên nền tảng phát triển của
các công ngh
ệ Điện tử - Tin học - Viễn thông và tự động hoá (Nghị quyết
49/CP, 04-08-1993).
Các l
ĩnh vực chính của công nghệ thông tin bao gồm quá trình tiếp thu,
x
ử lý, lưu trữ và phổ biến hóa âm thanh, phim ảnh, văn bản và thông tin số
bởi các vi điện tử dựa trên sự kết hợp giữa máy tính và truyền thông. Một vài
l
t
ốt nghiệp ra trường có thể tiếp tục học tập, nghiên cứu và phát triển ngành
công ngh
ệ thông tin trong tương lai.
V
ề kiến thức, sinh viên ngành công nghệ thông tin được trang bị các kiến
th
ức cơ bản và chuyên sâu về công nghệ thông tin, cũng như được định hướng
m
ột số vấn đề hiện đại tiệm cận với kiến thức chung về công nghệ thông tin
c
ủa thế giới.
V
ề kỹ năng, sinh viên ngành công nghệ thông tin được đào tạo kỹ năng
th
ực hành cao trong hầu hết các lĩnh vực của công nghệ thông tin, cho phép
sinh viên t
ốt nghiệp dễ dàng hòa nhập và phát triển trong môi trường làm việc
m
ới. Ngoài ra, sinh viên ngành công nghệ thông tin cũng được trang bị kỹ
năng tự học tập, nghiên cứu, làm việc theo nhóm và kỹ năng giao tiếp.
V
ề thái độ, sinh viên tốt nghiệp ngành công nghệ thông tin có phẩm chất
chính tr
ị tốt, nhiệt tình trong công việc, có ý thức tổ chức kỷ luật, có tác
phong làm vi
ệc khoa học, nghiêm túc, có đạo đức nghề nghiệp.
Ch
ương trình đào tạo gồm các kiến thức cơ bản của ngành công nghệ
thông tin và một số định hướng chuyên sâu ứng dụng công nghệ thông tin
ế thị trường với đòi hỏi trình độ công nghiệp ngang tầm thế giới để đủ
sức cạnh tranh và hội nhập. Do đó, hơn lúc nào hết, đất nước chúng ta đang
c
ần một một lực lượng lao động trình độ cao. Nhu cầu này đã và đang tạo nên
m
ột sức ép rất lớn đối với nền giáo dục vốn không thể phát triển nhanh như
công nghi
ệp. Sự thiếu đồng bộ giữa yêu cầu của nền kinh tế cần có một lực
l
ượng lao động trình độ cao, số lượng nhiều với một sự tăng trưởng giáo dục
khá ch
ậm chạp không những đã làm chậm tốc độ phát triển kinh tế, mà còn
đưa nền giáo dục đến nhiều bất cập. Nhiều chương trình đào tạo đại học chưa
k
ịp chuyển từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường, sản phẩm đào
t
ạo là sinh viên tốt nghiệp không đáp ứng hoặc đáp ứng không đầy đủ các yêu
14
cầu của nhà tuyển dụng. Từ đó phát sinh ra tình trạng thừa người tốt nghiệp
đại học, thiếu kỹ sư trong các nhà máy. Đó là một sự lãng phí vô cùng lớn vì
các
đầu tư không nhỏ của xã hội và cá nhân cho việc học đại học của sinh
viên không
được sử dụng hiệu quả.
Tr
ước những bất cập đó, một bức tranh toàn cảnh giáo dục – đào tạo cần
được phát họa đầy đủ từ nhiều góc nhìn khác nhau để có thể nhận dạng vị trí
c
ủa nền giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học Việt Nam trên bản đồ giáo dục
c
toàn c
ầu hóa. Do đó, những yêu cầu, những cơ hội và thách thức của công tác
đảm bảo chất lượng của giáo dục đại học Việt Nam cũng là một quá trình kép
15
(Nguyễn Văn Hiệu, 2012). Hội nhập vào thị trường cạnh tranh quốc tế, hệ
thống giáo dục cần phải cấp tốc nâng cao chất lượng của giáo dục đại học để
bảo đảm nhân lực được đào tạo ngang tầm thế giới. Từ nhận thức đó, các
tr
ường đại học đã từng bước tham gia các chương trình đánh giá chất lượng
giáo d
ục đại học theo các chuẩn mực quốc tế bởi các chuyên gia, tổ chức quốc
t
ế, đặc biệt là Mạng lưới chất lượng châu Á - Thái bình dương với những hội
ngh
ị hàng năm để thúc đẩy và giúp đỡ các trường đại học tham gia đánh giá
và
đảm bảo chất lượng giáo dục đại học ngang tầm thế giới.
T
ừ một nền kinh tế kế hoạch hóa chuyển sang một nền kinh tế thị trường
h
ội nhập quốc tế một cách sâu rộng, giáo dục học đại học cần phải đổi mới để
đủ
sức đảm nhận vai trò cung ứng nhân lực. Đổi mới của giáo dục đại học là
khâu then ch
ốt trong đổi mới giáo dục vì đổi mới giáo dục đại học không chỉ
thay đổi cách thức và chất lượng tạo ra nhân lực cung ứng cho nền kinh tế, mà
còn thúc
đẩy sự đổi mới chuỗi giáo dục trước đại học, giáo dục phổ thông.
Nh
ận ra những yêu cầu cấp bách của giáo dục đại học, Thủ tướng đã ra chỉ thị
công tác
đào tạo của nhà trường (Trần Đình Mai, 2009). Khi nhận dạng "nhu
c
ầu xã hội", hầu hết các tác giả đồng tình với quan niệm sức lao động là hàng
hóa và cho r
ằng tại Việt Nam đã hình thành một thị trường lao động.
Đến đây, các nhà khoa học đã nhận dạng "nhu cầu xã hội" là thị trường
lao
động và cho rằng đào tạo phải phục vụ thị trường lao động, nói khác đi
đầu ra của giáo dục đại học là thị trường lao động. Trong quan hệ giữa đào tạo
và th
ị trường lao động, thì thị trường lao động quyết định mức độ chất lượng
đào tạo vì thị trường lao động là khách hàng của trường. Các hội thảo quốc
gia "
Đào tạo theo nhu cầu xã hội" do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức vào các
n
ăm 2005 và 2007 đã nhấn mạnh đến sự đồng bộ giữa nhà trường với thị
trường lao động. Tại đây, những nhà giáo dục học, nhà giáo lão thành đã nêu
lên m
ối quan tâm sâu sắc về khả năng đáp ứng với yêu cầu thực tế của sinh
viên t
ốt nghiệp. Cùng với sự quan tâm đó, cùng với quan điểm đặt giáo dục
đại học trong quan hệ với thị trường lao động, các tác giả Bùi Mạnh Nhị,
Nguy
ễn Kim Dung (2006) đã làm khảo sát và báo cáo về chất lượng sinh viên
t
ốt nghiệp đại học dựa trên kiến thức, kỹ năng và thái độ trong bài viết “Chất
l
ượng sản phẩm đào tạo của các trường đại học Việt Nam”. Từ đó, bài viết
đưa ra một số kiến nghị về giải pháp nâng cao chất lượng sinh viên tốt nghiệp.
ọc thảo luận những vấn đề liên quan đến chất lượng giáo dục để tìm ra
nh
ững giải pháp chung cho việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học. Các
tác gi
ả làm rõ hơn khái niệm chất lượng giáo dục, thảo luận về các quan điểm,
ph
ương pháp nhìn nhận, đánh giá chất lượng giáo dục đại học, hoặc để chia sẻ
kinh nghiệm đảm bảo chất lượng. Một số trường như đi sâu hơn trong các
bi
ện pháp nâng cao chất lượng đào tạo, giáo dục đại học như sắp xếp thời
khóa bi
ểu học hợp lý hơn, định kỳ tổ chức sinh hoạt chuyên môn ở các tổ bộ
môn, giám sát chặt chẽ việc tuân thủ kỉ luật của giảng viên ở trên lớp, tổ chức
ra
đề thi, kiểm tra bài và chấm bài độc lập với việc giảng dạy môn học…,
được đưa ra tại hội thảo “Đảm bảo chất lượng năm 2012” tổ chức tại trường
18
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí
Minh.
Ngoài ra, có m
ột vài nghiên cứu đánh giá chất lượng đào tạo của trường
và các gi
ải pháp nhằm nâng cao chất lượng theo hướng tiếp cận cựu sinh viên.
H
ướng nghiên cứu này thường do các trường đại học thực hiện. Các nghiên
c
ứu chủ yếu quan tâm đến việc đánh giá sản phẩm đầu ra hay nói cách khác là
ki
ểm chứng mức độ đáp ứng đối với công việc của những sinh viên đã tốt
nghi
19
Bên cạnh đó, một số tác giả đặt yêu cầu của nhà tuyển dụng như một mặt
tham chi
ếu để đánh giá chất lượng đào tạo và làm căn cứ để các trường điểu
ch
ỉnh nội dung và phương pháp giảng dạy của mình. Bài viết “Các tiêu chí cơ
b
ản để chọn sinh viên tốt nghiệp đối với các nhà tuyển dụng” của tác giả
Nguyễn Kim Dung đã trình bày các yêu cầu cơ bản đối với sinh viên tốt
nghi
ệp đại học theo quan điểm nhà tuyển dụng. Nghiên cứu “Đánh giá mức
độ đáp ứng chất lượng nguồn nhân lực theo yêu cầu doanh nghiệp Đồng bằng
sông C
ửu Long được đào tạo bậc đại học trở lên” (tạp chí Khoa học Trường
Đại học Cần Thơ, 2012) công bố kết quả đo lường mức độ thỏa mãn của
doanh nghi
ệp khu vực Đồng bằng sông Cửu Long về chất lượng nhân lực đào
t
ạo từ các trường đại học”.
Nh
ững công trình nghiên cứu về nâng cao chất lượng giáo dục đại học
đáp ứng nhu cầu xã hội trên đây đã đặt nền tảng rất cơ bản, định hướng rõ
ràng cho công cu
ộc đổi mới giáo dục đại học. Các công trình đã làm tường
minh các khái ni
ệm "nhu cầu xã hội", đã chỉ ra những thực thể trong quy trình
đào tạo nhân lực và tác động của nhân lực đến sự phát triển kinh tế xã hội, hội
nh
ập thị trường thế giới. Một số công trình cũng đi sâu nghiên cứu và triển
khai nh
tuy
ển dụng, xét trên các phương diện kiến thức, kỹ năng, và thái độ của sinh
viên.
1.3. Khung lý thuyết của đề tài
Khái niệm "đào tạo theo nhu cầu xã hội" đã được nhiều nhà giáo dục học
ch
ỉ ra ba thực thể tham gia vào quá trình đào tạo nhân lực phục vụ phát triển
kinh t
ế xã hội là "trường, sinh viên, doanh nghiệp". Sự quan hệ giữa ba thực
th
ể này trong quy trình đào tạo nhân lực được biểu diễn trong tam giác đào
t
ạo nhân lực "trường - sinh viên - doanh nghiệp" (Hình 1.1)
Trong tam giác
đào tạo nhân lực "trường - sinh viên - doanh nghiệp",
quan h
ệ từ trường đến sinh viên là "đào tạo", trường "đào tạo" sinh viên; quan
h
ệ từ sinh viên đến doanh nghiệp là "làm việc", sinh viên "làm việc" cho
doanh nghi
ệp; quan hệ giữa trường và doanh nghiệp là quan hệ 2 chiều, "cung
ứng" và "tiêu thụ", trường "cung ứng" lao động cho doanh nghiệp, doanh
nghi
ệp "tiêu thụ" sản phẩm đào tạo của trường.