http://www.ebook.edu.vn
1
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt luận văn này ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận
được sự giúp đỡ, hướng dẫn của rất nhiều người.
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy T.S Trần Đại Tiến đã tận tình hướng dẫn,
truyền đạt những kinh nghiệm quí báu, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
này.
Tôi xin chân thành cảm ơn bộ môn công nghệ chế biến đ
ã tạo điều kiện
thụân lợi cho tôi thực tập và mượn thiết bị để thực hiện thí nghiệm tại phòng và tại
phòng thí nghiệm máy và thiết bị lanh.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy công tác tại phòng thí nghiệm máy và
thiết bị lạnh đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thiết kế lắp đặt mô hình sấy ứng
dụng năng lượng mặt trời kết hợp đối lưu.
Cuối cùng tôi xin chân thành c
ảm ơn tới những người thân và những người
bạn đã giúp đỡ động viên tôi hoàn thành tốt đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
http://www.ebook.edu.vn
2
LỜI NÓI ĐẦU
Nước ta là một nước có bờ biển dài va mặt nước rộng lớn. Động vật và các
nguồn lợi khác của biển vô cùng phong phú. Nó đem lại cho chúng ta một tiềm
năng về các mặt hang thủy sản và kinh tế là rất lớn.
Mực ống là loài nhuyễn thể chân đầu có giá trị kinh tế và dinh dưỡng rất cao,
nguồn lợi và sản lượng khai thác lớn. Song nhìn chung các sản phẩm chế biến t
ừ
của thầy T.S Trần Đại Tiến, cùng với sự nghiên cứu tìm tòi học hỏi đến nay tôi đã
hoàn thành cơ bản các nội dung của đề tài.
Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng do thời gian còn hạn chế và bước đầu làm
quen với nghiên cứu khoa học cùng với trang thiết bị phòng thí nghiệm còn thiếu
nên kế
t quả nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót rất mong nhận được sự
góp ý của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp để đề tài này được hoàn thiện hơn.
Nha Trang, tháng 07 năm 2008
SVTH: Lê Thanh Tuấn.
tăng lên, nên mật độ hơi trong các mao quản tăng lên do vậy làm cho phân áp suất
hơi nước trên bề mặt vật liệu tăng. Như vậy, trong các hệ thống sấy nóng có hai
cách để tạo ra độ chênh phân áp suất hơi nước giữa vật liệu sấy và môi trường: thứ
nhất là giảm phân áp suất hơi nước của tác nhân sấy b
ằng cách đốt nóng nó và cách
thứ hai là tăng phân áp suất hơi trong vật liệu sấy. Trong các hệ thống sấy đối lưu
người ta sử dụng cả hai cách này. Ngược lại, trong các hệ thống sấy tiếp xúc, sấy
bức xạ và hệ thống sấy dùng dòng điện cao tần chỉ sử dụng cách đốt nóng vật.
Hệ thống sấy nóng thường được phân loại theo phương pháp cung cấp
nhiệt:
+ Hệ
thống sấy đối lưu: Trong hệ thống sấy này, vật liệu sấy nhận nhiệt bằng
đối lưu từ một dịch thể nóng mà thông thường là không khí nóng hoặc khói lò.
+ Hệ thống sấy tiếp xúc: Trong hệ thống sấy tiếp xúc, vật liệu sấy nhận nhiệt
từ một bề mặt nóng. Như vậy, trong các hệ thống sấy tiếp xúc người ta tạo độ chênh
http://www.ebook.edu.vn
5
phân áp suất hơi nước nhờ tăng phân áp suất hơi nước trên bề mặt vật liệu sấy.
Trong số này chúng ta thường gặp hệ thống sấy lô và hệ thống sấy tang…
+ Hệ thống sấy bức xạ: Trong hệ thống sấy bức xạ, vật liệu sấy nhận nhiệt từ
một nguồn bức xạ để ẩm dịch chuyển từ trong lòng vật liệ
u sấy ra bề mặt và từ bề
mặt khuếch tán vào môi trường. Như vậy, trong hệ thống sấy bức xạ người ta tạo ra
độ chênh phân áp suất hơi nước giữa vật liệu sấy và môi trường chỉ bằng cách đốt
nóng vật.
+ Các hệ thống sấy khác: Ngoài ba hệ thống sấy trên, trong các hệ thống sấy
nóng còn có các hệ thống sấy dùng dòng điện cao tần hoặc dùng năng lượng
điện từ
trường để đốt nóng vật. Trong các hệ thống sấy loại này, khi vật liệu sấy đặt trong
một trường điện từ thì trong vật xuất hiện các dòng điện và chính dòng điện này đốt
và thiết bị chuyển tải là các xe goòng thì người ta gọi là hệ thống sấy buồng kiểu xe
goòng. Nói chung, thiết b
ị chuyển tải trong hệ thống sấy buồng rất đa dạng.
Kieåu tuû
Xe goòng
Hình 1.1: Hệ thống sấy buồng
- Hệ thống sấy hầm
Khác với hệ thống sấy buồng, trong hệ thống sấy hầm thiết bị sấy là một hầm
sấy dài, vật liệu sấy vào ở đầu này và ra ở đầu kia của hầm. Thiết bị chuyển tải
trong hệ thống sấy hầm thường là xe goòng hoặc là băng tải. Đặc điểm chủ
yếu của
hệ thống sấy hầm là bán liên tục hoặc liên tục và cũng như hệ thống sấy buồng nó
có thể sấy được nhiều dạng vật liệu sấy. Tuy nhiên, do cấu tạo, năng suất của nó lớn
hơn năng suất của hệ thống sấy buồng.
http://www.ebook.edu.vn
7
Kieåu xe gooøng Kieåu xích
Kieåu xích
Hình 1.2: Hệ thống sấy hầm
- Hệ thống sấy tháp
Trong hệ thống sấy này thiết bị sấy là một tháp sấy, trong đó người ta đặt một
loạt kênh dẫn và kênh thải tác nhân sấy xen kẽ nhau. Vật liệu sấy trong hệ thống sấy
tháp là dạng hạt tự chảy từ trên xuống dưới. Tác nhân sấy từ các kênh dẫn xuyên
qua lớp hạt chuyển động đi vào các kênh thải
để ra ngoài. Như vậy, hệ thống sấy
tháp là hệ thống sấy chuyên dùng để sấy hạt. Cùng dạng với hệ thống sấy tháp
chúng ta cũng gặp những hệ thống sấy tương tự, ở đó hạt chuyển động từ trên
sấy. Tốc độ củ
a tác nhân sấy có thể đạt (40 ÷ 50) m/s. Vật liệu sấy trong các hệ
thống sấy này phải là những hạt, mảnh nhỏ và độ ẩm cần lấy đi trong quá trình sấy
thường là độ ẩm bề mặt.
Kieåu oáng
Kieåu xyclon
Hình 1.5: Hệ thống sấy khí động
- Hệ thống sấy tầng sôi
Trong hệ thống sấy tầng sôi, thiết bị sấy là một buồng sấy, trong đó người ta
bố trí ghi đỡ vật liệu sấy. Tác nhân sấy có thông số thích hợp được đưa vào dưới ghi
và làm cho vật liệu sấy chuyển động bập bùng trên ghi như hình ảnh bọt nước sôi.
Vì vậy, người ta gọi là hệ thống sấ
y tầng sôi. Đây cũng là hệ thống sấy chuyên dùng
để sấy hạt. Hạt khô nhẹ hơn sẽ ở phần trên của lớp sôi và được lấy ra khỏi thiết bị
sấy một cách liên tục. Trong hệ thống sấy tầng sôi, truyền nhiệt và truyền ẩm giữa
tác nhân sấy và vật liệu sấy rất tốt nên trong các hệ thống sấy hạt hiện có thì hệ
thống sấy tầng sôi có năng suất lớn, thời gian sấy nhanh và vật liệu sấy được sấy rất
đều.
http://www.ebook.edu.vn
10
Kieồu nhieu buong
Kieồu moọt buong
Hỡnh 1.6: H thng sy tng sụi
- H thng sy phun
H thng sy phun l mt h thng sy chuyờn dựng sy cỏc dung dch
huyn phự nh trong dõy chuyn sn xut sa bt, sa u nnh v.v Thit
b sy trong h thng sy ny thng l mt hỡnh chúp tr, phn chúp hng
ch chuyển dưới tác dụng của
nhiệt độ có thể cùng chiều hoặc ngược chiều với nhau.
Ta có thể biểu thị tốc độ khuếch tán nội bằng phương trình sau:
dx
dc
Fk
dt
dW
=
Trong đó: W – lượng nước khuếch tán, kg;
dt – thời gian khuếch tán, giờ;
Không
khí ra
Nguyên liệu lỏng
vào
Nguyên liệu lỏng
vào
Không khí
nóng vào
Không
khí ra
Sản
p
h
ẩ
m ra
Kiểu đĩa quay Kiểu vòi phun
Sản phẩm ra
Không khí
dW
) ( −=
Trong đó: W – lượng nước bay hơi, kg
F – diện tích bề mặt bay hơi, m
2
dt – thời gian bay hơi, giờ
B – hệ số bay hơi.
1.4.3. Mối quan hệ giữa quá trình khuếch tán nội và khuếch tán ngoại.
Khuếch tán nội và khuếch tán ngoại có một mối quan hệ chặt chẽ với nhau, quá
trình khuếch tán nội là động lực của quá trình khuếch tán ngoại và ngược lại. Tức là khi
khuếch tán ngoại được tiến hành thì khuếch tán nội mới có thể được tiếp tục và như thế
độ
ẩm của nguyên liệu mới được giảm dần. Tuy nhiên trong quá trình sấy ta phải làm
sao cho hai quá trình này ngang bằng với nhau, tránh trường hợp khuếch tán ngoại lớn
http://www.ebook.edu.vn
13
hơn khuếch tán nội. Vì khi đó sẽ làm cho sự bay hơi ở lớp bề mặt diễn ra mãnh liệt làm
cho bề mặt của sản phẩm bị khô cứng, hạn chế sự thoát ẩm. Khi xảy ra hiện tượng đó
ta khắc phục bằng cách sấy gián đoạn (quá trình ủ ẩm) mục đích là để thúc đẩy quá
trình khuếch tán nội.
1.4.4. Các giai đoạn trong quá trình sấy.
Nếu chế
độ sấy tương đối dịu, tức là nhiệt độ và tốc độ chuyển động của
không khí không lớn, đồng thời vật có độ ẩm tương đối cao, thì quá trình sấy sẽ xẩy
ra theo ba giai đoạn: giai đoạn làm nóng vật, giai đoạn sấy tốc độ không đổi và giai
đoạn sấy tôc độ giảm dần.
1.4.4.1.Giai đoạn làm nóng vật.
Giai đoạn này bắt đầu từ
khi đưa vật vào buồng sấy tiếp xúc với không khí
Trong giai đoạn sấy tốc độ không đổi biến thiên của nhiệt độ chứa ẩm theo
thời gian là tuyến tính. Ẩm được thoát ra trong giai đoạn này là ẩm tự do.
http://www.ebook.edu.vn
14
Khi độ ẩm của vật đạt tới trị số tới hạn u
k
= u
cbmã
thì giai đoạn sấy tốc độ
không đổi chấm dứt. Đồng thời cũng là chấm dứt giai đoạn thoát ẩm tự chuyển sang
giai đoạn sấy tốc độ giảm.
1.4.4.3.Giai đoạn sấy giảm tốc.
Ở giai đoạn sấy này thì lượng nước còn lại trong nguyên liệu ít và chủ yếu là
nước liên kết do đó năng lượng liên kết lớn. Vì vậy, việc tách
ẩm cũng khó khăn
hơn và cần năng lượng lớn hơn nên đường cong sấy và đường cong tốc độ sấy
thường có dạng cong. Tuy nhiên, hình dạng của đường cong là phụ thuộc vào dạng
liên kết ẩm trong vật liệu và tùy thuộc vào dạng vật liệu sấy.
Độ ẩm của vật liệu cuối quá trình sấy tùy thuộc vào độ ẩm của môi trường
không khí xung quanh.
1.4.5. Một số yếu t
ố ảnh hưởng đến tốc độ làm khô.
1.4.5.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ không khí.
Việc tăng cao nhiệt độ không khí sẽ tăng nhanh tốc độ làm khô.
Lượng nước trong nguyên liệu giảm xuống ở nhiệt độ sấy càng cao, như vậy ở
nhiệt độ cao tốc độ làm khô sẽ nhanh hơn. Nhiệt độ sấy phải ở giới hạn cho phép vì
nhiệt độ làm khô cao sẽ làm ảnh h
ưởng đến chất lượng sản phẩm, dễ làm cho thịt cá bị
sấy chín và gây nên sự tạo màng cứng ở lớp ngoài cản trở sự di chuyển của nước từ
trong ra.
nguyên liệu để cân bằng quá trình sấy, còn tốc độ quá nhỏ làm cho quá trình sấy lâu,
dẫn đến sự hư hỏng sản phẩm, mặt ngoài s
ản phẩm sẽ lên mốc gây thối rữa tạo thành
lớp dịch nhầy có màu sắc và mùi vị khó chịu. Vì vậy cần phải có một tốc độ gió thích
hợp, nhất là giai đoạn đầu của quá trình làm khô.
Tốc độ khô nhỏ nhất khi làm khô ở nhiệt độ thấp khoảng 0,4 m/s, đối với cá
miếng thường áp dụng với tốc độ gió trong giới hạn từ 0,4 ÷ 0,6 m/s, đối với cá
g
ầy có thể đến 1 ÷ 1,5 m/s, khi làm khô cá béo thì tốc độ làm khô nhỏ hơn cá gầy.
Ngoài ra hướng gió cũng ảnh hưởng đến quá trình sấy. Hướng gió song song với
nguyên liệu thì tốc độ làm khô nhanh nhất, hướng nghiêng với bề mặt nguyên liệu 45
0
tốc độ làm khô chậm dần, hướng gió thẳng góc với nguyên liệu tốc độ làm khô chậm
nhất.
1.5. Tổng quan về năng lượng mặt trời.
1.5.1. Tổng quan về nguồn năng lượng mặt trời.
Năng lượng bức xạ mặt trời là nguồn năng lượng vô tận và sạch. Việt Nam là
một quốc gia may mắn được thiên nhiên ưu đãi, nằm trong vùng được hưởng nhiều
ánh sáng mặt trời. Ở các tỉnh phía Nam số giờ nắng trung bình trong tháng 3 đạt đến
9,3giờ/ngày. Ở phía bắc thấp hơn cũng còn đạt được khoảng 3 giờ/ngày.
http://www.ebook.edu.vn
16
Người ta đã biết sử dụng năng lượng mặt trời từ rất lâu. Ngay từ 100 năm sau
công nguyên “Heron d’Alaxandrie” đã chế tạo bơm nước bằng năng lượng mặt trời.
Ngày nay năng lượng mặt trời đã được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực ở nhiều phạm
vi nhiệt độ khác nhau, từ nhiệt độ rất cao trong công nghệ luyện kim hoá chất, đến
phạm vi nhiệt độ trung bình như nhà máy điện mặt trời và phạm vi nhiệt độ thông
thường như trong mục đích cấp nhiệt…Tuy nhiên còn nhiều vấn đề phải giải quyết
như: giá thành, hiệu suất… của thiết bị.
. Tuy rằng trái đất chỉ nhận được một phần nhỏ, nhưng phần năng
lượng đi tới các lớp trên của khí quyển cũng đã lớn gấp hàng chục nghìn lần nhu
cầu năng lượng hiện nay của toàn bộ trái đất.
Do những tương tác phức tạp khác nhau trong khí quyển nên chỉ một phần
năng lượng đó tới được mặt đất. Ở những lớp trên c
ủa khí quyển cách bề mặt trái
đất khoảng 25km ta có sự hấp thụ và sự tán xạ của bức xạ tử ngoại.
http://www.ebook.edu.vn
17
Bức xạ mặt trời khi đi qua khí quyển còn gặp một trở ngại đáng kể nữa là các
phân tử hơi nước, khí cacbonic và các hợp chất khác. Các phân tử này hấp thụ bức
xạ, mức độ của sự hấp thụ phụ thuộc vào bước sóng, mạnh nhất ở khoảng giữa của
vùng hồng ngoại. Tất cả các dạng bức xạ điện từ đề
u lan truyền với cùng một tốc
độ.
Do các tương tác với khí quyển, cường độ bức xạ ở bề mặt trái đất giảm đi
hơn 2 lần so với giá trị của nó ở những lớp trên của khí quyển.
1.5.3. Các thành phần của bức xạ mặt trời.
Bức xạ mặt trời phát ra là những chùm tia truyền thẳng về mọi phía trong
không gian. Khi đi qua lớp khí quyển, một số
tia bức xạ va chạm với các phần tử
khí, các hạt bụi hoặc những đám mây nên đường đi của chúng bị thay đổi và một
phần năng lượng bị mất đi. Do đó một vật trên mặt đất nhận được các bức xạ sau:
- Chùm tia truyền thẳng từ mặt trời gọi là bức xạ B.
- Các tia phản xạ từ các vật khác trong không gian gọi là tán xạ: D.
- Tổng hợp các tia gọi là tổng xạ : G = D + B.
Trong đó:
1.Sự hấp thụ của ozon.
2. Sự tán xạ trên những thành phần khác nhau của khí quyển.
thụ và khuếch tán bởi khí quyển và mây vì vậy cường độ bức xạ giảm đi. Nếu khí
quyển tuyệt đối trong sạch và khô thì khi chiếu trực giao có tới 91% bức xạ mặt
trời lọt xuống mặt đất.
http://www.ebook.edu.vn
19Đường đi của các tia sáng mặt trời:
O: Điểm quan trắc.
AB: Mặt đất.
CD: Đường giới hạn ngoài của khí quyển.
EF: Đường chân trời của nơi quan sát.
S
1
: Đường đi của tia sáng khi mặt trời nằm trên đường chân trời.
S
2
: Dạng đường đi của tia sáng vào buổi sáng.
S
3
: Đường đi của tia sáng khi mặt trời nằm ở thiên đỉnh.
S
4
: Dạng đường đi của tia sáng vào buổi chiều.
Trong khí quyển thì bức xạ mặt trời rất khác nhau tuỳ theo độ cao của mặt trời
0
thì cường độ bức xạ: 1,50cal/cm
2
/phút.
Ngoài bức xạ trực tiếp, mặt đất còn nhận được lượng nhiệt dưới dạng tán xạ.
Cường độ bức xạ tán xạ tỷ lệ nghịch với độ trong suốt khí quyển. Trị số đó dao động
trong khoảng 0,1 ÷ 0,35 cal/cm
2
/phút. Lượng nhiệt đó có ý nghĩa lớn trong những
ngày nhiều mây vì những hạt nước nhỏ có khả năng tán xạ rất lớn, làm tăng bức xạ tán
xạ có thể đạt tới 0,7 cal/cm
2
/phút. Lượng nhiệt bức xạ của mặt trời phần lớn dùng để
đốt nóng vật được chiếu, còn một phần nhỏ phản xạ ra không khí.
1.5.5. Đặc điểm khí hậu của Khánh Hoà.
1. Hoàn cảnh địa lý.
Khánh Hoà là một tỉnh ven biển, thuộc vùng nam trung bộ của Việt Nam. Vĩ
độ các điểm cực nam và cực bắc của Khánh Hoà lần lượt là:11
0
42’52’’ cực Nam và
13
0
43’50’’ cực Bắc. Kinh đông của các điểm cực tây và cực đông lần lượt là
108
0
36’ cực tây và 109
0
27’45’’cực đông. Với diện tích 9886 km
2
, địa phận Khánh
Hoàn cảnh địa phận phức tạp nói trên là nguyên nhân chủ yếu của sự phân hoá
khí hậ
u đa dạng ở Khánh Hoà thể hiện rõ rệt qua mọi yếu tố khí hậu, trước hết là
gió nhiệt đới, mưa. http://www.ebook.edu.vn
22
2. Bảng đặc điểm khí hậu và các loại bức xạ ở Nha Trang
Trong đó:
* : Các tháng .
** : Các đại lượng cần xác định.
TB: Trung bình độ dài ban ngày (giờ).
A: Độ dài ban ngày vào ngày 15 các tháng (giờ).
B: Lượng bức xạ tổng cộng lý tưởng ( kcal/cm
2
).
C: Lượng bức xạ thực tế ( kcal/ cm
2
).
D: Lượng bức xạ hữu hiệu ( kcal/cm
2
).
xạ.
E: Cán cân bức xạ. Phần chủ yếu của cán cân bức xạ là phát xạ. Trong điều
kiện lý tưởng giá trị này vào khoảng 4 ÷ 5 kcal/cm
2
/tháng. Nhờ mây giữ lại một
phần rồi trả lại mặt đất nên lượng bức xạ phát đi ( bức xạ hữu hiệu ) vào khoảng 3
÷ 4 Kcal/cm
2
/tháng.
F: Số giờ nắng. Đây là đại lượng liên quan mật thiết đến điều kiện bức xạ.
Hàng năm số giờ nắng của Nha Trang có thể lên đến 2300 ÷ 2700giờ.
Nhận xét:
Qua phân tích trên ta thấy Nha Trang là một thành phố có lượng bức xạ lớn,
số giờ nắng nhiều vì vậy việc tận dụng năng lượng mặt trời để phục vụ nhu cầu của
con ng
ười vào sản xuất là một giải pháp hoàn toàn hợp lý để giảm chi phí điện
năng.
1.6. Tổng quan về mực nguyên liệu,quy trình chế biến mực khô dân gian, tình
hình xuất khẩu mực khô của Việt Nam.
1.6.1. Nguồn lợi mực ở Việt Nam.
Hiện nay người ta đã tìm được hơn một trăm loài mực khác nhau trong đó có
30 loài là đối tượng khai thác. Ở Việt Nam mực ống và mực nang là có giá trị kinh
tế cao nhất, kích th
ước của các loài mực rất khác nhau, có loài chỉ bé từ 10-20 mm,
nhưng có loài lên đến vài mét. Theo tính toán phân tích của các chuyên gia nguồn
lợi và quản lý, khả năng cho phép đánh băt ở vùng biển ven bờ khoảng 700.000
nghìn tấn /năm. Sản lượng mực đánh bắt hàng năm ở nước ta bình quân đạt 3.5%
http://www.ebook.edu.vn
24
tổng sản lượng toàn thế giới. Song song với việc khai thác ven bờ nước ta đang đẩy
Mai bằng chất sừng mỏng, trong suốt, giữa lưng có sống dọc trông giống như lông
gà.
- Vùng phân bố : Loài mực này chủ yếu sống ở vùng lộng. Đến mùa khô
chúng thường vào bờ để đẻ trứng. Trứng thường kết thành từng đám 30-50cm. Mỗi
đám trứng có khoảng 20-40 trứng. Loài này được phân bố ở cả ba vùng biển Bắc,
Trung và Nam bộ Việt Nam.
- Mùa vụ khai thác : quanh năm, chính v
ụ vào các tháng 1-3 và tháng 6-9
- Các dạng sản phẩm : nguyên con sạch, phi lê, khô, khô tẩm gia vị.
http://www.ebook.edu.vn
25
1.6.2.4. Mực ống Thái Bình Dương.
Tên khoa học : Todarodes pacificus Steenstrup, 1880
- Đặc điểm hình thái: Thân tròn, hình ống thuôn dài. Vây ngắn, chiều dài vây
chiếm khoảng 40% chiều dài thân. Bông xúc giác rộng, thô, dài, các tay tua ngắn.
- Vùng phân bố : loài mực này sống cả ở vùng lộng và vùng khơi, tới độ
nước sâu 500m. Thích nghi với phạm vi nhiệt độ 5-27
0
C. Loài này được phân bố
tập trung ở vùng biển miền Trung Việt Nam.
- Mùa vụ khai thác : quanh năm, chính vụ vào các tháng 1-3 và tháng 6-9
- Các dạng sản phẩm : nguyên con sạch, phi lê, khô, khô tẩm gia vị.
Nhận xét:
Trong các loài mực trên thì mực ống Trung Hoa là loài có trữ lượng lớn ở
vùng biển Nha Trang, Khánh Hoà. Và có thể chế biến rất nhiều loài mặt hàng khác
nhau, trong đó sấy khô là một trong những mặt hàng rất thích hợp với loài mực này,
vì hình dáng kích thước của nó rất phù hợ
p cho quá trình sấy.
1.6.3. Quy trình chế biến mực khô hiện có.
Việt Nam chúng ta là một nước có bờ biển rất dài và mặt nước rộng lớn. Nguồn