nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý vốn kinh doanh tại công ty cổ phần than đèo nai - vinacomin - Pdf 22

Luận văn
Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu
quả quản lý vốn kinh doanh tại Công ty
cổ phần than Đèo Nai - Vinacomin
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập
của riêng tôi. Các số liệu trong Luận văn là hoàn toàn trung thực. Các đánh giá, kết
luận khoa học của Luận văn chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình
nghiên cứu khoa học nào khác trước đó.
Hà Nội, ngày 08 tháng 4 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Văn Hoàng
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô trong Khoa Kinh tế - Quản trị kinh
doanh trường Đại học Mỏ địa chất đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian học tập
cũng như thực hiện Luận văn. Kiến thức mà các thầy cô truyền đạt sẽ là hành trang
giúp tôi vững bước hơn trên con đường đời sau này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy PGS.TS Đinh Đăng Quang đã
tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn tốt nghiệp. Nhờ có sự
hướng dẫn của thầy mà tôi đã hoàn thành được Luận văn của mình và tích luỹ được
nhiều kiến thức quý báu trong môi trường tôi đang công tác.
Tôi xin gửi lời cảm ơn gia đình, người thân đã động viên tôi rất nhiều trong
thời gian vừa qua.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành
luận văn này.
Cuối cùng tôi xin chúc Quý thầy cô và các bạn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc
và thành đạt trong cuộc sống ./.
Tác giả
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan

2.2.1. Thực trạng vốn kinh doanh của Công ty cổ phần than Đèo Nai-Vinacomin giai đoạn 2009 - 2011
45
2.2.2. Phân tích cơ cấu tài sảnvà nguồn vốn của Công ty cổ phần than Đèo Nai giai đoạn 2009 - 2011 52
2.2.3. Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn của Công ty 56
2.2.4. Hiệu quả quản lý vốn và sử dụng vốn kinh doanh của Công ty cổ phần than Đèo Nai - Vinacomin
giai đoạn 2009 - 2011 58
2.3. Một số nhận xét hiệu quả quản lý và sử dụng vốn kinh doanh của Công ty Cổ phần than Đèo Nai –
Vinacomin 69
2.3.1. Những thành tựu Công ty đã đạt được 69
2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân 70
CHƯƠNG 3
CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VỐN KINH DOANH
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THAN ĐÈO NAI - VINACOMIN 73
3.1. Những căn cứ chủ yếu cho việc nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý vốn trong Công ty cổ
phần than Đèo Nai - Vinacomin 73
3.1.1. Hiệu quả sử dụng vốn được đảm bảo khi chi phí sử dụng vốn thấp 73
3.1.2. Sử dụng vốn có hiệu quả phải đảm bảo an toàn về mặt tài chính 93
3.2. Định hướng chiến lược phát triển nguồn vốn và huy động vốn tại Công ty cổ phần than Đèo Nai –
Vinacomin 100
3.2.1. Phương hướng phát triển của ngành than giai đoạn 2010 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 100
3.2.2. Định hướng chiến lược phát triển nguồn vốn và huy động vốn 101
3.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của Công ty trong giai đoạn tới 102
3.3.1. Giải pháp xác định cơ cấu vốn hợp lý đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp 102
3.3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn 108
3.3.3. Giải pháp xây dựng kế hoạch huy động vốn và sử dụng vốn kinh doanh chủ động và linh hoạt cho
Công ty cổ phần than Đèo Nai – Vinacomin 110
3.3.4. Giải pháp đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của Công ty để nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng
vốn 110
3.3.5. Giải pháp đầu tư vào yếu tố con người, xây dựng đội ngũ lao động có trình độ cao, từng bước đào
tạo và đào tạo lại cán bộ kỹ thuật, quản lý 111

Bảng 2.5: Tình hình đảm bảo nguồn vốn của Công ty 57
Bảng 2.6: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của Công ty qua các năm 59
Bảng 2.7: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty qua các năm
63
Bảng 2.8 Hiệu quả sử dụng vốn cố định của Công ty qua các năm 67
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1. Mối quan hệ giữa TSCĐ, TSLĐ thường xuyên và TSLĐ tạm thời 82
Hình 3.2. Mô hình nguồn tài trợ 1 83
Hình 3.3. Mô hình nguồn tài trợ 2 84
Hình 3.4. Mô hình nguồn tài trợ 3 86
Hình 3.5. Biểu đồ biểu diễn phương trình phát triển bền vững 99
MỞ ĐẦU
1. TÝnh cÊp thiÕt cña ®Ò tµi
Trong những năm gần đây, hòa nhập với những biến đổi lớn lao của nền kinh
tế, ngành công nghiệp khai thác than nước ta đã có những bước phát triển đáng kể.
Hiện nay ngành đã thu hút hàng triệu lao động tham gia trong các hình thức tổ chức
kinh doanh khác nhau thuộc mọi thành phần kinh tế. Hàng năm, vốn đầu tư vào lĩnh
vực khai thác than chiếm tỷ lệ lớn trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và trong
ngân sách Nhà nước. Ngành công nghiệp khai thác than cũng đã vươn lên về mọi
mặt để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng nhanh về sản phẩm của ngành, các địa
phương, các doanh nghiệp cũng như các hộ dân cư trong cả nước. Nhiều công ty
khai thác than lộ thiên của nước ta đã và đang có những bước phát triển vượt bậc.
Trong những năm qua Công ty CP than Đèo Nai - Vinacomin đã không ngừng
phát triển về mọi mặt. Trong nền kinh tế quốc dân hiện nay, công nghiệp khai thác
tài nguyên và khoáng sản chiếm một vị trí quan trọng trong đó công nghiệp khai
thác than chiếm tỷ trọng khá lớn vì than là một mặt hàng xuất khẩu vào loại chủ lực
của nước ta.
Than là loại nguyên liệu quan trọng trong công nghiệp và trong đời sống
hàng ngày. Khi còn sống Bác Hồ đã coi những người sản xuất than “như quân đội
đánh giặc”. Cho nên việc khai thác than lấy than từ lòng đất “than là vàng đen của

kinh doanh của các Công ty khai thác than lộ thiên nói chung và của Công ty cổ
phần than Đèo Nai - Vinacomin nói riêng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiªn cøu cña ®Ò tµi
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề quản lý vốn kinh doanh tại Công
ty cổ phần than Đèo Nai – Vinacomin.
3.2. Phạm vi nghiªn cøu cña ®Ò tµi
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là vốn kinh doanh và tình hình sử dụng vốn
kinh doanh của Công ty cổ phần than Đèo Nai – Vinacomin.
2
4. Nội dung nghiên cứu của đề tài
Nội dung của đề tài cần giải quyết như sau:
- Tổng quan về hiệu quả quản lý vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp
- Thực trạng về quản lý vốn kinh doanh tại Công ty cổ phần than Đèo Nai -
Vinacomin
- Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý vốn kinh doanh tại Công ty cổ phần
than Đèo Nai – Vinacomin.
5. Ph¬ng ph¸p nghiªn cøu
Để đạt được mục tiêu trên, các phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao
gồm:
- Vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử để nghiên cứu các vấn đề vừa toàn diện, vừa cụ thể, có hệ thống đảm bảo tính
logic của vấn đề nghiên cứu.
- Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp thống kê,
phương pháp qui nạp, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp phân tích so
sánh, phương pháp kế toán để phân tích các vấn đề, đánh giá và rút ra các kết luận.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Về mặt khoa học, đề tài nghiên cứu, hệ thống hoá và tổng kết những lý luận
cơ bản về vốn kinh doanh và hiệu quả quản lý vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
- Về mặt thực tiễn, trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả quản lý

tân cổ điển: vốn là một trong các yếu tố đầu vào để sản xuất kinh doanh (đất đai, tài
nguyên, lao động, vốn).
Theo Paul Samuelson và William D. Nordhaus thì: “Vốn là khái niệm
thường dùng để chỉ các hàng hoá là vốn nói chung, một nhân tố sản xuất. Một hàng
hoá làm vốn, khác với nhân tố sơ yếu (đất đai, lao động) ở chỗ: Nó là một đầu vào
mà bản thân là một đầu ra của một nền kinh tế gồm: vốn vật chất (nhà máy, thiết bị,
kho hàng), vốn tài chính (tiền, chứng khoán, tín phiếu)”. Quan điểm này đã cho
chúng ta thấy rõ nguồn gốc hình thành vốn, trạng thái biểu hiện của vốn và đặc
điểm cơ bản nhất của hàng hoá vốn là chúng vừa là sản phẩm đầu ra, vừa là yếu tố
4
đầu vào của sản xuất nhưng hạn chế cơ bản của quan điểm này là chưa cho thấy
mục đích sử dụng của vốn.
Theo Karl Marx “Vốn (tư bản) là giá trị mang lại giá trị thặng dư, là đầu vào
của quá trình sản xuất”, tức là một yếu tố khi sử dụng trong quá trình sản xuất sẽ tạo
ra một lượng giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó. Tuy nhiên quan niệm này cũng
mới chỉ đề cập đến phạm trù tư bản là tiền khi được dùng để mua sắm các yếu tố
đầu vào của quá trình sản xuất để tạo ra giá trị thặng dư. Nói cách khác, vốn luôn
gắn liền với hoạt động của khu vực sản xuất vật chất trực tiếp vì theo Marx chỉ có
khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra của cải vật chất và giá trị thặng dư mà thôi.
Còn David Begg, tác giả cuốn “Kinh tế học” thì cho rằng vốn là các yếu tố
của sản xuất và bao gồm hai loại vốn hiện vật và vốn tài chính. Vốn kinh doanh tồn
tại ở các hình thái hiện vật như giá trị của các tài sản cố định, hàng hoá, mặt bằng
sản xuất kinh doanh,… và vốn tài chính tồn tại ở các hình thái giá trị như tiền và các
giấy tờ có giá thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp.
Theo ý nghĩa kinh tế, một số quan điểm lại cho rằng: vốn kinh doanh bao
gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí để sản xuất hàng hoá, dịch vụ như tài sản
hữu hình, tài sản vô hình, các kiến thức về kinh tế kỹ thuật của doanh nghiệp được
tích luỹ, sự khéo léo về trình độ quản lý và tác nghiệp của cán bộ điều hành cùng
chất lượng đội ngũ công nhân viên trong doanh nghiệp, các lợi thế cạnh tranh như
vị trí, uy tín.

quá trình đầu tư vào sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp.
1.1.2. Phân loại vốn kinh doanh
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp có thể phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau:
1. Xét theo giác độ pháp luật
Trên giác độ pháp luật, vốn kinh doanh được chia làm hai loại: Vốn pháp
định và vốn điều lệ.
Vốn pháp định: Là mức vốn tối thiểu phải có để thành lập doanh nghiệp do
pháp luật quy định đối với từng ngành, nghề và từng loại hình sở hữu doanh nghiệp.
Dưới mức vốn pháp định thì không đủ điều kiện thành lập doanh nghiệp.
6
Vốn điều lệ: Là mức vốn do các thành viên đóng góp và được ghi vào điều lệ
của doanh nghiệp. Tùy theo từng loại hình doanh nghiệp theo từng ngành, nghề, vốn
điều lệ không được thấp hơn vốn pháp định.
2. Xét theo nguồn hình thành
Vốn do ngân sách nhà nước cấp: Là vốn do nhà nước cấp cho doanh nghiệp
(Được xác nhận trên cơ sở biên bản giao nhận) gồm vốn cấp ban đầu và vốn cấp bổ
sung. Doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn này phải nộp ngân sách một tỷ lệ phần trăm
nào đó trên vốn cấp gọi là mức thu sử dụng vốn.
Vốn tự bổ sung: Là vốn nội bộ doanh nghiệp bao gồm vốn khấu hao cơ bản,
lợi nhuận để lại, vốn cổ phần.
Vốn liên doanh liên kết: Là vốn do doanh nghiệp liên kết với các doanh
nghiệp khác trong và ngoài nước để thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh.
Vốn vay gồm những khoản vay từ ngân hàng và các tổ chức tín dụng, vay
cán bộ công nhân viên, vay nước ngoài, phát hành trái phiếu
3. Xét theo tính chất sở hữu
Nguồn vốn được chia thành hai loại là vốn chủ sở hữu và nợ phải trả của
doanh nghiệp.
Nợ phải trả: Gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn
Nợ ngắn hạn là các khoản vay tín dụng ngắn hạn, các khoản vay dự trữ phải
trả trog vòng một năm. Khoản này thường bao gồm tín dụng thương mại và tín dụng

+ Sau nhiều chu kỳ sản xuất vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân
chuyển (khấu hao hết).
Xuất phát từ những đặc điểm trên việc quản lý vốn cố định phải luôn được
gắn với việc quản lý hình thái hiện vật của nó là tài sản cố định của doanh nghiệp.
Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về
tài sản cố định mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều
chu kỳ sản xuất kinh doanh và hoàn thành xong một vòng tuần hoàn khi tài sản cố
định hết thời gian sử dụng.
8
Đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, vốn cố định chiếm tỷ trọng tương
đối lớn trong tổng vốn kinh doanh và có tính chất quyết định tới năng lực sản xuất
của doanh nghiệp, hơn nữa việc sử dụng vốn cố định thường gắn với các quyết định
đầu tư dài hạn, thời gian thu hồi vốn chậm nên trong quá trình vận động vốn cố định
dễ gặp rủi ro như lạm phát, hao mòn vô hình do sự tiến bộ không ngừng của khoa
học kỹ thuật. Vì vậy, để sử dụng có hiệu quả vốn cố định doanh nghiệp cần thực
hiện các biện pháp nhằm bảo toàn và phát triển vốn sau mỗi chu kỳ kinh doanh.
Vốn lưu động là số tiền ứng trước hay đầu tư vào tài sản lưu động nhằm đảm
bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp diễn ra thường xuyên và liên tục.
Quá trình này gọi là quá trình tuần hoàn, chu chuyển của vốn lưu động. Qua mỗi
giai đoạn của chu kỳ kinh doanh vốn lưu động lại thay đổi hình thái biểu hiện. Từ
hình thái vốn tiền tệ ban đầu chuyển sang hình thái vốn vật tư, hàng hóa dự trữ và
vốn sản xuất rồi cuối cùng lại trở về hình thái vốn tiền tệ. Sau mỗi chu kỳ tái sản
xuất, vốn lưu động hoàn thành một vòng luân chuyển.
Như vậy, so với vốn cố định thì vốn lưu động có tốc độ chu chuyển nhanh
hơn. Trong khi vốn cố định chu chuyển được một vòng thì vốn lưu động đã chu
chuyển được nhiều vòng.
Thông qua cách phân chia này, các doanh nghiệp thấy được cơ cấu vốn cũng
như hoạt động luân chuyển vốn của mình, sự ảnh hưởng qua lại của các hình thái
khác nhau của tài sản từ đó xác định được hiệu quả vòng quay vốn. Như vậy, đứng
trên quan điểm hiệu quả thì vốn được xem dưới trạng thái động.

xuất của doanh nghiệp.
- Thứ hai, quy mô của vốn là điều kiện quyết định đến quy mô kinh doanh và
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
Muốn được thành lập mọi doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định
theo quy định. Vì thế quy mô của vốn đủ lớn là điều kiện không thể thiếu cho mỗi
doanh nghiệp khi khởi nghiệp kinh doanh. Trong quá trình kinh doanh, để tồn tại
pháp triển và nâng cao năng lực cạnh tranh, các doanh nghiệp phải không ngừng
đầu tư đổi mới kỹ thuật, công nghệ sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và mở
10
rộng quy mô kinh doanh. Điều đó đòi hỏi quy mô vốn kinh doanh của doanh nghiệp
ngày càng phải được bổ sung, mở rộng để đáp ứng yêu cầu phát triển và nâng cao
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
11
1.2. Nội dung của công tác quản lý vốn
1.2.1. Lập kế hoạch huy động vốn
Tùy theo loại hình doanh nghiệp và các đặc điểm cụ thể, mỗi doanh nghiệp
có thể có các phương thức huy động vốn khác nhau. Trong điều kiện kinh tế thị
trường, các phương thức huy động vốn của doanh nghiệp được đa dạng hóa nhằm
khai thác mọi nguồn vốn trong nền kinh tế. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, trong hoàn
cảnh cụ thể của Việt Nam, do thị trường tài chính chưa phát triển hoàn chỉnh nên
việc khai thác vốn có những nét đặc trưng nhất định. Sự phát triển nhanh chóng của
nền kinh tế và thị trường tài chính sẽ sớm tạo điều kiện để các doanh nghiệp mở
rộng khả năng thu hút vốn kinh doanh.
Sau đây là các nguồn vốn và các phương thức huy động vốn (Còn gọi là
phương thức tài trợ) mà các doanh nghiệp có thể sử dụng.
1.2.1.1. Nguồn vốn chủ sở hữu doanh nghiệp
Đối với mọi loại hình doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao
gồm các bộ phận chủ yếu :
+ Vốn góp ban đầu
+ Lợi nhuận không chia

lợi nhuận không chia - nguồn vốn nội bộ là một phương thức tạo nguồn tài chính
quan trọng và khá hấp dẫn của các doanh nghiệp, vì doanh nghiệp giảm được chi
phí, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài. Rất nhiều doanh nghiệp coi trọng chính
sách tái đầu tư từ lợi nhuận để lại (Retained earnings), họ đặt ra mục tiêu phải có một
khối lượng lợi nhuận để lại đủ lớn nhằm tự đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng.
Nguồn vốn tái đầu tư từ lợi nhuận để lại chỉ có thể thực hiện được nếu như
doanh nghiệp đã và đang hoạt động và có lợi nhuận, được phép tiếp tục đầu tư. Đối
với các doanh nghiệp Nhà nước thì việc tái đầu tư phụ thuộc không chỉ vào khả
năng sinh lợi của bản thân doanh nghieeipj mà còn phụ thuộc vào chính sách
khuyến khích tái đầu tư của Nhà nước. Tuy nhiên, đối với các công ty cổ phần thì
việc để lại lợi nhuận liên quan đến một số yếu tố rất nhạy cảm. Khi công ty để lại
13
một phần lợi nhuận trong năm cho tái đầu tư, tức là không dùng số lợi nhuận đó để
chia lãi cổ phần, các cổ đông không được nhận tiền lãi cổ phần (cổ tức), nhưng bù
lại họ có quyền sở hữu số vốn cổ phần tăng lên của công ty.
Như vậy, giá trị ghi sổ của các cổ phiếu sẽ tăng lên cùng với việc tự tài trợ
bằng nguồn vốn nội bộ. Điều này một mặt, khuyến khích cổ đông giữ cổ phiếu lâu
dài, nhưng mặt khác, để làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu trong thời kỳ trước mắt
(ngắn hạn) do cổ đông chỉ nhận được một phần cổ tức nhỏ hơn. Nếu tỷ lệ chi trả cổ
tức thấp, hoặc số lãi ròng không đủ hấp dẫn thì giá cổ phiếu có thể bị giảm sút. Khi
giải quyết vấn đề cổ tức và tái đầu tư, chính sách phân phối cổ tức của công ty cổ
phần phải lưu ý đến một số yếu tố có liên quan như:
- Tổng số lợi nhuận ròng trong kỳ.
- Mức chia lãi trên một cổ phiếu của các năm trước.
- Sự xếp hạng cổ phiếu trên thị trường và tính ổn định của thị giá cổ phiếu
của công ty, tâm lý và đánh giá của công chứng về cổ phiếu đó.
- Hiệu quả của việc tái đầu tư.
c. Phát hành cổ phiếu
Trong hoạt động sản xuất – kinh doanh, doanh nghiệp có thể tăng vốn chủ sở
hữu bằng cách phát hành cổ phiếu mới. Một nguồn tài chính dài hạn rất quan trọng

hành trên thị trường. Tuy nhiên, có thể chính công ty phát hành mua lại một số cổ
phiếu của mình và giữ chúng nhằm mục đích nào đố. Những cổ phiếu được công ty
mua lại như vậy gọi là cổ phiếu ngân quỹ. Những cổ phiếu này được coi như tạm
thời không lưu hành. Việc mua lại hoặc bán ra những cổ phiếu này phụ thuộc vào
một số yếu tố như:
- Tình hình cân đối vốn và khả năng đầu tư
- Tình hình biến động thị giá chứng khoán trên thị trường.
- Chính sách đối với việc sáp nhập hoặc thôn tính công ty
- Tình hình trên thị trường chứng khoán và quy định của ủy ban chứng
khoán Nhà nước.
- Mệnh giá và thị giá.
15
Giá trị ghi trên mặt cổ phiếu gọi là mệnh giá (Par value), giá cả của cổ phiếu
trên thị trường gọi là thị giá. Giá trị của cổ phiếu được phản ánh trong sổ sách kế
toán của công ty gọi là giá trị ghi sổ (book value), đó cũng chính là mệnh giá của
các cổ phiếu đã phát hành. Mệnh giá không chỉ được ghi trên mặt sổ phiếu mà còn
được ghi rõ trong giấy phép phát hành và trên sổ sách kế toán của công ty. Tuy
nhiên, mệnh giá chỉ có ý nghĩa khi phát hành cổ phiếu và đối với khoảng thời gian
ngắn sau khi cổ phiếu được phát hành. Thị giá phản ánh sự đánh giá của thị trường
đối với cổ phiếu, phản ánh lòng tin của các nhà đầu tư đối với hoạt động của Cty.
Quyền hạn của cổ đông
Các cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường chính là những người sở hữu công ty,
do đó họ có quyền trước hết đối với tài sản và sự phân chia tài sản hoặc thu nhập
của công ty. Cổ đông có quyền tham gia kiểm soát và điều khiển các công việc của
công ty. Tuy nhiên, thông thường có một số lượng cổ đông của công ty, nên mỗi cổ
đông chỉ có một quyền lực giới hạn nhất định trong việc bỏ phiếu hoặc chỉ định
thành viên của ban giám đốc. Một số công việc hay những vấn đề đặc biệt cần có sự
nhất trí của đại đa số cổ đông.
Tùy theo việc quy định trong điều lệ công ty, có thể hình thành các phương
thức bỏ phiếu khác nhau. Hai phương pháp được sử dụng rộng rãi là bỏ phiếu theo

Trong thực tế, ở một số nước như Mỹ chẳng hạn, rất hiếm khi cổ đông ưu
tiên có quyền bỏ phiếu một cách đầy đủ. Tuy nhiên, nếu có ít nhất 2/3 cổ đông ưu
tiên nhất trí về một vấn đề nào đó thì ban lãnh đạo công ty phải xem xét ý kiến của
họ. Nếu các cổ phiếu ưu tiên không được trả cổ tức thì các cổ đông của những cổ
phiếu đó có thể được quyền bỏ phiếu. Một vấn đề rất quan trọng cần đề cập khi phát
hành cổ phiếu ưu tiên, đó là thuế. Khác với chi phí lãi vay được giảm trừ khi tính
thuế thu nhập công ty, cổ tức được lấy từ lợi nhuận sau thuế. Đó là hạn chế của cổ
phiếu ưu tiên. Mặc dù vậy, như đã đề cập, cổ phiếu ưu tiên vẫn có những ưu điểm
đối với cả công ty phát hành và cả nhà đầu tư. Khi nào các hãng phát hành và thu
hồi cổ phiếu? Để trả lời câu hỏi này cần xem xét những khía cạnh sau:
17

Trích đoạn Phương hướng phát triờ̉n của ngành than giai đoạn 2010 2020 và tõ̀m nhìn đờ́n năm 2030 Giải phỏp nõng cao hiợ̀u quả sử dụng tài sản ngắn hạn Giải pháp xõy dựng kờ́ hoạch huy đụ̣ng vụ́n và sử dụng vụ́n kinh doanh chủ đụ̣ng và linh hoạt cho Giải phỏp đầu tư vào yếu tố con người, xõy dựng đội ngũ lao động cú trỡnh độ cao, từng bước đào Kiờ́n nghị các điều kiện đờ̉ các giải pháp được thực hiợ̀n thuọ̃n lợi
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status