PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xã hội tồn tại nhiều hoạt động như hoạt động chính trị, văn hoá, kinh tế, quân
sự...Hoạt động kinh tế là hoạt động chủ yếu, nó có vai trò quyết định sự tồn tại và phát
triển của các hoạt động khác. Tiêu thức để phân biệt các hoạt động là căn cứ vào công
dụng sản phẩm dịch vụ tạo ra và theo tính chất, mục đích của hoạt động đó.
Hoạt động kinh doanh là hoạt động kinh tế, khi việc tổ chức thực hiện hoạt động đó
nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Trong hoạt động kinh doanh, con người luôn hướng
tới mục tiêu là đạt được kết quả và hiệu quả cao nhất.
Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến sự chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế. Từ một nền
kinh tế dựa vào nông nghiệp là chủ yếu sang một nền kinh tế có tỷ trọng công nghiệp và
dịch vụ cao, dựa trên nền tảng của kinh tế tri thức và xu hướng gắn với nền kinh tế toàn
cầu. Chính sự chuyển dịch này đã tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi cho nhiều ngành kinh tế
phát triển. Song chính sự chuyển dịch này cũng làm phát sinh nhiều vấn đề phức tạp đặt ra
cho các doanh nghiệp những yêu cầu và thách thức mới, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự
không ngừng vận động, vươn lên để vượt qua những thử thách, tránh nguy cơ bị đào thải
bởi quy luật cạnh tranh khắc nghiệt của cơ chế thị trường.
Muốn vậy, phải nhận thức đúng đắn, đầy đủ và toàn diện các hiện tượng, các quá
trình và yếu tố xảy ra trong hoạt động kinh doanh. Để làm được những vấn đề đó không
thể không phân tích, đánh giá các hoạt động trong quá trình kinh doanh để từ đó đề ra
những chiến lược, những quyết sách, những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp.
Nhận thức được tầm quan trọng trên, sau quá trình thực tập tại Công ty TNHH một
Thành viên Cảng Sông Thành phố Hồ Chí Minh, cùng với những kiến thức được các Thầy,
Cô Trường ĐH Kỹ Thuật Công Nghệ TP.HCM truyền dạy, đặc biệt là Thầy TS. Lưu
Thanh Tâm đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ dạy. Em đã mạnh dạn chọn đề tài: “Hiệu
quả hoạt động kinh doanh tại Công ty TNHH một Thành viên Cảng Sông Thành
phố Hồ Chí Minh”.
2. Mục đích của đề tài
1
Qua việc nghiên cứu đề tài này có thể giúp chúng ta đánh giá được hiệu quả hoạt
1.1.1 Khái niệm về hiệu quả hoạt động kinh doanh
Hiệu quả hoạt động kinh doanh là thước đo chất lượng phản ánh trình độ tổ chức,
quản lý, kinh doanh. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước,
các doanh nghiệp muốn tồn tại trước hết đòi hỏi kinh doanh phải có hiệu quả. Hiệu quả
kinh doanh càng cao, càng có điều kiện mở mang và phát triển sản xuất, đầu tư mua sắm
tài sản cố định, nâng cao đời sống người lao động, thực hiện tốt nghĩa vụ với ngân sách
Nhà nước.
Hiệu quả hoạt động kinh doanh là phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các
nguồn lực sẵn có để đạt kết quả cao nhất trong kinh doanh với chi phí ít nhất. Hiệu quả
kinh doanh phải được xem xét một cách toàn diện cả về thời gian và không gian trong mối
quan hệ với hiệu quả chung của nền kinh tế xã hội.
Về thời gian, hiệu quả kinh doanh đạt được trong từng giai đoạn, từng thời kỳ
không được làm giảm sút hiệu quả các giai đoạn, các thời kỳ kinh doanh tiếp theo, không
vì lợi ích trước mắt mà quên đi lợi ích lâu dài.Về không gian, hiệu quả kinh doanh chỉ có
thể coi là đạt được một cách toàn diện khi toàn bộ hoạt động của các bộ phận, các đơn vị
mang lại hiệu quả và không ảnh hưởng đến hiệu quả chung.
Về định lượng, hiệu quả kinh doanh phải được thể hiện ở mối tương quan giữa thu
và chi theo hướng tăng thu giảm chi. Có nghĩa là tiết kiệm đến mức tối đa các chi phí kinh
doanh (lao động sống và lao động vật hóa) để tạo ra một đơn vị sản phẩm. Đồng thời với
khả năng sẵn có làm ra nhiều sản phẩm.
Về góc độ nền kinh tế quốc dân, hiệu quả kinh doanh của các đơn vị, các bộ phận
cũng như toàn bộ các doanh nghiệp đạt được phải gắn chặt hiệu quả toàn xã hội. Đạt được
hiệu quả cao cho các đơn vị, bộ phận của các doanh nghiệp chưa đủ, nó còn đòi hỏi phải
mang lại hiệu quả cao cho các đơn vị, bộ phận của doanh nghiệp chưa đủ, nó còn đòi hỏi
phải mang lại hiệu quả cho toàn xã hội, cả kinh tế.
3
Hiệu quả kinh doanh được biểu hiện bằng chỉ tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây
là mục tiêu số một nó chi phối toàn bộ quá trình kinh doanh.
Hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp được hiểu là một đại lượng so sánh giữa
chi phí bỏ ra và kết quả thu được. Theo nghĩa rộng hơn, nó là đại lượng so sánh giữa chi
1.2.5 Chỉ tiêu về hiệu quả tài chính
1.2.5.1 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng doanh thu từ sản xuất kinh doanh thì có bao
nhiêu đồng lợi nhuận, sự thay đổi về lợi nhuận có thể phản ánh sự thay đổi về hiệu quả
cũng như đường lối kinh doanh.
1.2.5.2 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu, các nhà đầu tư thường
quan tâm đến chỉ tiêu này ,bởi vì họ quan tâm đến khả năng thu nhận được của lợi nhuận
so với vốn họ tự bỏ ra đầu tư.
1.2.6 Chỉ tiêu về khả năng thanh toán
1.2.6.1 Chỉ tiêu về khả năng thanh toán nhanh
Là chỉ tiêu thanh toán ngay các khoản nợ đã đến hạn và quá hạn .Khả năng thanh
toán nhanh cho ta thấy những tài sản quay vòng vốn nhanh có thể dùng để trang trải cho
các khoản nợ đã đến hạn đủ hay không.
1.2.6.2 Khả năng thanh toán bằng tiền
Ngoài hệ số khả năng thanh toán nhanh, để đánh giá khả năng thanh toán một cách
khắt khe hơn nữa ta sử dụng hệ số khả năng thanh toán bằng tiền. Hệ số này cho biết doanh
nghiệp có bao nhiêu đồng vốn bằng tiền để sẵn sàng thanh toán cho một đồng nợ ngắn
hạn .
1.2.6.3 Kỳ thu tiền bình quân
5
Tốc độ luân chuyển khoản phải thu phản ánh khả năng thu hồi nợ của doanh nghiệp,
chỉ tiêu này cho ta biết doanh nghiệp có khả năng thu hồi nợ nhanh hay thấp nó thể hiện
vốn của doanh nghiệp bị có bị tồn đọng và bị các đơn vị khác chiếm dụng, gây khó khăn
hơn trong việc thanh toán của doanh nghiệp hay không.
1.2.6.4 Vòng quay hàng tồn kho
Hàng tồn kho là một bộ phận tài sản dự trữ với mục đích đảm bảo cho quá trình sản
xuất kinh doanh diễn ra bình thường liên tục. Mức độ tồn kho cao hay thấp phụ thuộc vào
loại hình kinh doanh, tình hình cung cấp đầu vào, mức tiêu thụ sản phẩm.
1.2.6.5 Vòng quay vốn lưu động
cho người lao động khi làm việc trong những điều kiện khó khăn, độc hại, tính chất quan
trọng hơn so với bình thường. Trong các doanh nghiệp Nhà nước, khoản phụ cấp này được
quy định cụ thể thành nhiều mức và nhiều loại phụ cấp khác nhau. Ngược lại, trong các
doanh nghiệp ngoài thành phần Nhà nước khi thuê mướn người lao động, mức lương chi
trả cho người lao động đã tính gộp luôn các yếu tố khó khăn, độc hại… cho nên thường
không duy trì hệ thống các loại phụ cấp lương.
1.2.7.3 Tiền lương danh nghĩa, tiền lương thực tế
Trong nền kinh tế thị trường, còn tồn tại quan hệ hàng hóa – tiền tệ nên còn phạm
trù tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế.
- Tiền lương danh nghĩa: là tổng số tiền người lao động nhận được sau một thời kỳ
làm việc nhất định.
Trong thực tế, bản thân tiền lương danh nghĩa chưa phản ảnh đầy đủ mức trả công
cho người lao động. Thu nhập của người lao động không chỉ phụ thuộc vào mức lương
danh nghĩa mà còn phụ thuộc vào giá cả hàng hóa, dịch vụ và mức thuế thu nhập theo quy
định của Nhà nước.
- Tiền lương thực tế: Được hiểu là toàn bộ những tư liệu sinh hoạt và các loại dịch
vụ mà người lao động trao đổi được từ tiền lương danh nghĩa của mình sau khi đóng các
7
khoản thuế theo quy định của Nhà nước. Tiền lương thực tế phản ánh rõ mức sống của
người lao động và giá trị tiền lương mà họ nhận được.
Trong một thời kỳ giữa tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế có mối quan hệ
với nhau thông qua chỉ số giá cả trong thời kỳ đó:
I
TLTT
= I
TLDN
/I
GC
Trong đó:
I
- Nâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động kinh doanh cho đơn vị.
- Tạo sự hợp lý giữa các bộ phận l/động, các t/viên trong một tập thể lao động.
- Đảm bảo tính đơn giản, cụ thể rõ ràng và dễ hiểu.
1.2.8.2 Các nguyên tắc tổ chức tiền lương
* Đảm bảo năng suất lao động tăng nhanh hơn tiền lương.
- Nguyên tắc này bắt nguồn từ mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng, yêu cầu của
nguyên tắc này là tiêu không thể vượt quá khả năng làm ra mà cần phải đảm bảo tích lũy.
Trong các đơn vị sản xuất kinh doanh, tốc độ tăng tiền lương về cơ bản phụ thuộc trực tiếp
vào tốc độ tăng năng suất lao động, ngược lại tăng năng suất lao động không chỉ là điều
kiện cần thiết để thực hiện tăng tiền lương nhằm cải thiện đời sống cho người lao động mà
còn là điều kiện tiên quyết để thực hiện tích lũy đầu tư phát triển sản xuất, nâng cao chất
lượng sản phẩm, hạ giá thành để cạnh tranh… Do vậy năng suất lao động bình quân cần
phải tăng nhanh hơn tiền lương bình quân.
* Chống chủ nghĩa bình quân trong trả công, đảm bảo mối quan hệ hợp lý giữa các
loại lao động, các loại nghành nghề trong cùng một doanh nghiệp.
- Nguyên tắc này đòi hỏi việc trả lương phải có sự phân biệt giữa lao động phổ
thông và lao động kỹ thuật, lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao phải được đãi
ngộ xứng đáng.
* Trả công theo công việc đảm nhận của người lao động.
- Người lao động làm việc làm việc gì thì phải trả lương theo công việc ấy, tiền
lương phải gắn được với kết quả lao động và hiệu quả công việc với các hình thức trả
9
lương thích hợp do người sử dụng lao động lựa chọn và duy trì trong một thời gian nhất
định.
* Kết hợp hài hòa các dạng lợi ích
- Xuất phát từ mối quan hệ giữa lợi ích người lao động, lợi ích người sử dụng lao
động và lợi ích người tiêu dùng sản phẩm. Vì vậy, yêu cầu trả lương ngoài việc căn cứ vào
những đóng góp cá nhân, còn phải tính đến lợi ích tập thể, lợi ích của người tiêu dùng và
lợi ích xã hội.
CHƯƠNG 2
vào đó chịu sự quản lý theo mô hình công ty mẹ, công ty con. Trong đó công ty mẹ là
Tổng Công ty Cơ khí Giao thông Vận tải Sài Gòn
11
Ngày 07/04/2006, Doanh nghiệp nhà nước Cảng sông Tp.HCM được chuyển
thành Công ty TNHH Một Thành viên Cảng sông Tp.HCM, trực thuộc Tổng Công ty Cơ
khí GTVT Sài Gòn (Samco), theo Quyết định số 1607/QĐ-UBND Tp.HCM.
* Tên và trụ sở chính của doanh nghiệp :
o Tên tiếng Việt : CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN CẢNG
SÔNG TP.HCM
o Tn tiếng Anh : CANG SONG CO., LTD
o Tn viết tắt : CASOCO
o Trụ sở chính : 223 Trần Văn Kiểu, F.1, Q.6, Tp.HCM
o Điện thoại : (08) 8555.260 Fax: (08) 8559.749
o Email :
2.2 Đặc điểm của Công ty
Cảng sông TP.HCM là một đầu mối giao thông đường sông rất thuận lợi cho các
phương tiện đường sông ra vào và neo đậu để xếp dỡ hàng hóa. Tuy chưa có số liệu chính
xác về số lượng hàng thông qua Cảng trong nhiều năm tới, nhưng theo số liệu thống kê
kinh nghiệm trong những năm qua và qua các cuộc hội thảo với một số cơ quan chủ hàng
(chủ yếu về lương thực), lưu lượng hàng hóa về Công ty có thể chiếm từ 50-60% so với
lượng hàng hóa được vận chuyển bằng đường sông về Thành phố Hồ Chí Minh.
Hệ thống Cảng sông của Công ty bao gồm nhiều bến sông tự nhiên nằm dọc theo
các nhà kho, nhà máy của các chủ hàng và tiếp giáp với đường giao thông công cộng rất
thuận lợi cho việc neo đậu lên xuống hàng hóa của các phương tiện thủy bộ với cự ly xếp
dỡ ngắn.
Địa bàn hoạt động của Công ty nằm gần các khu vực chợ tiện lợi cho việc mua
bán trao đổi hàng hóa phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng sinh hoạt của nhân dân, của người
buôn bán.
Công ty TNHH 1 Thành viên Cảng Sông TP.HCM do vị trí địa hình không thể
tiến hành bốc xếp cơ giới, chỉ có thể bốc xếp bằng thủ công (sức lao động của con người)
nhiệm vụ sau:
Kinh doanh bốc xếp hàng hóa
13
Kinh doanh kho bãi
Quản lý vùng nước thuộc hệ thống Cảng sông Thành phố (được ủy quyền của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền)
Mua bán vật liệu xây dựng
Xây dựng công trình, cầu tàu, bờ kè, san lắp mặt bằng, xây dựng dân dụng nhóm C,
xây dựng các công trình thủy lợi, đắp đê làm đường, kinh doanh nhà ở, khai thác vật liệu xây
dựng, sản xuất VLXD, mua bán vật tư nông nghiệp, máy móc thiết bị nông nghiệp.
Kinh doanh dịch vụ đại lý vận tải
Kinh doanh dịch vụ khác phục vụ cho khai thác Cảng, bến bãi.
Ngoài ra Cảng sông còn được giao nhiệm vụ quản lý Bến Tàu Khách Thành phố
phục vụ đưa đón hành khách tuyến Thành phố Hồ Chí Minh – Vũng Tàu và Thành phố Hồ
Chí Minh đi miền Tây.
b. Định hướng phát triển của Công ty:
Thực trạng hệ thống bến bãi thủy nội địa của Thành phố được phản ánh qua vị trí mặt
bằng nhỏ hẹp về quy mô, nghèo nàn về trang bị kỹ thuật. Sự hoạt động của nhiều bến bãi
mang tính tự do, tự phát, nằm ngoài sự quản lý của cơ quan chức năng. Hiện tượng tranh giành
trong hoạt động xếp dỡ, tùy tiện đóng cát cứ mở bến bãi hoạt động, tự do xả rác ở vùng sông,
kênh… là khá phổ biến hiện nay, gây mất trật tự an toàn cũng như làm mất vẻ mỹ quan của
trung tâm Thành phố.
Theo sự đánh giá chung, hiện nay ở Thành phố Hồ Chí Minh chưa có một Cảng
Sông nào được xây dựng đúng nghĩa về mặt kiến trúc, trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ
tổ chức khai thác.
Bên cạnh sự phát triển mạnh của nền kinh tế khu vực, nhu cầu vận tải hàng hóa
xuất nhập tăng lên một cách đáng kể. Các mặt hàng xuất từ Đồng bằng Sông Cửu Long và
các Tỉnh Miền Đông thông qua cụm Cảng Thành phố Hồ Chí Minh cũng như hàng hóa
xuất tại Thành phố Hồ Chí Minh và hàng nhập khẩu đến Tp.Hồ Chí Minh và sau đó
chuyển về các tỉnh chiếm một khối lượng khá lớn. Trước tình hình đó, việc phát triển hệ
15
Vận tải đường sông, một tiềm năng lớn của Thành phố và khu vực, với giá thành
rẻ, khối lượng vận chuyển lớn có nhiều tính ưu việt, song lâu nay chưa được đầu tư đúng
mức kể cả việc cải tạo luồng lạch, đổi mới phương tiện và xây dựng bến bãi. Tuy rằng
trong thời gian tới, có thể sẽ phải chia xẻ bớt khối lượng vận tải cho đường bộ và đường
sắt cũng như cho Cảng Cần Thơ và một số Cảng khác ở ĐBSCL, song không thể ưu tiên
đầu tư cho phương thức vận tải này ở một khu vực mà sông rạch đan chen khắp vùng. Do
đó xu thế tất yếu là phải phát triển vận tải đường sông của Thành phố Hồ Chí Minh. Việc
xây dựng mới Cảng Sông Phú Định và một số bến bốc xếp khác cũng như quy hoạch cải
tạo, sử dụng hay di dời hợp lý các bến cũ là điều cần thiết phải làm.
* Vị trí xây dựng Công ty Sông Phú Định :
Từ năm 1987 Sở Giao thông Công chánh Thành Phố đã có luận chứng xác định
vị trí Cảng sông của Thành phố, trong đó có 2 vị trí được đề xuất để so sánh là Phú Định
và Cây Khô và địa điểm được nhất trí chọn là tại vị trí ngã 3 sông Rạch Cát (Cần Giuộc)
Chợ Đệm Kênh Đôi thuộc phường 16 , Quận 8 với địa danh là Phú Định.
Đây là địa điểm lý tưởng cho việc xây dựng Cảng sông quy mô lớn của Thành
phố Hồ Chí Minh về phương diện vận tải cũng như khai thác Cảng, thể hiện ở các ưu điểm
chủ yếu sau :
- Đây là vị trí xuất phát từ Thành phố đi về ĐBSCL bằng 3 tuyến đường thủy:
tuyến Tp.HCM – Đồng Tháp Mười – Tứ Giác Long Xuyên, tuyến Tp.HCM-Kiên Lương
và tuyến Tp.HCM-Cà Mau (có thể đi thẳng đến Công ty qua rạch Cần Giuộc, mà không
cần đi vòng qua rạch Cây Khô) và cùng là điểm xuất phát thuận lợi đi các Tỉnh Miền Đông
cũng như đến các vùng thuộc địa bàn kinh tế trọng điểm phía nam: Tp.HCM-Bà Rịa Vũng
Tàu-Đồng Nai-Bình Dương.
- Đây là vị trí rất tiện lợi về mặt liên thông thủy – bộ, nối Cảng với các trục
đường bộ chính của Thành phố và khu vực như Quốc lộ 1A đường Bình Thuận, đường
vành đai của Thành phố nối thông với khu công nghiệp Hiệp Phước, Thành phố Nhơn
Trạch, đường cao tốc đi Vũng Tàu và nối thông với các đường trục đi nội thành như đường
Hùng Vương, đường Chương Dương-Hàm Tử-Trần Văn Kiểu. Do đó việc sớm xây dựng
16
XÍ
NGHIỆP
CUNG
ỨNG
VlXD
CC XÍ
NGHIỆP
XY LẮP
CƠNG
TRÌNH
PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC
Bến Tàu khách.
Các Xí nghiệp xếp dỡ.
Xí nghiệp Dịch vụ Cung ứng Vật liệu Xây dựng.
Các Xí nghiệp Xây lắp Công trình.
2.6 Sơ đồ tổ chức hoạt động
2.7 Chức năng, nhiệm vụ các phòng ban
Chủ tịch HĐQT :
- Thay mặt Hội đồng quản trị ký các nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị.
- Tổ chức theo dõi và giám sát việc thực hiện các nghị quyết, quyết định của Hội
đồng quản trị .
- Các quyền khác theo phân cấp, ủy quyền của Hội đồng quản trị, người quyết định
thành lập công ty.
18
PHÒNG
TỔ CHỨC
HÀNH
CHÍNH
PHÒNG
TỔ CHỨC
NGHIỆP
XẾP DỠ
XÍ
NGHIỆP
CUNG
ỨNG
VlXD
XÍ
NGHIỆP
CUNG
ỨNG
VlXD
CÁC XÍ
NGHIỆP
XLCT
CÁC XÍ
NGHIỆP
XLCT
TỔNG GIÁM ĐỐC
TỔNG GIÁM ĐỐC
PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC
PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
Tổng Giám đốc :
- Phụ trách chung.
- Chịu trách nhiệm trước Nhà nước toàn bộ các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh
của Cảng. Trực tiếp chỉ đạo các phòng ban nghiệp vụ và các công tác sau :
+ Công tác quản lý tài chính, tài sản.
+ Công tác tổ chức cán bộ, lao động tiền lương, tuyển dụng và bố trí lao động.
toàn giao thông và phòng ngừa ô nhiễm môi trường. Bộ phận Kỹ thuật tham mưu cho
Giám đốc trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, duy tu sửa chữa, kinh doanh xây dựng công
trình, quản lý kỹ thuật thiết bị, cần trục, kỹ thuật bốc xếp, kỹ thuật an toàn lao động.
4) Ban Quản lý Dự Án : Là một bộ phận chuyên môn nghiệp vụ, có trách nhiệm tổ
chức quản lý, điều hành thực hiện và giám sát tất cả các nội dung, công việc của các dự án:
cảng Sông Phú Định và các dự án khác do Cảng làm chủ đầu tư theo đúng trình tự, nguyên
tắc và thể lệ đã được Nhà nước qui định.
Nghiên cứu nắm chắc các văn bản pháp qui hiện hành về công tác quản lý đầu tư và
xây dựng cơ bản và kịp thời cập nhật các văn bản thay đổi có liên quan, để áp dụng vào
quá trình thực hiện công tác chuyên môn nghiệp vụ một cách chặt chẽ và có hiệu quả.
Tổ chức thực hiện có chất lượng, đảm bảo tiến độ các nội dung công việc của toàn bộ quá
trình đầu tư. Bao gồm cả nội dung công tác của giai đoạn chuan bị đầu tư.
5) Các Xí nghiệp xếp dỡ :
Hoạt động theo cơ chế khoán của Công ty, là nơi quản lý lao động thực hiện việc tổ
chức xếp dỡ hàng hóa cho khách hàng đảm bảo số lượng, chất lượng, thời gian, tiêu chuẩn
kỹ thuật, an toàn cho người, phương tiện, hàng hóa trong quá trình xếp dỡ. Thống kê kết
quả sản lượng, doanh thu báo cáo về Công ty.
6) Bến tàu khách :(Tàu cánh ngầm đi TP.HCM – Vũng Tàu)
Quản lý tài sản, cơ sở vật chất của Công ty tại Bến Tàu khách Thành phố (Bến
Nguyễn Kiệu).
Tổ chức hướng dẫn các phương tiện ra vào bến, đảm bảo trật tự an toàn cầu tàu, giữ
gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường đồng thời hướng dẫn hành khách lên xuống tàu an toàn
cho người và hành lý.
Phát hiện và ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực xảy ra trong khu vực bến.
20
Phối hợp với Cảng vụ khu vực III làm thủ tục cho tàu ra vào bến.
2.8 Thuận lợi và khó khăn
2.8.1 Thuận lợi:
- Được vốn ngân sách cấp do đó vốn không bị lệ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài.
- Trực tiếp quản lý kho, bãi, tàu thuyền neo đậu trong địa bàn, cùng nước q/lý.
B. TÀI SẢN DÀI HẠN 245,514,282,199 281,189,226,223 35,674,944,024 15%
I. Các khoản phải thu dài hạn
II. Tài sản cố đònh 244,785,513,963 280,572,593,616 35,787,079,653 15%
III. Bất động sản đầu tư 674,400,165 587,728,371 (86,671,794) -13%
IV. Các khoản đầu tư tài chính dài hạn 27,100,000 27,100,000
V. Tài sản dài hạn khác 27,268,071 1,804,236 (25,463,835) -93%
TỔNG CỘNG TÀI SẢN
274,195,104,750 316,990,945,515 42,795,840,765 16%
(Nguồn số liệu: Phụ lục số1 )
Tổng tài sản năm 2009 so với năm 2008 tăng thêm 42.795.840.765 đồng, đạt
tốc độ tăng tài sản khoản 16%, trong đó:
- Tài sản ngắn hạn cuối năm 2009 tăng hơn so với năm 2008 là 7.120.896.741
đồng, đạt tốc độ phát triển 25% và chiếm 2.6% trên tốc độ tăng của tổng tài sản
- Tài sản dài hạn cuối năm 2009 tăng hơn so với năm 2008 là 35.674.944.024
đồng, đạt tốc độ phát triển 15% và chiếm 13.4% trên tốc độ tăng của tổng tài sản
Bảng 3.2: Cân đối tài sản năm 2009-2010
Đơn vò tính: Đồng
TÀI SẢN NĂM 2009 NĂM 2010
CHÊNH
LỆCH
TỶ TRỌNG
22
(1) (2) (3)=(2)-(1) (4)=(3)/(1)
A. TÀI SẢN NGẮN HẠN 35,801,719,292 34,495,608,089 (1,306,111,203) -4%
I. Tiền và các khoản tương đương tiền 6,487,532,077 5,203,681,688 (1,283,850,389) -20%
II. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
III. Các khoản phải thu ngắn hạn 26,677,553,801 27,654,737,126 977,183,325 4%
IV. Hàng tồn kho 13,232,704 12,141,802 (1,090,902) -8%
V. Tài sản ngắn hạn khác 2,623,400,710 1,625,047,473 (998,353,237) -38%
nhiều so với tài sản ngắn hạn. Vì Công ty hoạt động chuyên về vận tải đường sông, buôn
bán máy móc thiết bị, cho thuê mặt bằng, kho bãi… nên yêu cầu phải có lượng tài sản cố
định lớn để phục vụ hoạt động kinh doanh.
Đi vào chi tiết từng yếu tố tài sản các năm 2008-2009-2010 có các điểm cần giải
thích thêm để thấy được cụ thể hơn trong cơ cấu tài sản của công ty như sau:
- Tiền và các khoản tương đương tiền: từ năm 2008 đến năm 2010 có sự biến động
tương đối lớn chủ yếu là giai đoạn 2008 và 2009 gần như tăng gấp đôi 3.293.231.817
đồng, đạt tỷ lệ tăng 103%. Vì Công ty hoạt động trong lĩnh vực giao thông vận tải cảng
sông, cần sử dụng nhiều vốn lưu động để thuê kho bãi, trả lương, thưởng cho nhân công,
mua bán vật liệu, vật tư, máy móc, mua sắm thuyền bè, xây dựng Cảng công, thủy lợi, nộp
thuế…. sang năm 2010 có giảm hơn so với năm 2009 nhưng không đáng kể.
- Các khoản phải thu ngắn hạn: nhìn chung từ năm 2008 đến năm 2010 tăng, trong
đó giai đoạn năm 2008-2009 chênh lệch tăng 8.029.916.184 đồng chiếm tỷ lệ tăng 43%,
và năm 2009 so với năm 2010 chênh lệch tăng 977.183.325 đồng chiếm tỷ lệ tăng 4% . Vì
giai đoạn 2008-2009 do Công ty cho thuê kho, bốc xếp, cung ứng vật liệu xây dựng chưa
thu tiền khách hàng. Năm 2010 khoản phải thu ngắn hạn giảm do khách hàng đã thanh toán
các khoản nợ trước.
- Hàng tồn kho: chủ yếu là một số công cụ bảo hộ lao động cấp phát cho công nhân,
chiếm tỷ trọng không đáng kể trên tổng tài sản qua các năm.
- Tài sản ngắn hạn khác: chủ yếu là các khoản tạm ứng nội bộ, từ năm 2008 đến
năm 2010 giảm từ 6.821.104.042 đồng còn 1.625.047.473 đồng, cho thấy Công ty tích cực
thu hồi các khoản tạm ứng bổ sung lượng tiền mặt phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh và
đầu tư vào dự án Cảng sông Phú Định.
- Tài sản cố định: tăng đều qua các năm đạt tỷ lệ tăng 15%, 16% do có một số hạng
mục xây dựng cơ bản dự án Cảng sông Phú Định đã hoàn thành và đưa vào khai thác sử
dụng cho hoạt động kinh doanh.
24
- Các khoản đầu tư tài chính dài hạn: chủ yếu là đầu tư vào trái phiếu, năm 2010 đã
đến kỳ hạn chuyển đổi thành tiền, khoản này chiếm tỷ trọng khơng đáng kể trong cơ cấu
tài sản của Cơng ty.