NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
PHÂN VIỆN PHÚ YÊN
----------
BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài:
Phá giá tiền tệ có cải thiện được cán cân thương mại ?
Một cuộc phá giá thành công cần những điều kiện gì?
Bộ môn: Tài Chính Quốc tế
Lớp : CD3/26
Nhóm sinh viên thực hiện:
Tháng 5/2011
1
Nội dung
1. Cơ sở lý luận của phá giá tiền tệ:
a/ Tác động của phá giá tiền tệ.
b/ Tại sao chính phủ phải phá giá tiền tệ?
2. Cán cân thương mại.
Các yếu tố ảnh hưởng tới cán cân thương mại.
3. Ảnh hưởng của phá giá tiền tệ với cán cân thương mại.
a/ Cán cân thương mại tính bằng nội tệ.
b/ Cán cân thương mại tính bằng USD.
c/ Một số nhân tố ảnh hưởng đến thời gian tác động lên
cán cân thương mại sau khi phá giá bao gồm:
4. Hiệu ứng tuyến j.
5. Điều kiện cải thiện cán cân thương mại.
a/ điều kiện của cán cân thương mại:
b/ Điều kiện Marshall-Lerner
c/ Để một cuộc phá giá thành công thì cần có những điều
kiện gì ?
6. Phá giá tiền tệ trong điều kiện kinh tế Việt Nam và một số
mạnh. Nếu giá hàng xuất khẩu ở trong nước cứng nhắc thì kim
ngạch xuất khẩu chỉ tăng không nhiều đồng thời giá hàng nhập khẩu
tính theo nội tệ sẽ tăng lên do tỷ giá đã thay đổi dẫn đến cán cân
thanh toán vãng lai có thể xấu đi.
-Trong trung hạn:
GDP hay chính là tổng cầu gồm các thành tố chi cho tiêu dùng của
dân cư, chi cho đầu tư, chi cho mua hàng của chính phủ và xuất khẩu
3
ròng. Việc phá giá làm tăng cầu về xuất khẩu ròng và tổng cung sẽ
điều chỉnh như sau:
-Nếu nền kinh tế đang ở dưới mức sản lượng tiềm năng thì các
nguồn lực nhàn rỗi sẽ được huy động và làm tăng tổng cung.
-Nếu nền kinh tế đã ở mức sản lượng tiềm năng thì các nguồn
lực không thể huy động thêm nhiều và do đó tổng cung cũng chỉ
tăng lên rất ít dẫn đến việc tăng tổng cầu kéo theo giá cả, tiền
lương tăng theo và triệt tiêu lợi thế cạnh tranh của việc phá giá.
Vì thế trong trường hợp này, muốn duy trì lợi thế cạnh tranh và
đạt mục tiêu tăng xuất ròng thì chính phủ phải sử dụng chính
sách tài chính thắt chặt (tăng thuế hoặc giảm mua hàng của
chính phủ) để tổng cầu không tăng nhằm ngăn chặn sự tăng lên
của giá cả trong nước.
- Trong dài hạn:
Nếu như trong trung hạn, phá giá tiền tệ kèm theo chính sách tài
chính thắt chặt có thể triệt tiêu được áp lực tăng giá trong nước thì
trong dài hạn các yếu tố từ phía cung sẽ tạo ra áp lực tăng giá. Hàng
nhập khẩu trở nên đắt tương đối và các doanh nghiệp sử dụng đầu vào
nhập khẩu sẽ có chi phí sản xuất tăng lên dẫn đến phải tăng giá; người
dân tiêu dùng hàng nhập khẩu với giá cao hơn sẽ yêu cầu tăng lương
và gây áp lực làm cho tiền lương tăng. Cuối cùng việc tăng giá cả và
tiền lương trong nước vẫn triệt tiêu lợi thế cạnh tranh do phá giá. Các
thặng dư. Ngược lại, khi mức chênh lệch nhỏ hơn 0, thì cán cân
thương mại có thâm hụt. Khi mức chênh lệch đúng bằng 0, cán cân
thương mại ở trạng thái cân bằng.
Cán cân thương mại còn được gọi là xuất khẩu ròng hoặc thặng dư
thương mại. Khi cán cân thương mại có thặng dư, xuất khẩu
ròng/thặng dư thương mại mang giá trị dương. Khi cán cân thương
mại có thâm hụt, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại mang giá trị âm.
Lúc này còn có thể gọi là thâm hụt thương mại. Tuy nhiên, cần lưu ý
là các khái niệm xuất khẩu, nhập khẩu, xuất khẩu ròng, thặng dư/thâm
hụt thương mại trong lý luận thương mại quốc tế rộng hơn các trong
cách xây dựng bảng biểu cán cân thanh toán quốc tế bởi lẽ chúng bao
gồm cả hàng hóa lẫn dịch vụ.
Các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại
Nhập khẩu: có xu hướng tăng khi GDP tăng và thậm chí nó còn
tăng nhanh hơn. Sự gia tăng của nhập khẩu khi GDP tăng phụ
thuộc xu hướng nhập khẩu biên (MPZ). MPZ là phần của GDP
có thêm mà người dân muốn chi cho nhập khẩu. Ví dụ, MPZ
bằng 0,2 nghĩa là cứ 1 đồng GDP có thêm thì người dân có xu
5
hướng dùng 0,2 đồng cho nhập khẩu. Ngoài ra, nhập khẩu phụ
thuộc giá cả tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước và
hàng hóa sản xuất tại nước ngoài. Nếu giá cả trong nước tăng
tương đối so với giá thị trường quốc tế thì nhập khẩu sẽ tăng lên
và ngược lại. Ví dụ: nếu giá xa đạp sản xuất tại Việt Nam tăng
tương đối so với giá xe đạp Nhật Bản thì người dân có xu hướng
tiêu thụ nhiều xe đạp Nhật Bản hơn dẫn đến nhập khẩu mặt hàng
này cũng tăng.
Xuất khẩu: chủ yếu phụ thuộc vào những gì đang diễn biến tại
các quốc gia khác vì xuất khẩu của nước này chính là nhập khẩu
của nước khác. Do vậy nó chủ yếu phụ thuộc vào sản lượng và
hưởng của phá giá lên csns cân thương mại là như thế nào, chúng ta sử
dụng phương pháp tiếp cận Marshall-Lerner dưới đây.
Trước hết, cần thấy rằng cán cân thương mại được biểu thị bằng giá
trị hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu . nếu giá trị hàng hóa xuất khẩu
lớn hơn giá trị nhập khẩu thì cán cân thương mại thặng dư và ngược lại.
a/ Cán cân thương mại tính bằng nội tệ:
TB = P.Q
X
- E.P
*
.Q
M
(1)
Trong đó :
P : giá hàng hóa xk tính bàng nội tệ.
Q
x
: khối lượng XK
E : tỷ giá
P
*
: giá hàng hóa NK tính bằng ngoại tệ
Q
M
: Khối lượng nhập khẩu
Gọi giá trị xuất khẩu tính bằng nội tệ là X, ta có: X = P.Q
X
; giá trị
nhập khẩu tính bằng ngoại tệ là M, ta có: M = P
*
EdE
XdX
/
/
dX =
η
x
.
X
E
dE
.
(5)
7
-hệ số co dãn xuất khẩu
η
M
: biểu diễn tỷ lệ % thay đổi giá trị nhập
khẩu khi tỷ giá thay đổi 1%. Nghĩa là:
η
M
=
EdE
MdM
/
/
dM = -
η
M
.
TB = X- E.M = 0, hay X/E.M = 1
Phương trình (7) được viết lại như sau:
)1(
−+=
MX
X
dE
dTB
ηη
(8)
Phương trình (8) cho thấy: Nếu trạng thái ban đầu của cán cân
thương mại cân bằng, thì theo Marshall-Lerner khi phá giá nội tệ làm
cho:
cải thiện cán cân thương mại, tức dTB/dE > 0, chỉ khi tổng số
của " hệ số co dãn xuất khẩu " và " hệ số co dãn nhập khẩu "
lớn ơn 1 nghĩa là chỉ khi:
(
η
x
+
η
M
) >1.
thâm hụt cán cân thương mại, tức là dTB/dE < 0 khi
(
η
x
+
η
M