Lời mở đầu
Nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa, hành
khách càng tăng cao, và để đáp ứng nhu cầu đó số lợng xe cơ giới tham gia giao
thông cũng ngày càng tăng. Mặc dù có rất nhiều u điểm nh: tính cơ động cao,
khả năng vận chuyển lớn, giá thành vận chuyển thấp..., nhng trong quá trình
hoạt động, xe cơ giới thờng gặp rủi ro, tai nạn, gây tổn thất lớn về ngời và tài
sản cho các chủ phơng tiện khi tham gia giao thông.
Vì vậy, để bảo vệ chủ xe trong thời gian lu hành, nghiệp vụ bảo hiểm vật
chất xe cơ giới đã ra đời và phát triển. Sự ra đời và phát triển của nghiệp vụ này
là một nhu cầu khách quan nhằm tạo ra sự ổn định về tài chính, từ đó giúp ổn
định về cuộc sống, sản xuất kinh doanh cho các chủ phơng tiện trong trờng hợp
không may gặp rủi ro, tai nạn bất ngờ.
Trong thời gian qua mặc dù đã đạt đợc những kết quả khá cao, nhng bên
cạnh đó một số vấn đề vẫn còn tồn tại cần phải đợc tiếp tục xem xét, giải quyết
nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh doanh của nghiệp vụ này. Xuất phát từ
đó, trong thời gian thực tập tại Phòng bảo hiểm khu vực VII thuộc Công ty cổ
phần bảo hiểm PJICO, em đã lựa chọn đề tài :
Nâng cao hiệu quả kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ
giới tại Công ty cổ phần bảo hiểm PJICO .
Mục đích của bài viết này là làm rõ một số vấn đề về lý luận, đi sâu vào
thực tế triển khai nghiệp vụ này tại PJICO, từ đó đa ra một số ý kiến nhằm nâng
cao kết quả kinh doanh của nghiệp vụ này.
Với mục đích trên thì kết cấu bài viết bao gồm:
PhầnI : Lý luận chung về bảo hiểm vật chất xe cơ giới.
Phần II : Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới
tại Công ty cổ phần bảo hiểm PJICO.
Phần III : Một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh
doanh nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới.
1
đến công tác nâng cấp, phát triển cơ sở hạ tầng đờng sá cầu cống. Điều này đợc
đánh dấu bằng sự tăng lên cả về số lợng và chất lợng đờng bộ, cụ thể: Sau ngày
miền Nam giải phóng, hệ thống giao thông đờng bộ cả nớc có khoảng trên
3
48.000km trong đó quốc lộ là 10.629km với khoảng trên 3.000km đờng bê tông
nhựa, 3.445km láng nhựa, còn lại là mặt đờng đá dăm, cấp phối; Và tính đến
tháng 10/1999, cả nớc có khoảng 204.981km đờng bộ, trong đó quốc lộ có
15.360km, 3.800 cầu với tổng chiều dài 103.400m. Đó là một trong những
thành quả lớn của chính sách đổi mới nhằm phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc. Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt đợc, hệ
thống giao thông đờng bộ còn nhiều hạn chế nh: chất lợng mặt đờng cha đồng
đều; phân bố không đều; có nhiều đèo dốc cao, dài, tầm nhìn bị hạn chế... thêm
vào đó là tình trạng vi phạm luật lệ an toàn giao thông đờng bộ của các chủ ph-
ơng tiện tham gia giao thông nh trở quá tải, phóng nhanh, vợt ẩu, không làm
chủ đợc tốc độ gây tai nạn.
Cùng với quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nớc, số lợng ô tô, xe
máy tăng lên không ngừng. Số ô tô, xe máy cả nớc quý I/1999 là 5.739.400 xe;
đến quý I/2000 con số này là 6.185.977 xe. Đặc biệt trong thời gian qua, mỗi
tháng có 545.000 xe đăng ký đa tổng số phơng tiện tham gia giao thông tính
đến tháng 6/2002 lên tới 10.555.000 xe và theo ớc tính của cơ quan quản lý giao
thông thì số lợng xe còn tăng cao hơn nữa đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập
FTA. Điều này chứng tỏ sự phát triển của phơng tiện giao thông đờng bộ ngày
càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của ngời sử dụng.
Bên cạnh đó phải kể đến chất lợng của chính các phơng tiện giao thông.
Trong những năm gần đây thị trờng xe máy Việt Nam bị tràn ngập bởi xe Trung
Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, xe HonDa đời cũ... chất lợng không đảm bảo nhng
vẫn đợc tiêu thụ mạnh do giá rẻ. Các loại ô tô có tuổi đời quá cao nhng do công
tác kiểm định cha đợc thực hiện chặt chẽ do đó số lợng xe vợt quá niên hạn sử
dụng vẫn tiếp tục tham gia giao thông là rất cao.
2001 25.040 6,2 10.477 48,4 29.188 20,8
6
tháng
2002
14.386 - 6.621 - 16.937 -
(Nguồn: Tạp chí GTVT số 9/2000;9/2002)
Trớc tình hình tai nạn giao thông tăng cả về số vụ và số ngời chết, gây tổn
thất không nhỏ về ngời và tài sản cho các chủ phơng tiện tham gia giao thông.
Tính chung cả nớc, hàng năm thiệt hại về tài sản do tai nạn giao thông lên đến
hàng trăm tỷ đồng, nếu tính bình quân thiệt hại về tài sản của mỗi vụ tai nạn th-
ờng lên đến hàng chục triệu đồng. Đây là một con số không nhỏ đối với các chủ
phơng tiện. Vì vậy, để khắc phục hậu quả do tai nạn gây ra, đảm bảo ổn định tài
chính cho các chủ phơng tiện tham gia giao thông, nghiệp vụ bảo hiểm vật chất
xe cơ giới ra đời và đợc triển khai ở tất cả các công ty bảo hiểm Phi Nhân Thọ
hoạt động tại Việt Nam. Đây là biện pháp tốt nhất để bù đắp thiệt hại sau rủi ro.
Biện pháp này đợc thực hiện dựa trên cơ sở ngời tham gia đóng góp một khoản
tiền nhỏ gọi là phí bảo hiểm để hình thành quỹ tài chính bảo hiểm từ đó sẽ bồi
thờng những thiệt hại về vật chất của bản thân chiếc xe đó khi chúng không
may gặp phải rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm.
Nh vậy, có thể khẳng định rằng bảo hiểm vật chất xe cơ giới là rất quan
trọng và cần thiết đối với các chủ xe trong quá trình điều khiển xe của mình,
góp phần khắc phục tình trạng khó khăn về mặt tài chính khi không may gặp tai
nạn, đồng thời nhanh chóng khôi phục xe về trạng thái ban đầu để tiếp tục hoạt
động kinh doanh.
2. Tác dụng của bảo hiểm vật chất xe cơ giới .
5
Ngay từ khi ra đời và phát triển, nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới đã
khẳng định đợc vai trò tích cực của mình đối với các chủ xe nói riêng và xã hội
nói chung. Điều đó đợc thể hiện:
nguyên tắc số đông bù số ít. Khi đó thay vì phải tự thành lập riêng một quỹ
cho doanh nghiệp thì các chủ phơng tiện có thể yên tâm hoạt động nhờ một quỹ
lớn hơn rất nhiều do các thành viên tham gia bảo hiểm cùng đóng góp.
Ba là, Góp phần đề phòng và hạn chế tổn thất do tai nạn giao thông gây
ra.
Phí thu đợc từ các chủ xe tham gia bảo hiểm hình thành quỹ tài chính bảo
hiểm. Nguồn quỹ này ngoài mục đích chính là để bồi thờng cho các xe khi xảy
ra rủi ro đợc bảo hiểm, còn đợc sử dụng cho mục đích đề phòng và hạn chế tổn
thất. Các công ty bảo hiểm thờng xuyên bỏ ra những khoản tiền không nhỏ để
đặt các biển báo tại những con đờng nguy hiểm, xây dựng đờng lánh nạn, đờng
phụ, hốc cứu nạn, đặt gơng cầu ở những đoạn đèo, dốc nguy hiểm...
Ngoài ra công ty còn khuyến khích xe thực hiện các biện pháp đề phòng
hạn chế tổn thất, tuyên truyền luật lệ giao thông để nâng cao ý thức của ngời
điều khiển các phơng tiện giao thông. Đặc biệt các công ty còn thực hiện việc
giảm phí nếu trong một thời gian nhất định mà xe không gặp phải rủi ro nào. Có
thể nói điều này có ý nghĩa xã hội hết sức to lớn.
Bốn là, Góp phần tăng thu cho Ngân sách Nhà nớc.
Khi đời sống xã hội ngày càng đợc nâng lên, trình độ dân trí cao thì con
ngời càng có nhu cầu bảo vệ bản thân, gia đình và tài sản. Triển vọng phát triển
của nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới là rất lớn vì xe cơ giới là một trong
những tài sản có giá trị của các cá nhân, các tổ chức và nó không chỉ đơn thuần
là phơng tiện đi lại mà còn là công cụ không thể thiếu khi tiến hành bất kỳ một
hoạt động kinh doanh nào. Vì vậy nguồn thu từ nghiệp vụ này không phải là ít,
nó góp phần không nhỏ vào việc tăng thu cho Ngân sách Nhà nớc thông qua
hình thức nộp thuế của các công ty bảo hiểm. Đồng thời Chính Phủ có thể sử
dụng Ngân sách Nhà nớc phối hợp với các doanh nghiệp bảo hiểm đầu t hỗ trợ
nâng cao chất lợng hệ thống cơ sở hạ tầng, đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu đi lại
của ngời dân, từ đó góp phần nâng cao chất lợng đời sống dân c.
7
8
Bảo hiểm vật chất xe cơ giới có liên quan và đợc sự hỗ trợ của một
số bộ luật của quốc gia nh: luật dân sự, luật giao thông đờng bộ, luật kinh doanh
bảo hiểm. Thực hiện tốt các luật liên quan sẽ giúp cho nghiệp vụ này đợc triển
khai dễ dàng và hiệu quả hơn.
II. Nội dung cơ bản của bảo hiểm vật chất xe cơ giới .
1. Đối tợng bảo hiểm .
Bảo hiểm vật chất xe cơ giới là loại hình bảo hiểm mang tính tự nguyện
bởi vì khi tổn thất xảy ra đối với chiếc xe thì chủ xe sẽ là ngời phải gánh chịu
toàn bộ tổn thất đó. Vì vậy, nếu chủ xe muốn đợc bảo vệ thì họ sẽ tự tham gia
bảo hiểm cho xe của mình.
Đối tợng đợc bảo hiểm ở đây là bản thân những chiếc xe còn giá trị và
đợc phép lu hành trên lãnh thổ của quốc gia.
Để xác định xem một phơng tiện giao thông có phải là xe cơ giới không,
ngời ta thờng xem xét các tiêu thức sau:
Xe cơ giới phải đợc gắn động cơ( khác với xe không có động cơ nh
xe đạp, xe do súc vật kéo...).
Xe cơ giới di chuyển trên đất liền không cần đờng dẫn( khác với tàu
hoả, xe điện...).
Xe cơ giới phải có tối thiểu một chỗ cho ngời điều khiển.
Ngoài ra để trở thành đối tợng đợc bảo hiểm, xe cơ giới phải đảm bảo
những điều kiện về mặt kỹ thuật và pháp lý cho sự lu hành- Đợc cơ quan có
thẩm quyền cấp giấy đăng ký xe, biển kiểm soát, giấy chứng nhận kiểm định an
toàn kỹ thuật và môi trờng, giấy phép lu hành xe.
ở Việt Nam, Bộ Tài Chính có quy định rõ trong Nghị định số 115/97/NĐ-
CP ra ngày 17/12/97:
Xe cơ giới là tất cả các loại xe tham gia giao thông trên đờng bộ bằng
động cơ của chính chiếc xe đó, trừ xe đạp máy.
Nh vậy, xe cơ giới bao gồm rất nhiều loại khác nhau nh xe công nông, xe
Nhóm C: Sắt si: khung xe, các cơ cấu bám chặt vào khung và tổng bơm
phanh, dẫn động phanh chính và phanh tay, dẫn động côn, các bình chứa hơi
phanh, bình chứa nguyên liệu, các đờng ống và tuy mô dẫn dầu, dẫn hơi, dây
dẫn điện...
10
7/ Tổng thành lốp: các bộ săm lốp hoàn chỉnh của xe (kể cả săm lốp dự
phòng).
8/ Ngoài ra, có một số loại xe còn có tổng thành chuyên dùng lắp trên
xe để sử dụng theo nhu cầu: cần cẩu nâng, xe cứu hoả, xe cứu thơng...
Việc phân chia xe thành các tổng thành sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc
tính khấu hao khi xe bị h hỏng toàn bộ một tổng thành nào đó.
Thực tế, các công ty bảo hiểm triển khai nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ
giới thờng tiến hành bảo hiểm theo hai hình thức: bảo hiểm toàn bộ xe hoặc bảo
hiểm thân vỏ xe. Vì thông thờng tổng thành thân vỏ xe là phần dễ bị tổn thất
nhất khi rủi ro xảy ra và thân vỏ chiếm một phần lớn trong cơ cấu giá trị của xe
(53,5%).
2. Phạm vi bảo hiểm .
Rủi ro, tai nạn gắn với sự lu hành xe cơ giới rất đa dạng, chịu ảnh hởng
của nhiều yếu tố. Từ những yếu tố khách quan nh thời tiết, địa hình, chất lợng
đờng xá cho đến những yếu tố chủ quan từ phía chủ xe, lái xe. Trớc hàng loạt
rủi ro, tai nạn, việc xác định pham vi bảo hiểm là rất quan trọng.
2.1. Rủi ro đợc bảo hiểm .
Phạm vi bảo hiểm là giới hạn các rủi ro đợc bảo hiểm và cũng là giới hạn
trách nhiệm của ngời bảo hiểm .
Nhà bảo hiểm bồi thờng cho chủ xe những thiệt hại vật chất xảy ra cho
chiếc xe đợc bảo hiểm trong những trờng hợp sau đây:
Tai nạn do đâm va, lật đổ.
Cháy, nổ, bão, lũ lụt, sét đánh, động đất, ma đá.
Mất cắp toàn bộ xe.
Chủ xe (lái xe) vi phạm nghiêm trọng luật an toàn giao thông đờng
bộ nh:
+ Xe không có giấy phép lu hành.
+ Xe không có bằng lái hoặc có nhng không hợp lệ.
+ Lái xe bị ảnh hởng của rợu, bia, ma tuý hoặc các chất kích thích t-
ơng tự khác trong khi điều khiển xe.
12
+ Xe chở chất cháy, nổ trái phép.
+ Xe trở quá trọng tải hoặc quá số hành khách quy định.
+ Xe đi vào đờng cấm.
+ Xe đi đêm không có đèn hoặc chỉ có đèn bên phải.
+ Xe sử dụng để tập lái, đua thể thao, chạy thử sau khi sửa chữa.
Những thiệt hại gián tiếp nh: Giảm giá trị thơng mại, làm đình trệ sản
xuất kinh doanh.
Thiệt hại do chiến tranh.
Tai nạn xảy ra ngoài lãnh thổ quốc gia trừ khi có thoả thuận riêng.
Cần lu ý rằng, giấy chứng nhận bảo hiểm vẫn còn hiệu lực nhng chủ xe cũ
chuyển quyền sở hữu cho chủ xe mới và đồng thời chuyển quyền lợi bảo hiểm
cho chủ xe mới thì quyền lợi bảo hiểm vẫn có hiệu lực đối với chủ xe mới. Nh-
ng nếu chủ xe cũ chỉ chuyển quyền sở hữu mà không chuyển quyền lợi bảo
hiểm thì chủ xe cũ sẽ đợc công ty bảo hiểm hoàn lại phí, đồng thời làm lại thủ
tục bảo hiểm cho chủ xe mới nếu họ yêu cầu.
3. Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm .
3.1 Giá trị bảo hiểm .
Giá trị bảo hiểm là giá trị thực tế trên thị trờng của xe tại thời điểm ngời
tham gia bảo hiểm mua bảo hiểm .
Giá trị bảo hiểm là căn cứ quan trọng để lựa chọn số tiền bảo hiểm và là cơ
sở bồi thờng thiệt hại thực tế cho ngời tham gia bảo hiểm. Vì vậy việc xác định
đúng giá trị bảo hiểm là rất quan trọng nhng để đánh giá đợc chính xác thì
- Đối với xe có thời gian sử dụng dới một năm thì G
KH
= 0, nên giá trị bảo
hiểm bằng giá trị ban đầu của xe.
- Đối với xe có thời gian sử dụng trên một năm (G
KH
> 0) nên giá trị bảo
hiểm luôn nhỏ hơn giá trị ban đầu của xe.
3.2 Số tiền bảo hiểm.
Số tiền bảo hiểm là số tiền nhất định đợc ghi trong giấy chứng nhận
bảo hiểm hoặc giấy yêu cầu bảo hiểm do chủ xe yêu cầu và đợc sự chấp
nhận của công ty bảo hiểm .
Số tiền bảo hiểm có thể bằng giá trị bảo hiểm (bảo hiểm ngang giá trị)
hoặc nhỏ hơn (bảo hiểm dới giá trị) hoặc lớn hơn giá trị bảo hiểm (bảo hiểm
trên giá trị).
Trờng hợp số tiền bảo hiểm nhỏ hơn giá trị bảo hiểm thì đợc gọi là bảo
hiểm dới giá trị, trờng hợp này khi tổn thất xảy ra công ty bảo hiểm sẽ bồi thờng
dựa trên cơ sở tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm và giá trị bảo hiểm .
S
BT
= Giá trị thiệt hại *
G
S
BH
BH
Trong đó:
S
BT
:là số tiền mà công ty bảo hiểm bồi thờng khi rủi ro đợc bảo
hiểm xảy ra.
Ngoài việc thu hút khách hàng bằng công tác chăm sóc khách hàng, bồi thờng
nhanh chóng thì giá cả của sản phẩm bảo hiểm là nhân tố quan trọng để nâng
cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Khi xác định phí bảo hiểm cho từng đối tợng tham gia cụ thể, công ty bảo
hiểm thờng căn cứ vào những nhân tố sau:
Loại xe: Do mỗi loại xe có những đặc điểm kỹ thuật riêng cho
từng loại xe. Thông thờng, các công ty bảo hiểm đa ra những biểu phí xác định
phí bảo hiểm phù hợp cho hầu hết các loại xe thông dụng thông qua việc phân
loại thành các nhóm. Việc phân loại này dựa trên cơ sở tốc độ tối đa của xe, tỷ
lệ gia tốc, sự khan hiếm của phụ tùng, trọng tải xe. Đối với các loại xe hoạt
15
động không thông dụng nh xe kéo Rơmooc, xe trở hàng nặng do mức độ rủi ro
cao nên phí bảo hiểm thờng đợc cộng thêm một tỷ lệ nhất định dựa trên mức phí
cơ bản.
Khu vực giữ xe và để xe: trong thực tế không phải công ty bảo
hiểm nào cũng quan tâm đến vấn đề này. Tuy nhiên, một số công ty bảo hiểm
khi tính phí bảo hiểm đã dựa trên khu vực để xe và giữ xe rất chặt.
Mục đích sử dụng xe: đây là nhân tố quan trọng khi xác định phí
bảo hiểm. Với mục đích sử dụng xe khác nhau thì mức độ rủi ro cũng khác
nhau. Xe dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì khả năng gặp rủi ro cao
hơn rất nhiều so với xe sử dụng cho cá nhân, gia đình hoặc cơ quan hành chính
sự nghiệp. Xe lăn bánh trên đờng càng nhiều thì rủi ro càng lớn.
Tình hình bồi thờng tổn thất những năm trớc: nếu những năm trớc
đó tổn thất xảy ra lớn và thờng xuyên thì phí bảo hiểm sẽ tăng và ngợc lại.
Tuổi tác, kinh nghiệm của lái xe, của ngời yêu cầu bảo hiểm và
những ngời thờng xuyên sử dụng chiếc xe đợc bảo hiểm : số liệu thống kê cho
thấy rằng các lái xe trẻ tuổi bị tai nạn nhiều hơn so với các lái xe lớn tuổi. Trong
thực tế, các công ty bảo hiểm thờng áp dụng giảm phí bảo hiểm cho các lái xe
trên 50 tuổi do kinh nghiệm cho thấy những lái xe này ít gặp tai nạn hơn so với
= *
Hoàn phí bảo hiểm : Có những trờng hợp chủ xe đã đóng phí cả
năm, nhng trong năm xe không hoạt động một thời gian vì một lý do nào đó, ví
dụ nh ngừng hoạt động để tu sửa. Trong trờng hợp này thông thờng công ty bảo
hiểm sẽ hoàn lại phí bảo hiểm cho những tháng ngừng hoạt động đó cho chủ xe.
Số phí hoàn lại đợc tính nh sau:
= Phí cả năm * *
Mỗi công ty bảo hiểm có tỷ lệ hoàn phí là khác nhau. Nhng thông thờng tỷ
lệ này là 80%.
Nếu chủ xe muốn huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm khi cha hết hạn hợp đồng thì
thông thờng công ty bảo hiểm cũng hoàn lại phí bảo hiểm cho thời gian còn lại
đó theo công thức trên, nhng với điều kiện là chủ xe cha có lần nào đợc công ty
bảo hiểm trả tiền bảo hiểm.
17
Phí bảo hiểm vật chất phải đóng cho mỗi đầu xe đối với mỗi loại xe gồm
hai phần: phí thuần (f) và phụ phí (d):
P = f + d
Thực chất phí thuần chính là số tiền bồi thờng bình quân cho mỗi đầu ph-
ơng tiện tham gia bảo hiểm gặp rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm năm thứ i:
f =
=
=
n
1i
i
n
1i
5. Hợp đồng bảo hiểm .
Hợp đồng bảo hiểm vật chất xe cơ giới là sự thoả thuận giữa các bên
theo đó bên mua bảo hiểm (chủ phơng tiện, lái xe) có trách nhiệm nộp phí
18
bảo hiểm, bên bảo hiểm có trách nhiệm trả tiền bồi thờng hoặc trả tiền bảo
hiểm cho ngời tham gia bảo hiểm khi xảy ra các sự kiện bảo hiểm.
Nh vậy, hợp đồng bảo hiểm vật chất xe cơ giới là một bản cam kết giữa
chủ xe với công ty bảo hiểm mà trong đó quy định rõ trách nhiệm và quyền lợi
của mỗi bên. Sau khi ký kết hợp đồng công ty bảo hiểm cấp giấy chứng nhận
bảo hiểm để chủ xe dễ dàng lu giữ và mang theo. Giấy chứng nhận bảo hiểm là
hình thức rút gọn của hợp đồng bảo hiểm, là bằng chứng xác nhận hợp đồng
bảo hiểm đã đợc ký kết, đồng thời chứng nhận chủ xe đã tham gia bảo hiểm.
Thời hạn bảo hiểm của nghiệp vụ này thờng là 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 1
năm để đáp ứng nhu cầu đa dạng của ngời tham gia và tình hình thực tế. Giấy
chứng nhận bảo hiểm đợc cấp cho chủ xe khi đã đóng phí bảo hiểm. Thời hạn
hiệu lực bảo hiểm bắt đầu và kết thúc đợc thể hiện trên giấy chứng nhận bảo
hiểm.
Đối với công ty bảo hiểm .
Trách nhiệm của công ty bảo hiểm .
+ Cung cấp cho chủ xe cơ giới quy tắc, biểu phí, ký hợp đồng bảo hiểm
và chấp nhận bảo hiểm theo đúng luật định. Hớng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi
cho các chủ xe tham gia bảo hiểm .
+ Công ty bảo hiểm có trách nhiệm phối hợp với cơ quan công an thu
thập các giấy tờ cần thiết có liên quan tới vụ tai nạn thuộc phạm vi bảo hiểm .
+ Đối với những vụ tai nạn đặc biệt nghiêm trọng, doanh nghiệp bảo
hiểm phải phối hợp chặt chẽ với chủ xe và cơ quan chức năng ngay từ đầu để
giải quyết. Trong trờng hợp cần thiết, công ty bảo hiểm phải tạm ứng ngay
những chi phí cần thiết và hợp lý trong phạm vi trách nhiệm bảo hiểm nhằm
khắc phục một cách tốt nhất hậu quả của tai nạn.
Không đợc di chuyển, tháo dỡ hoặc sửa chữa tài sản khi cha có ý
kiến của công ty, trừ trờng hợp làm nh vậy là cần thiết để đảm bảo an toàn về
ngời và xe hoặc phải thi hành theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
Chủ xe phải trung thực thu thập và cung cấp các tài liệu, chứng từ
trong hồ sơ yêu cầu bồi thờng và tạo điều kiện thuận lợi cho công ty bảo hiểm
trong quá trình xác minh tính chân thực của các tài liệu, chứng từ đó.
20
Nếu chủ xe không thực hiện đầy đủ các trách nhiệm trên công ty
bảo hiểm có quyền từ chối một phần hoặc toàn bộ số tiền bồi thờng.
Quyền lợi của chủ xe.
+ Khi xảy ra tai nạn thuộc phạm vi bảo hiểm chủ xe sẽ đợc bồi thờng
nhanh chóng, chính xác.
+ Chủ xe có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giải thích các điều
kiện, điều khoản của nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới, đợc cấp giấy
chứng nhận bảo hiểm .
+ Chủ xe có quyền yêu cầu bổ sung thêm hợp đồng, xác định lại giá trị xe,
yêu cầu mở rộng phạm vi bảo hiểm. Chủ xe có quyền huỷ bỏ hợp đồng hoặc đề
nghị thay đổi một số điều khoản trong hợp đồng. Khi hợp đồng hết hiệu lực có
quyền tái tục hợp đồng.
6. Công tác đề phòng và hạn chế tổn thất.
Bảo hiểm vật chất xe cơ giới là nghiệp vụ bảo hiểm tài sản nhng do đặc
điểm riêng của xe cơ giới là vận chuyển bằng đờng bộ tham gia vào quá trình
vận chuyển, hoạt động của xe cơ giới phụ thuộc rất lớn vào địa hình, tình hình
thời tiết và chất lợng kỹ thuật của xe nên là một nguồn nguy hiểm cao độ hay
nói cách khác khả năng xảy ra tai nạn là rất lớn. Xác suất xảy ra rủi ro cao hơn
rất nhiều so với các đối tợng tài sản khác. Vì vậy, khi triển khai nghiệp vụ này,
các công ty bảo hiểm đều chú ý đến việc đề phòng tai nạn xảy ra và cách khắc
phục hậu quả khi tai nạn xảy ra. Hàng năm các công ty thờng tiến hành trích
một phần doanh thu từ nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới để phục vụ cho
1/Tiếp nhận thông tin từ phía khách hàng: Trong bất kỳ hợp đồng bảo
hiểm nào cũng đều có những quy định về nghĩa vụ của ngời tham gia bảo hiểm,
trong đó khách hàng có nghĩa vụ thông báo ngay cho công ty bảo hiểm biết khi
có rủi ro xảy để công ty bảo hiểm có biện pháp xử lý kịp thời (PJICO quy định
là 5 ngày).
Khi nhận đợc thông báo của khách hàng về tai nạn, cán bộ của công ty cần
nắm đợc những thông tin sau:
+ Tên chủ xe và biển số đăng ký của chiếc xe đó.
+ Xe tham gia bảo hiểm khi nào, loại hình bảo hiểm tham gia?
+ Địa điểm xảy ra tai nạn? Đâm va với vật, ngời hay phơng tiện?
22
+ Có xảy ra thiệt hại với ngời, tài sản hay ngời thứ ba không?
+ Số điện thoại hay địa chỉ để công ty liên lạc lại khi cần thiết.
Sau khi nắm bắt đợc tình hình, giám định viên phải đa ra những nhận định
sơ bộ về phạm vi, thiệt hại.
2/ Hớng dẫn xử lý ban đầu.
Khi xảy ra tai nạn các chủ xe, lái xe thờng rất bối rối, không biết phải làm
gì? Vì vậy cán bộ của công ty cần hớng dẫn họ những việc phải làm nh:
+ Thực hiện những hoạt động cần thiết và có thể để hạn chế tổn thất xảy
ra lớn hơn.
+ Giữ nguyên hiện trờng của vụ tai nạn.
+ Giúp đỡ cán bộ điều tra, công an hoàn tất biên bản khám nghiệm hiện tr-
ờng một cách chính xác.
Về phía cán bộ của công ty, khi đánh gia sơ bộ nếu thấy tổn thất là nghiêm
trọng thì phải báo cho lãnh đạo của công ty để kịp thời chỉ đạo:
+ Lập phơng án giám định: cử ra chuyên viên giám định, đa ra thời gian
giám định.
+ Thông báo và thống nhất với ngời điều khiển phơng tiện về kế hoạch
giám định của mình.
Yêu cầu đối với biên bản giám định:
+ Phải ghi lại tỉ mỉ những gì mà giám định viên thấy.
+ Nội dung phải trung thực, rõ ràng, cụ thể.
+ Số liệu đa ra phải phù hợp với các tài liệu dẫn chứng.
5/ Xác định số tiền bồi thờng trên cơ sở đánh giá thiệt hại trong biên bản
giám định.
Căn cứ vào giấy chứng nhận bảo hiểm, mức độ thiệt hại thực tế và mức độ
lỗi của ngời tham gia để xác định số tiền bồi thờng.
Sau khi xác định đợc thiệt hại mà công ty phải gánh chịu, công ty sẽ thoả
thuận với chủ xe về mức đền bù và hình thức thanh toán.
Hớng dẫn chủ xe lập giấy yêu cầu bồi thờng.
Trong trờng hợp tổn thất toàn bộ, công ty bồi thờng toàn bộ thì chiếc xe bị
tai nạn sẽ thuộc về công ty, công ty có quyền thu hồi chiếc xe.
24
7.2 Bồi thờng.
Bồi thờng thiệt hại là khâu công việc rất quan trọng trong quy trình triển
khai một sản phẩm bảo hiểm. Bởi đây là khâu thể hiện trách nhiệm của doanh
nghiệp bảo hiểm đối với khách hàng cũng nh thể hiện quyền lợi của khách hàng
và phản ánh rõ nhất lợi ích của sản phẩm. Vì vậy, yêu cầu của công tác bồi th-
ờng là doanh nghiệp phải tiến hành bồi thờng nhanh chóng, chính xác cho
khách hàng đảm bảo khắc phục thiệt hại về tài chính cho khách hàng nhng cũng
đảm bảo yếu tố chính xác cho bản thân doanh nghiệp tránh các trờng hợp trục
lợi có thể xảy ra.
7.2.1 Hồ sơ bồi thờng bao gồm:
Tờ khai tai nạn của chủ xe;
Bản sao của giấy chứng nhận bảo hiểm, giấy chứng nhận đăng ký xe, giấy
chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trờng phơng tiện cơ giới
đờng bộ, giấy phép lái xe;
Kết luận điều tra của công an hoặc bản sao bộ hồ sơ tai nạn gồm: Biên bản