nghiên cứu hiệu quả của hai phác đồ xử trí buồng trứng đáp ứng kém trong thụ tinh trong ống nghiệm - Pdf 22

Bộ giáo dục & đào tạo Bộ y tế
trờng đại học y hà nội
***
đào lan hơng
Nghiên cứu hiệu quả của hai phác đồ xử trí
buồng trứng đáp ứng kém trong
thụ tinh trong ống nghiệm
đề cơng nghiên cứu sinh
Hà nội - 2012
1
Bộ giáo dục & đào tạo Bộ y tế
trờng đại học y hà nội
***
đào lan hơng
Nghiên cứu hiệu quả của hai phác đồ xử trí
buồng trứng đáp ứng kém trong
thụ tinh trong ống nghiệm
đề cơng nghiên cứu sinh
Chuyên ngành : Phụ khoa
Mã số : 60.72.13. 05
Hớng dẫn khoa học:
1. PGS.TS Nguyn Vit Tin
2. TS.BSCKII Nguyn Huy Bo
Hà nội - 2012
2
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AFC : Antral Follicle Count
AI : Aromantase Inhibitor
AMH : Anti Mullerian Hormone
BN : Bệnh nhân
BTĐƯK : Buồng trứng đáp ứng kém

E-mail : [email protected]
Học vị : Thạc sỹ chuyên ngành Phụ khoa
Đơn vị công tác : Khoa Hỗ trợ sinh sản- Bệnh viện Phụ sản Hà Nội
Địa chỉ : Đường Đê La Thành- Ngọc Khánh- Ba Đình- Hà Nội
BÀI LUẬN VỀ DỰ ĐỊNH NGHIÊN CỨU
4
Buồng trứng đáp ứng kém (BTĐƯK) với kích thích buồng trứng làm
giảm tỷ lệ thành công của các chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm do giảm số
noãn và số phôi thu được. Hiện tượng này thường xảy ra ở những bệnh nhân
trên 35 tuổi, có bất thường trị số nội tiết cơ bản, tiền căn phẫu thuật trên
buồng trứng… làm giảm dự trữ buồng trứng. Tuy nhiên, BTĐƯK với KTBT
có thể xảy ra ở các trường hợp không có một dấu hiệu tiên lượng đáp ứng
kém nào. Bệnh nhân có dự trữ buồng trứng bình thường vẫn có thể đáp ứng
kém với KTBT. Như vậy, BTĐƯK với KTBT không đồng nghĩa với giảm dự
trữ buồng trứng.
Cải thiện tỷ lệ có thai lâm sàng ở nhóm bệnh nhân này là một nhiệm vụ
vô cùng khó khăn đối với những người thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Đã
có những thay đổi trong điều trị nhằm cải thiện tỷ lệ có thai trên những bệnh
nhân có BTĐƯK trong TTTON như cải tiến trong kỹ thuật labo: tiêm tinh
trùng vào bào tương noãn, hỗ trợ phôi thoát màng… và thay đổi các phác đồ
KTBT về phía lâm sàng với hy vọng tăng cơ hội làm mẹ cho các phụ nữ trước
khi đi đến giải pháp cuối cùng là thụ tinh ống nghiệm xin trứng. Tuy nhiên
một phương pháp thực sự hiệu quả trên nhóm bệnh nhân này vẫn còn là một
câu hỏi chưa được trả lời thoả đáng.
Trên thế giới tỷ lệ BTĐƯK trong TTTON thường dao động từ 10-20%.
Các nhà lâm sàng đã đưa ra một số giải pháp thay đổi các phác đồ KTBT
nhằm tăng tỷ lệ có thai đối với nhóm đáp ứng kém với KTBT như sử dụng
phác đồ antagonist, bổ sung LH tái tổ hợp, sử dụng hMG, hormone tăng
trưởng, thuốc ức chế men thơm hoá (AI)… Tuy nhiên, các nghiên cứu khác
nhau đưa ra những kết quả khác nhau do cách lựa chọn đối tượng nghiên cứu,

6
1990. Ngay sau khi ra trường tôi đã có may mắn được học tập và làm việc
cùng Giáo sư Nguyễn Thị Xiêm, một giáo sư nhiều kinh nghiệm về lĩnh vực
nội tiết vô sinh, trong 8 năm. Trong thời gian này tôi cũng đã có được những
kiến thức cơ bản về Vô sinh - Hiếm muộn và cũng đã có những bài viết, công
trình nghiên cứu khoa học được đăng báo. Trong thời gian làm việc taị Bệnh
viện Phụ sản Hà nội, công tác tại khoa Hỗ trợ sinh sản của bệnh viện, trực tiếp
khám và điều trị cho các cặp vợ chồng vô sinh hiếm muộn, tôi không ngừng
học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ chuyên môn. Khi được Bệnh viện cử
đi học sau đại học, tôi lựa chọn Trường đại học Y Hà Nội là cơ sở đào tạo
nghiên cứu. May mắn tiếp theo cho tôi là được PGS.TS. Nguyễn Viết Tiến,
người Thầy có rất nhiều kinh nghiệm về lĩnh vực Sản phụ khoa nói chung và
Hỗ trợ sinh sản nói riêng, trực tiếp hướng dẫn luận văn tốt nghiệp cao học về
đề tài Hỗ trợ sinh sản, giúp đỡ tôi bảo vệ thành công luận văn thạc sỹ.
Với mong muốn được nghiên cứu sâu hơn về lĩnh vực Hỗ trợ sinh sản,
đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào mục đích cải thiện tỷ lệ thai lâm
sàng trong TTTON, tôi nộp hồ sơ xin dự tuyển nghiên cứu sinh khoá 30 của
Trường Đại học Y Hà nội. Cho đến nay PGS.TS Nguyễn Viết Tiến đã đồng ý
hướng dẫn tôi tiếp tục trên con đường nghiên cứu khoa học bởi đề tài này có
tính khả thi, mang ý nghĩa thực tiễn và nhân văn cao cả. Bên cạnh đó tôi lại được
TS.BSCKII Nguyễn Huy Bạo, Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, hướng dẫn
tôi về phương pháp nghiên cứu khoa học, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong
quá trình học tập nghiên cứu. Đó cũng chính là những nguồn động lực vô cùng
qúy giá giúp tôi vững bước trên con đường nghiên cứu khoa học.
Tôi hy vọng với những điều kiện thuận lợi trên Nhà trường sẽ chấp nhận
và tạo điều kiện cho tôi được tham dự khoá nghiên cứu sinh 30 của Trường.
7
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tỷ lệ thành công của các chu kỳ hỗ trợ sinh sản (HTSS) phụ thuộc vào
nhiều yếu tố, trong đó số lượng và chất lượng nang noãn giữ vai trò rất quan

LH có thể là LH tái tổ hợp, cũng có thể từ hMG hoặc HP-hMG. Tuy nhiên
thời điểm sử dụng và cách sử dụng LH ở từng phác đồ vẫn còn chưa thống
nhất và tuỳ vào kinh nghiệm riêng của từng bác sỹ. Cho đến nay vẫn chưa có
một nghiên cứu nào đánh giá một cách toàn diện về hiệu quả điều trị của các
phác đồ trên.
Để không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ bệnh nhân, nhằm tìm ra
phác đồ KTBT hiệu quả nhất đối với nhóm bệnh nhân có BTĐƯK trong
TTTON, các yếu tố liên quan đến tỷ lệ thành công và hiệu quả điều trị, giúp
hiểu thêm về nhóm bệnh nhân này và có thêm nhiều thông tin để tư vấn bệnh
nhân có được quyết định lựa chọn tối ưu khi làm TTTON, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu: “Nghiên cứu hiệu quả của hai phác đồ xử trí buồng trứng đáp
ứng kém trong thụ tinh trong ống nghiệm” với các mục tiêu sau:
1. Mô tả đặc điểm của nhóm buồng trứng đáp ứng kém trong thụ tinh
trong ống nghiệm
2. Đánh giá hiệu quả của hai phác đồ xử trí buồng trứng đáp ứng kém
trong thụ tinh trong ống nghiệm
3. Phân tích một số yếu tố liên quan đến kết quả thụ tinh trong ống
nghiệm của hai phác đồ này
9
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM VÀ CÁC PHÁC ĐỒ KTBT
1.1.1. Định nghĩa TTTON
Thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) là chọc hút một hay nhiều noãn đã
trưởng thành từ buồng trứng cho thụ tinh với tinh trùng (đã được lọc rửa) trong
ống nghiệm. Sau khi noãn thụ tinh phát triển thành phôi, chuyển phôi tốt vào
buồng tử cung để phôi làm tổ và phát triển thành thai nhi [6],[8],[14],[24].
Hình 1.1. Thụ tinh trong ống nghiệm [8]
1.1.2. Các thuốc được sử dụng trong các phác đồ KTBT trong TTTON
1.1.2.1. Chất đồng vận (Agonis) của Gonadotropin releasing Hormone (GnRHa)

11
Khi phối hợp với FSH để KTBT, chất đối vận GnRH chỉ cần được tiêm
quanh thời điểm có nguy cơ xuất hiện đỉnh LH nội sinh.
GnRH antagonist được sử dụng trong các phác đồ KTBT hiện nay gồm:
Ganirenix (Orgalutran của Organon) và Cetrorelix (Cetrotide của Serono) là
các chất đối vận thế hệ thứ ba được đưa vào sử dụng trong khoảng vài năm
gần đây với hiệu quả cao và tác dụng phụ rất thấp. Liều sử dụng hiện nay
thường là 0,25mg mỗi ngày tiêm dưới da [11],[26]
1.1.2.3. Human Menopausal Gonadotropins (hMG)
hMG đã được chiết xuất thành công và sử dụng trên 30 năm từ nước tiểu
của phụ nữ sau mãn kinh. Thành phần gồm FSH và LH với hàm lượng tương
đương nhau [3].
Cơ chế tác dụng của thuốc là cung cấp một lượng Gonadotropins ngoại
sinh gồm FSH và LH để làm tăng sự phát triển của các nang noãn ở buồng
trứng [11].
hMG được sản xuất dưới dạng ống, dùng tiêm bắp chứa 75 đơn vị quốc
tế FSH và 75 đơn vị quốc tế LH.
Biệt dược là Menogon 75IU ( Hãng Ferring)
1.1.2.4. Highly-purified Human menopausal gonadotropins (HP-hMG)
Là Menotropin có độ tinh khiết cao. Biệt dược là Menopur (Hãng
Ferring), thành phần 75IU FSH: 75IU LH và chứa một lượng nhỏ hCG. Đóng
gói dạng ống, tiêm bắp.
1.1.2.5. Follicle Stimulating Hormone tái tổ hợp (rFSH)
Nước tiểu người thường chứa nhiều các tạp chất, không thể loại được
hoàn toàn trong quá trình chiết xuất. Người ta cũng lo ngại sự tạp nhiễm trong
nước tiểu người trong quá trình thu thập, quản lý và chiết xuất gonadotropins.
12
Đồng thời để đảm bảo nguồn cung cấp FSH ổn định phục vụ nhu cầu sử dụng
ngày càng tăng, vào đầu những năm 90, FSH tinh khiết được tổng hợp bằng
công nghệ tái tổ hợp đã được giới thiệu và đưa vào sử dụng KTBT [10]

trưởng thành; (2) Làm tăng số noãn thu được trong một chu kỳ và tỷ lệ noãn
trưởng thành cao, giúp tăng số phôi có được trong một lần KTBT; (3) Giúp các
bác sỹ chủ động trong việc lên chương trình và sắp xếp bệnh nhân.
Nhược điểm: (1) Do ức chế gần như hoàn toàn tuyến yên, do đó phải
tăng lượng FSH ngoại sinh để KTBT dẫn đến tăng giá thành điều trị; (2) Thời
gian dùng thuốc dài, trung bình khoảng 23 ngày, số mũi tiêm trung bình
khoảng 34 mũi
N1/N21 chu kỳ LH< 5IU/l
Kinh nguyệt E2<50 pg/ml hCG
1 tháng
Hình 1.2. Phác đồ dài
GnRHa
FSH
14
1.1.3.2. Phác đồ ngắn agonist
GnRHa được cho từ đầu chu kỳ kinh nguyệt kết hợp với FSH
Ưu điểm: (1) ức chế tuyến yên ít hơn nên số đơn vị FSH ngoại sinh sử
dụng ít hơn phác đồ dài; (2) Số ngày tiêm thuốc ít hơn nên hay được sử dụng
đối với bệnh nhân cho noãn.
Nhược điểm: Kiểm soát sự xuất hiện đỉnh LH kém dẫn đến tỷ lệ phóng
noãn sớm và hoàng thể hoá cao hơn phác đồ dài, thu được ít noãn hơn [11].
N2 CK N6-SÂ-XN hCG
Hình 1.3. Phác đồ ngắn
1.1.3.3. Phác đồ sử dụng GnRH đối vận (antagonist)
KTBT bằng FSH từ ngày thứ 2 chu kỳ, GnRH đối vận bắt đầu quanh
thời điểm có nguy cơ tăng LH nội sinh
Ưu điểm: thời gian điều trị ngắn, thuốc sử dụng ít hơn, số nang noãn thu
được, tỷ lệ noãn thụ tinh và số phôi tương đương phác đồ dài. Kiểm soát được
đỉnh LH do vậy tỷ lệ quá kích buồng trứng thấp hơn so với phác đồ dài [4].
Nhược điểm: Tỷ lệ làm tổ, thai lâm sàng, thai tiến triển giảm nhẹ so với

OR ET
nang noãn và sau khi chọc trứng sẽ thu được 8-10 noãn (với số lượng này cơ
hội có thai là tối ưu) (fasouliotis et al., 2008)
Dự trữ buồng trứng có ý nghĩa dự báo buồng trứng đáp ứng kém hay quá
mức với KTBT và dự báo cơ hội có thai, giúp các nhà lâm sàng sử dụng liều
FSH thích hợp và có thể tư vấn với bệnh nhân về thời gian có thai và khả
năng đáp ứng với KTBT.
1.2.2. Các test đánh giá dự trữ buồng trứng
Các test đánh giá dự trữ buồng trứng gồm test thụ động và test kích
thích. Test thụ động gồm: hormone test, siêu âm test. Test kích thích gồm
Clomiphen citrate test, FSH test.
1.2.2.1. Hormone test
• Nồng độ FSH, LH, E2 cơ bản trong huyết thanh
Xét nghiệm nội tiết vào ngày 3 của chu kỳ đánh giá nồng độ FSH, LH,
E2 cơ bản. Nếu FSH > 10 IU/L có ý nghĩa dự trữ buồng trứng kém [23]. Theo
Ashrafi và cộng sự ở Iran (2005): ở nhóm có nồng độ FSH cơ bản ngày 3 của
chu kỳ ≥ 15 mIU/ml số nang noãn và số noãn thu được ít hơn và số chu kỳ bị
hủy cao hơn so với nhóm FSH < 15 mUI/ml [15].
Nghiên cứu của Shrim và cộng sự ở Isarel (2006) cho thấy tỷ lệ FSH/LH
có giá trị trong tiên lượng đáp ứng của buồng trứng với KTBT. Nhóm có xét
nghiệm ngày 3 chu kỳ FSH/LH ≥ 3 thì nồng độ E2 ngày chọc noãn, số noãn
thu được và tỷ lệ có thai lâm sàng giảm hơn so với nhóm FSH/LH <3 [39].
Nồng độ E2 > 75pg/ml tiên lượng dự trữ buồng trứng giảm, nguy cơ đáp
ứng kém với KTBT, tỷ lệ huỷ chu kỳ tăng và tỷ lệ có thai giảm bất kể nồng
độ FHS cơ bản thế nào (Borekeman 2009)
•Inhibin _B
Là Protein với trọng lượng phân tử 32kDa thuộc họ TGF-ß, có tác dụng
ngăn cản tuyến yên sản xuất ra FSH. Nó được sản xuất bởi các tế bào hạt ở
17
giai đoạn sớm và giữa của pha nang noãn [38]. Inhibin_B được xét nghiệm

•AFC – Antral Follicle Count
AFC là tổng số nang noãn kích thước từ 2-10mm (kích thước trung bình)
đếm được qua siêu âm đầu dò âm đạo ở cả 2 bên buồng trứng [14].
AFC được thực hiện vào ngày 3 của chu kỳ hoặc ngày 1 dùng FSH.
Bình thường mỗi buồng trứng có khoảng 5-10 nang noãn kích thước từ
2-10mm (AFC từ 10-20) [14]. AFC giảm khi mỗi buồng trứng có dưới 3 đến
5 nang thứ cấp [14].
Đây là test đánh giá dự trữ buồng trứng đơn giản, có giá trị dự báo dự trữ
buồng trứng cao nên một số tác giả cho rằng AFC là test nên được lựa chọn
đầu tiên [14].
Tuy nhiên: (1) phụ thuộc vào kinh nghiệm và kỹ thuật siêu âm của các
bác sỹ mà trên cùng một bệnh nhân kết qua AFC không giống nhau [16]; (2)
các nghiên cứu khác nhau có ngưỡng đánh giá dự trữ buồng trứng khác nhau
và AFC chỉ có ý nghĩa khi số nang nguyên thủy đếm được ở mỗi buồng trứng
là rất thấp [37]; (3)AFC có giá trị dự báo rất thấp ở những bệnh nhân có
LNMTC, sử dụng thuốc tránh thai, GnRH agonist [16]
•Thể tích buồng trứng
Thông thường thể tích buồng trứng giảm khi tuổi của người phụ nữ tăng
lên, vì vậy đo thể tích buồng trứng được cho là có khả năng dự báo buồng
trứng [3]. Siêu âm với đầu dò âm đạo vào ngảy 2 của chu kỳ kinh đánh giá thể
tích buồng trứng.
Thể tích buồng trứng được tính: D1 x D2 x D3 x
π
/6. Trong đó D1, D2,
D3 là kích thước 3 chiều của buồng trứng. Thể tích buồng trứng bình thường
từ 3-8cm³, thể tích buồng trứng < 3cm³ dự báo khả năng đáp ứng kém với
KTBT [17].
19
Vai trò trong dự báo dự trữ buồng trứng của siêu âm đánh giá thể tích
buồng trứng có giá trị tương tự nồng độ FSH và E2 cơ bản [17].

1.3. BUỒNG TRỨNG ĐÁP ỨNG KÉM TRONG TTTON
1.3.1. Định nghĩa
Buồng trứng đáp ứng kém (BTĐƯK) trong TTTON là tình trạng số lượng
nang noãn ít, số noãn hút được ít, nồng độ estradiol thấp sau khi sử dụng phác
đồ KTBT chuẩn. Hậu quả của hiện tượng này là giảm số noãn thu được, giảm
số phôi chuyển và giảm tỷ lệ thành công của các chu kỳ TTTON [4].
Định nghĩa về BTĐƯK còn chưa thống nhất. Có tác giả lấy tiêu chuẩn số
nang noãn ngày hCG ≤ 3 hoặc 4 [32], [35]. Có tác giả lấy tiêu chuẩn là số
noãn ≤ 4 hoặc E2 ngày hCG ≤ 500pg/ml [11]. Đa số các nghiên cứu đều lấy
tiêu chuẩn chẩn đoán buồng trứng đáp ứng kém khi số nang noãn phát triển
hay số noãn chọc hút được dưới 3-5 và nồng độ estradiol thấp ở ngày 6 của
KTBT < 200pg/ml hay nồng độ estradiol ngày tiêm hCG dưới 500pg/ml sau
khi đã sử dụng ít nhất 300IU mỗi ngày để KTBT [4].
Theo các báo cáo trên thế giới, tỷ lệ BTĐƯK trong TTTON xảy ra vào
khoảng 9-24%. [15].
1.3.2. Tình hình buồng trứng đáp ứng kém trong TTTON
1.3.2.1. Trên thế giới
Theo Milton Leong (Hong kong) và Pasquale Partrizio (USA) [36]
nghiên cứu trên 124.700 chu kỳ KTBT-TTTON tại 196 trung tâm IVF từ 45
quốc gia, đa số các trung tâm thực hiện trung bình 400 chu kỳ/năm, 2 trung
tâm thực hiện trên 4000 chu kỳ/ năm, cho thấy:
21
Về dấu hiệu để nhận biết BTĐƯK: 71% bệnh nhân có ít hơn 4 nang
noãn vào thời điểm chọc hút trứng. Tuy nhiên có giá trị chẩn đoán chắc chắn
nhất la số nang trứng ít từ 3-5 nang.
Nồng độ E2 huyết thanh có giá trị chấn đoán BTĐƯK trong 67% chu kỳ
KTBT. Mặc dù chưa có ngưỡng chuẩn cho BTĐƯK nhưng người ta nhận
thấy nồng độ E2 ngày tiêm hGC dưới 500 pmol/l là dấu hiệu của BTĐƯK
Về phác đồ sử dụng đối với BTĐƯK, nghiên cứu cho thấy có 53% bệnh
nhân sử dụng phác đồ antagonist, 20% sử dụng phác đồ ngắn agonist, 15% sử

lượng nang noãn phát triển hay số noãn chọc hút được dưới 3-5 và (2) nồng
độ estradiol ngày 6 của KTBT dưới 200pg/ml hoặc nồng độ estradiol đỉnh
dưới 500pg/ml.
1.3.5. Phân loại buồng trứng đáp ứng kém: [4]
Bệnh nhân có BTĐƯK thường ở một trong ba nhóm sau
•Bệnh nhân có tiền sử BTĐƯK trong TTTON mà nồng độ FSH cơ bản
trong giới hạn bình thường
•Bệnh nhân trẻ tuổi nhưng có nồng độ FSH cao cơ bản kéo dài
•Bệnh nhân lớn tuổi và có nội tiết bất thường
Trong ba nhóm trên chỉ có 2 nhóm đầu khi thay đổi phác đồ điều trị mới
có khả năng cải thiện tỷ lệ thành công. Với nhóm thứ 3 thì phương án điều trị
hiệu quả nhất cho những trường họp này là kỹ thuật TTTON xin noãn [4],[6]
1.3.6. Tiên đoán buồng trứng đáp ứng kém
Dựa trên một số đặc điểm có thể dự báo BTĐƯK
•Các dấu hiệu lâm sàng [4]
Tuổi người phụ nữ trên 35. Nhiều báo cáo cho thấy rằng số lượng nang
noãn giảm đi rất nhiều từ 10 năm trước khi người phụ nữ mãn kinh thực sự.
Ước tính có khoảng 10 % phụ nữ mãn kinh trước 46 tuổi, như vậy số nang
noãn của họ giảm đi rất nhiều từ quanh tuổi 35.
23
Tiền sử có phẫu thuật trên buồng trứng như bóc u nang bóc u nang
buồng trứng, u nang dạng lạc nội mạc tử cung
Đã từng có ít nhất một chu kỳ đáp ứng kém với KTBT làm TTTON: số
nang noãn phát triển hay số noãn chọc hút được dưới 3-5 với số đơn vị FSH
sử dụng 300IU/ngày, thời gian KTBT dài > 18 ngày
•Siêu âm
Giảm thể tích buồng trứng, giảm số nang noãn thứ cấp ngày 2 hay 3 của
chu kỳ, giảm lưu lượng máu tới mô đệm buồng trứng [14].
Theo Muttukishna và cộng sự ở Anh (2005) số nang thứ cấp ngày 3 của
chu kỳ liên quan đồng biến có ý nghĩa thống kê với số noãn thu được và tỷ lệ

a. Bổ sung hormone tăng trưởng
Những bằng chứng y học có giá trị cả trên thí nghiệm cũng như trên mô
động vật khẳng định vai trò của growth hormone (GH) trong kích thích nang
noãn phát triển, tăng cường khả năng đáp ứng của buồng trứng với FSH (Jia
et al., 1986; Mason et al., 1990; Doldi et al.,1996). Tác dụng này có được là
do GH kích thích Insulin-like gowth hormone (IGF -1) tác động hiệp đồng
với FSH gây phát triển nang noãn (Adashi and Rohan, 1992; Doldi et al.,
1996). Tuy nhiên các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng về sử dụng GH trong
KTBT vẫn còn cho các kết quả khác nhau.
b. Bổ sung AI
Thuốc ức chế men thơm hoá (Aromantase Inhibitor- AI) như
Anastrozole (Arimidex), Letrozole (Ferama) là một loại thuốc điều trị ung thư
vú ở phụ nữ sau mãn kinh dựa trên cơ chế ngăn cản quá trình thơm hoá
androgen thành estrogen. Nghiên cứu trên động vật cho thấy AI ức chế tổng
hợp khoảng 80% estrogen tại buồng trứng gây feed back âm tính lên tuyến
yên tăng sản xuất FSH kích thích phát triển nang noãn. AI còn làm tăng nồng
độ Adrogen tại buồng trứng giúp tăng đáp ứng của nang noãn với FSH [26].
25

Trích đoạn Kỹ thuật thu thập thụng tin và cỏc bước tiến hành Phõn tớch cỏc yếu tố liờn quan đến kết quả TTTON của 2 nhúm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status