đặc điểm khẩu phần và tình trạng dinh dưỡng của sinh viên hệ chính quy 2 trường đại học, trung cấp tại tỉnh nam định năm 2012 - Pdf 22

ĐẶT VẤN ĐỀ
Sinh viên (SV) là đối tượng cần được quan tâm khi đề cập đến vấn đề
dinh dưỡng và sức khỏe, vì đây là lứa tuổi ở giai đoạn đầu tiên của thời kỳ
trưởng thành sau thời kỳ trẻ em và thanh thiếu niên. Cơ thể ngừng lớn về kích
thước nhưng quá trình thay đổi và tái tạo tế bào vẫn tiếp diễn không ngừng để
duy trì sự sống, chế độ ăn và dinh dưỡng tiếp tục giữ vai trò thiết yếu để bảo
vệ và nâng cao sức khỏe ở thời kì này. Do vậy, đây là lứa tuổi có năng lực cao
vể thể chất và trí tuệ, đồng thời là nguồn lao động bằng trí óc chính của một
quốc gia trong tương lai. Sẽ tai hại khi nghĩ rằng đây là thời kì tràn đầy sức
khỏe có thể không cần phải chú ý giữ ăn uống điều độ, ăn gì cũng được, sống
thế nào cũng xong. Sự thật các vi phạm về ăn uống, lối sống sẽ rút ngắn tuổi
lao động và tuổi thọ đáng kể. Thiếu năng lượng trường diễn và cơ cấu chất
lượng khẩu phần không hợp lí là nguyên nhân dẫn đến sự phát triển thể chất
trí tuệ kém - có thể nói tình trạng dinh dưỡng là trạng thái sức khỏe phản ánh
mức đáp ứng nhu cầu các chất dinh dưỡng của cơ thể [5],[30].
Tình trạng thiếu năng lượng, thiếu protêin, thiếu máu, thiếu sắt, thiếu
calcium. thiếu iod, thiếu vitamin A,… đang là vấn đề phổ biến thường gặp
trong sinh viên chúng ta. Chính vì vậy, mọi lệch lạc trong dinh dưỡng đều có
thể dẫn tới những ảnh hưởng không nhỏ và có thể để lại những hậu quả lâu dài
cho sức khỏe, thể lực và làm giảm sút khả năng học tập của sinh viên, từ đó dẫn
tới giảm sút khả năng làm việc, lao động sau này.
Do vậy khảo sát thực trạng dinh dưỡng cho sinh viên nhằm xây dựng khẩu
phần ăn cân đối, thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng là yêu cầu bức thiết để đảm bảo
sức khỏe, nâng cao chất lượng học tập và đóng góp hiệu quả cho xã hội.
1
Tỉnh Nam Định là một tỉnh với hơn 2 triệu dân nằm ở phía Nam đồng
bằng Bắc bộ. Tại thành phố Nam Định có nhiều trường trung cấp, đại học của
các bộ, ngành cấp Trung ương và tỉnh.
Với một lượng sinh viên đông đảo khoảng trên 10.000 sinh viên, song điều
tra về tình trạng dinh dưỡng, khẩu phần của sinh viên nói chung và sinh viên
của trường đại học sư phạm kỹ thuật và trường trung cấp y tế nói riêng còn

hoặc mất hẳn khả năng lao động. Nhiều nghiên cứu chứng minh rằng nếu nhu
cầu vận động của cơ thể không được thỏa mãn thì sẽ phá hủy các chức năng
và cơ cấu của các cơ quan bên trong cơ thể ngay trong thời kỳ còn tuổi trẻ như phổi,
gan và ở mức độ lớn hơn là cả hệ thống thần kinh và tim mạch [3], [15].
Khi não bị suy yếu có thể được báo động bởi các dấu hiệu thường gặp
như sau:
3
- Mau mệt nhọc và không thể tập trung lâu để giải quyết một vấn đề.
- Rất khó nhớ nhưng mau quên, khó kiểm soát được lời nói và việc làm.
- Sức chịu đựng kém, dễ bị kích thích, hay nóng tính, khó làm chủ
được cảm xúc…
b/ Vai trò của dinh dưỡng đối với lao động trí óc
Lao động trí óc là một hình thức lao động đặc thù của loài người, xuất
hiện từ rất xa xưa, khi con người bắt đầu có tư duy sáng tạo. Sáng tạo nhất
của tạo hóa là bộ não, đây là bước ngoặt to lớn trong quá trình tiến hóa, biến
con người thành một chủ thể sáng tạo. Điều đó cho thấy bộ não đáng được bảo
vệ như một báu vật quý nhất. Hiện nay, cứ khoảng 10 năm thì khối lượng
thông tin vốn đã khổng lồ lại tăng lên gấp đôi, nhưng hoạt động của hệ thần
kinh về mặt sinh học cũng như tốc độ dẫn truyền, khả năng tiếp thu, xử lý
thông tin của não thì hầu như không đổi, nên con người ngày nay luôn sống
trong tình trạng căng thẳng, cuộc sống luôn bị đè nặng bởi nhiều áp lực [12],
[15], [31].
Ở người lao động trí óc và tĩnh tại, tình trạng thiếu hoạt động và thừa cân
nặng là yếu tố nguy cơ. Hệ thống cơ chiếm 70% tổng số khối lượng cơ thể và
tình trạng của nó ảnh hưởng đến tình trạng và chức phận tất cả hệ thống chính
của cơ thể. Triết gia cổ đại Aristote nói: “Không có gì làm suy yếu và hủy
hoại cơ thể bằng tình trạng không lao động kéo dài”. Thầy thuốc danh tiếng
thế kỉ XVIII Tissot khẳng định: “Lao động có thể thay thế các loại thuốc,
nhưng không có thứ thuốc nào có thể thay thế cho lao động”.
Thiếu lao động có ảnh hưởng đặc biệt không tốt tới tình trạng và chức

5
hiệu cho một trạng thái sức khoẻ tốt. Trong phạm vi “khẩu phần an toàn”, cơ
chế “điều chỉnh cân bằng” của cơ thể được thực hiện hiệu quả. Khi tình trạng
thiếu hụt hoặc dư thừa dinh dưỡng xuất hiện, cơ thể con người tự điều chỉnh để
tạo ra một trạng thái cân bằng mới mà không làm suy giảm chức năng sinh học
của cơ thể. Khi vượt quá phạm vi khẩu phần an toàn, các cơ quan trong cơ thể
điều chỉnh để thích ứng với những thay đổi của khẩu phần bằng cách giảm chức
năng hoặc thay đổi khối lượng hoặc trọng lượng.
Khi dự trữ dinh dưỡng cạn kiệt hoặc khẩu phần dinh dưỡng không đủ
cho nhu cầu chuyển hoá hàng ngày của cơ thể, trạng thái thiếu dinh dưỡng
xuất hiện. Thiếu hụt dinh dưỡng có thể do thiếu ăn, rối loạn tiêu hoá và hấp
thu, chuyển hoá kém hoặc do cơ thể tăng cường bài tiết các chất dinh dưỡng
thiết yếu. Tình trạng thiếu dinh dưỡng làm cho cơ thể chậm tăng trưởng và
phát triển, thiếu sức đề kháng với nhiễm trùng, chậm lành vết thương, tăng
nguy cơ mắc bệnh và tử vong. Thừa dinh dưỡng cũng đem lại nhiều vấn đề về
dinh dưỡng như béo phì, đái tháo đường, bệnh xơ vữa động mạch, tăng huyết
áp và các bệnh rối loạn chuyển hoá [11], [13].
a/ Một số kết quả nghiên cứu trên thế giới
Nhiều cuộc nghiên cứu về dinh dưỡng của người trưởng thành mà đặc
biệt là trên đối tượng sinh viên đã được tiến hành và cho thấy chế độ ăn của
sinh viên thường xấu đi và sinh viên thường bị tăng cân lên. Có nhiều yếu tố
chịu trách nhiệm về những thay đổi này, có thể do stress, một lối sống ít vận
động hay thay đổi về lượng thức ăn và mô hình ăn uống [32], [33], [36].
Một số nghiên cứu tìm thấy có mối quan hệ chặt chẽ giữa các bữa ăn
sáng và sinh viên đại học [32],[39]. Bữa ăn của sinh viên thường bị bỏ qua và
không có sự kiểm soát lượng thực phẩm ăn vào hàng ngày.
Trong số các chất dinh dưỡng sinh năng lượng (protein, lipid, glucid) trong
khẩu phần sinh viên thường thấy có dư lượng chất béo, glucid và thiếu chất xơ.
6
Sinh viên tại một số trường Đại học ở Brazil, Chile, Hàn Quốc, Bolivia

các đề tài quan tâm đến khẩu phần [23].
Viện Dinh dưỡng Quốc gia đã tiến hành các cuộc tổng điều tra Dinh
dưỡng toàn quốc lần thứ nhất năm 1990 và lần thứ 2 năm 2000. Kết quả cho
thấy tuy khẩu phần ăn đã có sự cải thiện rõ rệt về cơ cấu chất dinh dưỡng
nhưng so với khuyến nghị được đưa ra dành cho người Việt năm 1996 của
Viện Dinh dưỡng Quốc gia và mới đây là khuyến nghị đưa ra năm 2007 thì
khẩu phần ăn của nhân dân ta vẫn còn thiếu về năng lượng, tỷ lệ % năng
lượng do protein coi như tạm đủ nhưng tỷ số protein động vật so với protein
tổng số còn chưa cân đối, tỷ lệ % năng lượng do chất béo còn thấp [8], [9],
[15], [16]. Tuy nhiên khẩu phần ăn của sinh viên Việt Nam cho đến nay vẫn
chưa có một nghiên cứu cụ thể.
Nghiên cứu của Lê Bạch Mai, Hà Huy Khôi, Nguyễn Công Khẩn về “Xu
hướng diễn biến về tiêu thụ thực phẩm trong bữa ăn người Việt Nam 1985-
2005” cho kết quả như sau [16]:
Về mức tiêu thụ lương thực thực phẩm:
Gạo là loại thực phẩm chính, mức tiêu thụ bình quân khoảng 457g/ người/
ngày ở thời điểm 1958 gần như không thay đổi ở năm 1990 (451g/người/ngày)
và giảm xuống còn 397g/người/ngày vào thời điểm năm 2000 trên phạm vi
toàn quốc. Mức tiêu thụ gạo ở khu vực thành phố thấp hơn nông thôn (tương
đương với 461,4 và 337,3g/ngày).
Mức tiêu thụ các thức ăn chế biến sẵn như bánh mỳ, mỳ tôm tăng lên 4 lần
sau hơn 1 thập kỷ. Nguyên nhân có thể là do sự phát triển của công nghiệp thực
phẩm và cuốc sống khẩn trương trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước (tương ứng 3,6g/người năm 1985 và 16,0g/người /ngày năm 2000). Điều
8
đáng lưu ý là các thức ăn này còn được người nông dân tiêu thụ nhiều hơn .
Cuộc điều tra năm 2006 tại 1 xã nông thôn vùng đồng bằng Sông Hồng cho thấy
mức tiêu thụ nhóm lương thực chế biến sẵn là 79,2g/người/ngày và thay thế
dần lượng ngô, khoai, sắn trong khẩu phần. Khoai củ giảm dần từ 68,2g năm
1985 xuống còn 8,9g năm 2000 trong phạm vi toàn quốc và đang có dấu hiệu

6,8g/người/ngày ở năm 2000 và đạt mức 22g/người/ngày năm 2005. Mức độ
tăng ở thành phố ít hơn (Từ 8,6 g năm 2000 đến 20,9g/người/ngày năm 2005) và
chủ yếu do tăng tiêu thụ dầu thực vật [16]. Rau xanh trong bữa ăn hầu như
không thay đổi trong 2 thập kỷ qua, mức tiêu thụ trung bình đạt khoảng
200g/người/ngày. Tuy nhiên quả chín trong bữa ăn của người dân ở thời điểm
năm 2005 được sử dụng gấp 15 lần so với 20 năm trước, mức tiêu thụ trung bình
tăng từ 5,4 g/người/ngày lên 79,9 g/người/ngày tương ứng với 2 thời điểm năm
2000 và 2005. Vai trò của rau và quả chín như là các nguồn vitamin và các chất
chống oxy hóa đã được khẳng định. Hơn nữa rau quả làm cho bữa ăn có ưu thế
kiềm, hợp lý hơn. Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra mục tiêu là mức tiêu thụ rau
trung bình nên là 400g/ngày. Ở nước ta, luôn sẵn các loại rau, phong phú về
chủng loại và dồi dào về số lượng nhưng mức tiêu thụ rau trung bình mới đạt
200g/người/ngày. Nguyên nhân có lẽ là do vấn đề rau không an toàn, không đảm
bảo vệ sinh, có thể gây ngộ độc do có nhiều dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật
hoặc bị nhiễm giun do tưới bón bằng phân tươi đã làm nhiều người tiêu thụ lo
ngại. Do áp lực công việc người nội trợ thường chế biến rau củ dưới dạng luộc
và nấu canh. Người tiêu thụ rất ngại ăn rau dưới dạng salat, tươi sống vì lo ngại
về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, vì thế các loại rau gia vị ăn sống ít xuất
hiện trong các bữa ăn. Tất cả những điều đó làm cho bữa ăn mất tính cân đối,
mai một truyền thống văn hóa ẩm thực của người Việt Nam, cần được nhanh
10
chóng khắc phục. Việc đưa khuyến nghị tăng tiêu thụ rau và đảm bảo an toàn
cho người tiêu thụ rau là cần thiết [3], [9], [16].
11
Về giá trị dinh dưỡng của khẩu phần:
Nhìn chung, mức năng lượng bình quân đầu người ít thay đổi trong 15 năm
qua, năng lượng trung bình của khẩu phần đạt 1925Kcal/người/ngày năm 1985,
1928 Kcal/người/ngày năm 1990 và 1931 Kcal/người/ngày năm 2000.
Điều tra tại nội thành Hà Nội năm 2005 và một xã nông thôn Đồng bằng
Bắc bộ năm 2006 cũng cho thấy mức năng lượng bình quân đầu người vẫn ở

đến dinh dưỡng như tim mạch, đái tháo đường, ung thư Đó cũng chính là tình
hình đang xảy ra ở nhiều nước đang ở trong thời kỳ chuyển tiếp về dinh dưỡng
như nước ta [12], [16], [24].
1.1.3. Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị của người Việt Nam
a/ Đối với người trưởng thành
- Nhu cầu về năng lượng
Sống và hoạt động của con người thường kèm theo tiêu hao năng lượng
không ngừng. Lao động trí óc dù căng thẳng nhiều hay ít, không kèm theo
tiêu hao năng luợng cao. Ở người lao động trí óc trong điều kiện lao động
chân tay không nhiều ngoài giờ làm việc, tiêu hao năng lượng không quá: 90
- 110 Kcal/giờ.
Lao động trí óc là một hình thức hoạt động mang tính chất tĩnh tại, nên
nhu cầu năng lượng thấp hơn lao động chân tay. Nguyên tắc chính của dinh
dưỡng hợp lý đối với lao động trí óc và tĩnh tại là duy trì năng lượng của khẩu
13
phần bằng với năng lượng tiêu hao, hạn chế glucid và lipid, không nên cung
cấp dư thừa năng lượng vì dễ dẫn đến tích mỡ trong cơ thể. Nhiều tài liệu
khẳng định ảnh hưởng của lượng lipid cao đối với sự hình thành vữa xơ động
mạch sớm ở những người ít lao động chân tay.
Đối với người trưởng thành, trung bình cần khoảng 2200 – 2400 kcal/ngày.
Protit: 15 – 17% (50–60% protein động vật, bảo đảm tính cân đối các acid
amin, nhất là các axit amin chứa lưu huỳnh (S): methionin, cystin, tryptophan
và lysin). Lipit: 20% (gồm 7% chất béo không bão hòa nhiều nối đôi, 7% chất
béo không bão hòa một nối đôi và 6% chất béo bão hòa). Gluxit: 60 – 65%.
Năng lượng cho người lao động trí óc nên phân bố như sau: sáng 12 – 25%,
trưa 25 – 30%, chiều 25 – 30% và tối 10 – 15% [2], [3], [15], [29].
b/ Đối với sinh viên
Trong giai đoạn hiện nay, mô hình ăn uống, hoạt động thể lực, bệnh tật,
tử vong của ở nước ta đã có nhiều thay đổi. Các vấn đề dinh dưỡng tồn tại ở
Việt Nam không chỉ là thiếu dinh dưỡng, mà đã và đang có sự gia tăng các

27,4* 58,8*
18,3** 39,2**
13,7*** 29,4***
Vitamin A (µg) 600 500
Vitamin C (mg) 70 70
Vitamin B1 1,2 1,1
Vitamin B2 1,3 1,1
Vitamin PP 16 14
Ghi chú: *: Khẩu phần có giá trị sinh học sắt thấp (5% sắt được hấp thu). Chế
độ ăn đơn điệu (lượng thịt, cá < 30g/ngày hoặc vitamin C < 25mg).
**: Khẩu phần có giá trị sinh học sắt trung bình (10% sắt được hấp thu).
Chế độ ăn đơn điệu (lượng thịt, cá từ 30 - 90g/ngày hoặc vitamin C từ 25 – 75mg).
***: Khẩu phần có giá trị sinh học sắt cao (15% sắt được hấp thu). Chế độ ăn
đơn điệu (lượng thịt, cá >90g/ngày hoặc vitamin C >75mg/ngày) [3].
1.2. Các nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng ở người trưởng thành và
các vấn đề sức khoẻ liên quan
1.2.1. Khái niệm về tình trạng dinh dưỡng
Từ lâu người ta đã biết có mối liên quan chặt chẽ giữa dinh dưỡng và
tình trạng sức khoẻ. TTDD có thể được định nghĩa là tập hợp các đặc điểm
15
cấu trúc, các chỉ tiêu hoá sinh và đặc điểm các chức phận của cơ thể phản ánh
mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng. Khi mới hình thành khoa học dinh dưỡng,
để đánh giá TTDD, người ta chỉ dựa vào các nhận xét đơn giản như gầy, béo;
tiếp đó là một số chỉ tiêu nhân trắc như Brock, Quetelet, Pignet. Nhờ phát
hiện về vai trò các chất dinh dưỡng và các tiến bộ kỹ thuật, phương pháp đánh
giá TTDD ngày càng hoàn thiện và ngày nay trở thành một chuyên khoa của
dinh dưỡng học [8].
TTDD của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh
dưỡng của cơ thể. Số lượng và chủng loại thực phẩm cần để đáp ứng nhu cầu
dinh dưỡng của con người khác nhau tuỳ theo tuổi, giới, tình trạng sinh lý (ví

nhập ngũ tăng dần từ 1854 trở về sau nhưng lại thụt lùi từ 1896 đến 1900.
Chiều cao trung bình giảm đi 19mm bằng mức tăng được trong 35 năm trước
nhưng sau đó tiếp tục tăng trở lại [14].
17
Ngoài các hồ sơ tuyển quân, có rất ít các thông tin dài hơn về chiều cao
người lớn, đặc biệt là nữ. Các nghiên cứu tiến hành ở Anh trên người trưởng
thành có năm sinh từ 1892 đến 1958 cho thấy mức tăng chiều cao theo thời
gian ở nam là 10,9mm/thập kỷ trong khi đó ở nữ là 3,6mm/thập kỷ, tốc độ ở
nữ chỉ bằng 1/3 ở nam (p<0,05). Sự khác nhau theo giới ở đây rất đáng kể
nhưng chưa quan sát thấy ở nơi khác. Người ta cho rằng sự tăng trưởng ở con
trai có tính đáp ứng hơn con gái với các thay đổi của môi trường do đó khi có
điều kiện tốt hơn chúng lớn tương đối nhanh hơn và ngược lại. Tuy nhiên vẫn
còn chưa thống nhất ý kiến [14].
Bên cạnh khuynh hướng gia tăng về chiều cao còn có các thay đổi đồng
thời về cân nặng, cả ở người lớn và trẻ em. Khuynh hướng này bị ảnh hưởng
rõ ở các thời kỳ chiến tranh và khó khăn về kinh tế. Sau năm 1975 khuynh
hướng gia tăng về chiều cao ở nhiều nước Tây Âu có biểu hiện chững lại
nhưng cân nặng trung bình vẫn tiếp tục tăng, đó là do sự gia tăng của béo phì.
Thời biểu và mô hình của béo phì hoàn toàn khác với khuynh hướng gia tăng
về chiều cao, điều đó phản ánh các nguyên nhân khác nhau [14].
b/ Việt Nam
Theo lý thuyết, cứ sau những khoảng thời gian dài (30-100 năm) tốc độ
lớn về tầm vóc thể lực, đặc biệt là chiều cao của con người lớn lên. Tuy nhiên,
quy luật này thường phổ biến ở các nước tiên tiến. Hơn nữa muốn tìm hiểu
quy luật gia tăng theo thời gian cần phải tiến hành nghiên cứu theo dõi dọc
theo thời gian, khác với phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang vẫn thường
được tiến hành từ trước đến nay [1], [6], [14].
18
Ở nước ta, trong khoảng 40 năm qua (1965-2005) hầu như chưa có công
trình nghiên cứu thể lực người trưởng thành nào tiến hành đúng phương pháp

ở Việt Nam
a/ Tình trạng thiếu năng lượng trường diễn
Thiếu năng lượng trường diễn và cơ cấu chất lượng khẩu phần không
hợp lý là nguyên nhân dẫn đến sự phát triển thể chất, trí tuệ kém có thể nói
tình trạng dinh dưỡng là trạng thái sức khỏe, phản ánh mức đáp ứng nhu cầu
các chất dinh dưỡng của cơ thể.
Nguyên nhân gây thiếu năng lượng trường diễn là do khẩu phần ăn thấp
cả về số lượng và chất lượng, do điều kiện lao động nặng, kéo dài, nhất là ở
nông thôn do điều kiện kinh tế, xã hội còn kém phát triển, thu nhập thấp do
giá trị ngày công lao động thấp. Một nghiên cứu trên 1845 đối tượng là nông
dân, trong đó có 632 nam và 1313 nữ (1992) cho thấy tỷ lệ có BMI dưới mức
bình thường là 69,46% ở nam và 39,49% ở nữ.
Theo kết quả tổng điều tra toàn quốc của Viện Dinh Dưỡng năm 2000
trên 40.000 người trưởng thành >20 tuổi cho thấy: tỷ lệ người bị thiếu năng
lượng trường diễn là 25%. Tỷ lệ này ở nữ cao hơn ở nam, ở xã nghèo lớn hơn
các xã khác, ở vùng thành phố thấp hơn ở nông thôn. Vào năm 2005, một
cuộc tổng điều tra khác trên 16.230 đối tượng từ 25 – 64 tuổi cho thấy tỷ lệ
thiếu năng lượng trường diễn đã giảm đi một cách đáng kể (còn 18,7%) [28].
Sự thay đổi này có thể là do mức sống của người dân nói chung và bữa ăn nói
riêng đã được cải thiện nhiều. Hơn thế nữa, các quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước đã tạo cơ hội cho việc giảm tiêu hao năng lượng cho lao
động và hoạt động sống của người dân.
b/ Tình trạng thừa cân, béo phì
20
Tố chức Y tế thế giới định nghĩa béo phì là tình trạng tích lũy mỡ quá
mức và không bình thường của một một vùng cơ thể hay toàn thân đến mức
ảnh hưởng tới sức khỏe. Béo phì là tình trạng sức khỏe có nguyên nhân dinh
dưỡng. Người béo phì, ngoài thân hình nặng nề còn có nguy cơ mắc nhiều
bệnh như rối loạn lipit máu, tăng huyết áp, sỏi mật, đái tháo đường, xương
khớp và ung thư…Một điểm cần chú ý là bệnh béo phì, chất mỡ tập trung

c/ Tình trạng dinh dưỡng của sinh viên Việt Nam
Tình trạng dinh dưỡng ở đối tượng sinh viên là vấn đề cần được quan
tâm, bởi sinh viên là lứa tuổi ở giai đoạn đầu tiên của thời kỳ trưởng thành sau
thời kỳ trẻ em và thanh thiếu niên, là lứa tuổi có năng lực cao về thể chất và
trí tuệ, đồng thời là nguồn lao động bằng trí óc chính của một quốc gia trong
tương lai. Sau thời kỳ trẻ em và thanh thiếu niên, cơ thể ngừng lớn về kích
thước nhưng quá trình thay đổi và tái tạo tế bào vẫn tiếp diễn không ngừng để
duy trì sự sống. Chế độ ăn và dinh dưỡng tiếp tục giữ vai trò thiết yếu để bảo
vệ và nâng cao sức khoẻ, sẽ rất nguy hiểm khi nghĩ rằng đây là thời kỳ tràn
đầy sức khoẻ có thể không cần phải chú ý giữ ăn uống điều độ. Sự thật cho
thấy các vi phạm về ăn uống, lối sống sẽ rút ngắn tuổi lao động và tuổi thọ
đáng kể. Người ta vẫn thường gặp những rối loạn tim mạch, đột quị, tiểu
đường ở nhiều người độ tuổi còn trẻ mà chế độ dinh dưỡng không hợp lý.
Người ta nhận thấy các yếu tố về dinh dưỡng và lối sống sau đây ảnh hưởng
lớn đến tuổi sinh học của người trưởng thành: Ăn uống điều độ, không hoặc
uống rượu, giữ cân nặng ở mức “nên có”, ngủ đủ, không hút thuốc lá và rèn
luyện thể lực thường xuyên [14], [15], [19].
Sức khoẻ của SV là một bộ phận rất quan trọng của sức khoẻ cộng đồng,
các dịch vụ sức khoẻ trong các trường đại học mang lại hiệu quả cao. Một số
sinh viên đã có những độc lập về ăn uống và kinh tế do đi làm thêm. Do vậy
22
các em được ăn theo sở thích và điều kiện kinh tế. Mặt khác, cuộc sống xã hội
ngày càng phát triển nhu cầu cho ăn mặc, giải trí, học thêm, mua sắm cũng
tăng lên. Do vậy chi tiêu cho những nhu cầu đó cũng ảnh hưởng đến nhu cầu
dinh dưỡng.
Sinh viên ở nông thôn hoặc ngoại thành lên thành phố học tập phải sống
xa nhà, các em phải tự lập hoàn toàn về chỗ ở và ăn uống, học hành vất vả.
Quyết định mọi chi tiêu trong đó có cả vấn đề ăn uống, nên đôi khi các em
không được ăn theo nhu cầu và sở thích. Như vậy, sẽ dẫn đến những hậu quả
xấu về dinh dưỡng như thiếu năng lượng trường diễn hoặc thừa cân.

sự biến đổi nhiều chức năng quan trọng của tế bào dẫn đến thay đổi sự chuyển
hoá và tác động vật lý của thuốc. Điều này đã ảnh hưởng tới tác dụng, liều
lượng, thời gian và sự thành công của thuốc. Người ta cũng nhận thấy rằng có
sự liên quan giữa BMI thấp và tỷ lệ tử vong.
1.2.5. Ảnh hưởng của thừa cân, béo phì đối với cơ thể
Béo phì ngày càng trở nên phổ biến và phát triển mạnh mẽ trên thế giới.
Theo WHO ước tính hiện nay trên toàn Thế giới có khoảng 1 tỷ người thừa
cân, trong đó có hơn 300 triệu người béo phì. Béo phì ngày nay không còn là
căn bệnh của những nước giàu mà đã trở thành vấn nạn của toàn cầu.
Béo phì là tình trạng tích luỹ thái quá và không bình thường của lipid
trong các tổ chức mỡ tới mức có ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ. Thừa cân là
tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng “nên có” so với chiều cao còn béo phì
là lượng mỡ tăng không bình thường một cách cục bộ hay toàn thể.
Người béo phì thường có tác hại là mất đi sự thoải mái lanh lợi trong
cuộc sống. Họ rất khó chịu về mùa hè do lớp mỡ dày đã trở thành như một hệ
thống cách nhiệt. Họ thường có cảm giác mệt mỏi chung toàn thân, hay nhức
đầu, tê buồn ở hai chân. Hiệu suất lao động giảm vì người béo phì phải mất
24
thì giờ và công sức hơn để làm một công việc một động tác trong lao động do
khối lượng cơ thể quá nặng nề.
Người càng béo thì các nguy cơ mắc bệnh càng nhiều. Trước hết, người
béo phì dễ mắc các bệnh tăng huyết áp, bệnh tim mạch do mạch vành, đái
tháo đường, hay bị các rối loạn dạ dày, ruột, sỏi mật, và hậu quả là có thể
dẫn tới tử vong. Tỷ lệ chết thường tăng cao ở những người có BMI >29-30.
Tăng và giảm cân có liên quan với huyết áp, các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra
rằng cứ giảm 1kg thì sẽ giảm 1,2-1,6 mmHg huyết áp tâm thu và giảm 1,0-1,3
mmHg huyết áp tâm trương. Nếu cứ giảm được 10% cân nặng cơ thể thì sẽ
giảm được 20% nguy cơ mắc các bệnh mạch vành tim. Phụ nữ ở độ tuổi 20 có
chỉ số BMI từ 29-31 thì nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường không phụ thuộc
insulin cao hơn so với BMI<22. Nguy cơ mắc bệnh này cũng cao hơn ở người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status