thực trang thiếu vi chất dinh dưỡng ở phụ nữ có thai và công tác quản lý thai nghén tại huyện quỳnh phụ tỉnh thái bình - Pdf 22

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ nhiều thập kỷ nay, tỷ lệ thiếu vi chất dinh dưỡng ở phụ nữ đặc biệt
là phụ nữ có thai là vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng ở nhiều nước đang
phát triển trong đó có Việt Nam [27],[41]. Trên thực tế, các đối tượng nguy
cơ thường bị thiếu đa vi chất dinh dưỡng như canxi, sắt, kẽm, vitamin D…
không phải chỉ thiếu đơn độc một vi chất dinh dưỡng [23]. Thiếu vi chất dinh
dưỡng sẽ để lại những hậu quả nặng nề, ảnh hưởng xấu tới chất lượng cuộc
sống sau này của cả mẹ và con [12]. Trong thời kỳ mang thai, thể tích máu
của người mẹ tăng 40%-50%. Người mẹ sau khi sinh, thường mất khoảng 300-
500ml máu nếu sinh thường và mất khoảng 750-1000ml máu nếu mổ đẻ. Thiếu
máu thiếu sắt tăng nguy cơ đẻ non, tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong của mẹ và
con. Với phụ nữ có thai, canxi không những cần cho mẹ mà còn rất cần cho
thai. Nguồn cung cấp canxi cho con là do sự thẩm thấu canxi từ máu mẹ qua
rau thai vào máu con. Phần lớn lượng canxi này cùng với phốt pho cấu tạo
nên bộ xương của thai nhi.
Hiện tượng thiếu canxi xảy ra khá phổ biến tại Việt Nam bởi với tập
quán ăn uống truyền thống, khẩu phần ăn của người Việt Nam chỉ đáp ứng
được khoảng 50% nhu cầu khuyến nghị về canxi của cơ thể. Thiếu canxi ở
phụ nữ có thai càng trầm trọng hơn bởi nhu cầu về canxi ở phụ nữ khi có thai
tăng gấp đôi nhu cầu của người bình thường và tăng dần theo sự phát triển
của thai nhi [39].
Sự hấp thu và chuyển hóa canxi trong cơ thể người còn phụ thuộc vào sự
cung cấp đầy đủ một số yếu tố khác như phốt pho và đặc biệt là vitamin D.
Thiếu vitamin D thì dù cung cấp đủ canxi cơ thể cũng không thể hấp thu được.
Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng sự thiếu hụt vitamin D ở người mẹ
có thể ảnh hưởng đến điểm số phát triển trí tuệ thể chất của trẻ. Theo một
nghiên cứu mới nhất của các nhà khoa học ở Tây Ban Nha về sự liên quan
2
giữa nồng độ vitamin D trong máu trên 2000 phụ nữ mang thai và sự phát
triển tinh thần của trẻ trong giai đoạn từ 12 đến 14 tháng các nhà nghiên cứu

và chất khoáng
- Nhóm vitamin bao gồm: Các vitamin tan trong dầu như vitamin A,
vitamin D, vitamin E, vitamin K. Các vitamin tan trong nước như vitamin
nhóm B và vitamin C.
- Nhóm chất khoáng: Căn cứ vào hàm lượng của các nguyên tố trong
cơ thể chia chúng thành 2 nhóm:
+ Các yếu tố đa lượng (marcroelements) có 7 chất: Canxi, phôt pho,
lưu huỳnh, kali, natri, clo, magie.
+ Các yếu tố vi lượng (microlements): sắt, kẽm, silic, đồng, mangan,
nikel, cobalt, i-ôt, selen, fluo [18].
1.1.2. Vai trò của vi chất dinh dưỡng đối với sự phát triển cơ thể
a. Vai trò của sắt:
Sắt là một trong những chất khoáng rất quan trọng đối với cơ thể. Sắt là
nguyên liệu để tổng hợp nên Hemoglobin, chất có mặt trong tế bào hồng cầu
và làm cho hồng cầu có màu đỏ, có vai trò vận chuyển oxy trong máu đến với
các mô trong cơ thể. Sắt cũng là thành phần của Myoglobin, có trong cơ vân,
có tác dụng dự trữ oxy cho hoạt động của cơ vân, chúng sẽ kết hợp với các
chất dinh dưỡng khác để giải phóng năng lượng cho sự co cơ .
Trung bình lượng sắt trong cơ thể là 3,8 gam ở nam và 2,3 gam ở nữ.
Trong cơ thể sắt tồn tại chủ yếu dưới hai dạng là sắt chức năng và sắt dự trữ.
4
Người ta ước tính có khoảng 2/3 sắt chức năng - chủ yếu là dạng hem gắn
protein như hemoglobin, myoglobin và cytocromes. Hemoglobin có vai trò
quan trọng trong vận chuyển oxy từ phổi đến các mô. Cấu trúc của
hemoglobin gồm 4 hem gắn với 4 chuỗi globin. Hemoglobin có khả năng oxy
hoá trong tuần hoàn phổi và khử oxy ở mao mạnh. Myoglobin gồm 1 hem gắn
với 1 chuỗi globin. Myoglobin chỉ có ở các cơ với chức năng vận chuyển, dự
trữ oxy ở trong cơ và nhả oxy cho các hoạt động co bóp. Các Cytochrom là
các hợp chất có chứa hem tham gia vào chuyển hoá năng lượng và hô hấp với
vai trò vận chuyển điện tử ở ty lạp thể. Cytochrom a,b,c chủ yếu sản xuất ra

thu sắt trong thức ăn.
Hệ thống tiêu hoá sẽ tăng hấp thu sắt khi dự trữ sắt trong cơ thể thấp và
sẽ giảm hấp thu khi dự trữ sắt trong cơ thể cao. Mức độ tăng sản sinh hồng
cầu cũng làm tăng hấp thu sắt.
Tỷ lệ hấp thu sắt cũng phụ thuộc vào tính chất của thức ăn. Sắt dạng
heme thường có trong thực phẩm có nguồn gốc động vật như thịt, cá, trứng
được hấp thu với tỷ lệ cao gấp nhiều lần so với sắt không dưới dạng hem và
không bị ảnh hưởng bởi các chất ức chế. Sự hấp thu của sắt không hem
thấp hơn nhiều so với sắt hem và thường bị ức chế bởi các chất như phytat
và canxi. Vitamin C và sắt dạng hem là những chất khích thích hấp thu sắt
không heme [40].
Trong cơ thể người trưởng thành, 95% lượng sắt tham gia vào quá
trình tái tạo hồng cầu được lấy từ việc phá huỷ hồng cầu già cỗi, chỉ có 5%
lượng sắt dùng cho mục đích này lấy từ thức ăn. Trong khi đó, ở trẻ nhỏ, 70%
nhu cầu sắt sử dụng để tạo hồng cầu được lấy từ việc phá huỷ hồng cầu cũ và
30% còn lại lấy từ nguồn thức ăn.
6
Ở người trưởng thành, hàng ngày khoảng 1mg sắt mất đi qua các tế bào
niêm mạc. Ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, cần có một lượng sắt bổ sung
thay thế cho lượng sắt mất đi do hành kinh (khoảng 0,3 - 0,5 mg/ngày).
Trong khi có thai lượng sắt cần để phát triển các tổ chức của thai nhi và
lượng máu mất sau sinh rất lớn (khoảng 3 mg/ngày trong suốt 280 ngày
mạng thai). Trong trường hợp bệnh lý có chảy máu hệ thống đường tiêu
hoá như: viêm lét dạ dày, ruột, nhiễm ký sinh trùng đường ruột nhất là giun
móc thì một lượng lớn sắt sẽ bị mất đi do chảy máu đường tiêu hoá và lượng
sắt hấp thu cũng sẽ giảm [18],[39].
b. Vai trò của canxi:
Canxi là chất khoáng thiết yếu rất cần cho cơ thể người với số lượng
đòi hỏi cao so với các loại chất khoáng khác như sắt, đồng, kẽm canxi là
thành phần chủ yếu cấu tạo nên bộ xương và răng, nhưng cũng là một yếu tố

sau đó trong thận thành 1,25-dihydroxyvitamin D (1,25-(OH)2-D3), là dạng
hoạt động sinh học mạnh nhất của vitamin D [68],[72].
Vitamin D rất quan trọng đối với sự phát triển và tăng trưởng của
xương, nhờ vào việc điều hòa lượng canxi được hấp thụ từ chế độ ăn uống.
Trong một nghiên cứu được tiến hành ở Mỹ cho thấy mật độ khoáng xương ở
những trẻ sơ sinh được sinh vào mùa đông cao hơn so với những trẻ sinh vào
mùa hè [71],[73],[75]. Vì vitamin D cần ánh sáng mặt trời để tổng hợp trong
cơ thể, nghiên cứu này nêu bật nhu cầu vitamin D trong giai đoạn phát triển
xương ban đầu và chỉ ra rằng những người sinh con vào mùa đông thì lượng
vitamin D tăng lên vào mùa hè trước khi có thai và trong giai đoạn đầu của
thai kỳ. Trong ba tháng cuối của thai kỳ, nồng độ vitamin D trong máu của bà
mẹ mang thai tăng lên và nó cũng được tổng hợp nhiều hơn ở nhau thai [79].
8
Vitamin D được cho là có thể giúp vận chuyển canxi qua nhau thai tới bào
thai đang phát triển, bằng cách tăng các protein liên kết với calci. Bổ sung
vitamin D trong quá trình mang thai sẽ có tác dụng tốt đối với sức khỏe
xương của thai nhi và sức khỏe nói chung của trẻ trong một năm. Một nghiên
cứu trên hơn 100 phụ nữ, đã cho thấy việc bổ sung vitamin D ở bà mẹ
mang thai đã cải thiện đáng kể lượng canxi, chiều dài và cân nặng của thai
nhi, và đã có các biểu hiện liền xương nhanh chóng ở thóp. Trong quá trình
phát triển của thai nhi vitamin D cần cho sự khoáng hóa bộ xương và cần cho
sự tăng trưởng xương và cơ. Sự phát triển của bộ xương trong quá trình mang
thai được cho là có thể có ảnh hưởng lâu dài về sau, có liên quan tới gãy
xương và loãng xương. Dung nạp một lượng tối ưu vitamin D là rất quan
trọng cho sự phát triển và duy trì xương.
Thiếu vitamin D gây các bệnh về xương là còi xương ở trẻ nhỏ và
loãng xương ở người lớn, được đặc trưng bởi sự thiếu chất hữu cơ của xương
để tham gia quá trình xương hóa [48]. Tỷ lệ thiếu vitamin D toàn cầu chưa có
con số chính xác, tuy nhiên, khá phổ biến trên toàn thế giới, và đặc biệt là trẻ
nhỏ, phụ nữ có thai và người già. Chưa có sự đồng thuận về liều bổ sung

Chế độ ăn nghèo sắt: Lương thực chính của người Việt nam là gạo.
Nguồn thức ăn động vật giàu chất sắt thường không được tiêu thụ thường
xuyên và đầy đủ ở các đối tượng có nguy cơ cao bị thiếu sắt là phụ nữ tuổi
sinh đẻ, trẻ em nhỏ. Khẩu phần ăn có chứa nhiều chất ức chế hấp thu sắt như
các phytat. Giá trị sinh học của sắt khẩu phần của người Việt nam nhìn chung
là thấp (5-10%). Với chế độ ăn đó, sẽ không đảm bảo nhu cầu về sắt cho các
đối tượng có nhu cầu sắt cao [19],[22],[25]. Ở phụ nữ độ tuổi sinh đẻ, lượng
10
sắt mất theo kinh nguyệt trung bình mỗi ngày là 1,25 mg. ở phụ nữ có thai tuy
không mất sắt theo hành kinh nhưng cần sắt để bổ sung cho rau, thai nhi và
tăng khối lượng máu của người mẹ với nhu cầu toàn bộ là 1000mg. Nhu cầu
đó không phân phối đều trong thời kỳ có thai mà tập trung vào những tháng
cuối, lên tới 6,3 mg/ngày. Do đó, không thể thỏa mãn với một chế độ ăn
nghèo sắt. Mặt khác, lượng dự trữ sắt cơ thể của phụ nữ trước khi có thai
thường thấp cho nên trong thời kỳ có thai, thiếu máu trở lên trầm trọng. Chế
độ ăn bổ sung của trẻ em như trên đã nêu cũng rất nghèo sắt [17], [28].
Tình trạng nhiễm giun móc và các bệnh nhiễm khuẩn: Nhiễm giun móc
khá phổ biến ở Việt nam, tỷ lệ mắc cao ở nhiều vùng. Nhiễm giun móc còn
liên quan tới tập quán canh tác nông nghiệp và thói quen vệ sinh, tình trạng
môi trường và nước sạch. Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy giun móc đóng
góp đáng kể vào nguyên nhân thiếu máu thiếu sắt ở Việt nam. Ngoài ra, các
bệnh nhiễm trùng, nhất là nhiễm trùng đường tiêu hoá còn khá phổ biến ở
Việt nam cũng góp phần dẫn tới thiếu máu thiếu sắt [17],[22],[37],[41].
b. Nguyên nhân của thiếu canxi
Sự hấp thu và chuyển hóa canxi trong cơ thể người phụ thuộc vào sự
cung cấp đầy đủ một số yếu tố khác như phốt pho và đặc biệt là vitamin D.
Sau khi được hấp thu tại ruột, canxi được chuyển vào máu và đi tới các cơ
quan sử dụng của cơ thể. Phần lớn canxi được sử dụng cho tạo xương, quá
trình này cần vitamin D. Hormon cận giáp (parthyroid) đóng vai trò chủ yếu
trong điều hoà canxi máu ở mức bình thường. Khi canxi máu giảm, cơ thể sẽ

Thiếu máu: Trong trường hợp thiếu máu nhẹ và trung bình, cơ thể có
khả năng điều chỉnh bằng cách phân phối lại lượng máu chảy đến các cơ
quan như: ưu tiên lưu lượng máu chảy đến tim, não; huy động máu dự trữ ở
12
gan, lách, tuỷ xương. Khi thiếu máu nặng (nồng độ Hb < 70 g/l ) thì cơ thể
không thể điều chỉnh được; khả năng cung cấp oxy giảm, cơ thể bị nhiễm
toan. Nếu thiếu máu rất nặng (Hb < 40 g/l) có thể dẫn đến tử vong. Ở phụ
nữ có thai, thiếu máu ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình sinh đẻ; tỷ lệ
tử vong mẹ và con cao [14],[26]. Khoảng 40% tử vong chu sinh liên quan
đến thiếu máu của mẹ [16] .
Khả năng lao động giảm: Thiếu máu làm giảm đáng kể hoạt động thể
lực, đặc biệt khi nồng độ hemoglobin xuống dưới 100g/l. Kết quả nghiên
cứu đã chỉ ra rằng những người thiếu máu có năng xuất lao động kém hơn
một cách có ý nghĩa so với những người không bị thiếu máu. Sau khi bổ
sung sắt thì tình trạng thiếu máu và năng xuất lao động của họ được cải thiện
rõ rệt từ 10% - 30%.
Nhận thức giảm: Những trẻ thiếu máu có điểm trí tuệ thấp hơn những
trẻ không bị thiếu máu do sự cung cấp oxy và các chất dinh dưỡng lên não
của trẻ kém, khi trẻ được bổ sung sắt thì khả năng nhận thức của trẻ được
phục hồi nhưng có khi cũng không phục hồi được.
Như vậy, thiếu máu thiếu sắt ảnh hưởng đến nhận thức của con người ở
tất cả các giai đoạn của cuộc đời. Hơn nữa ảnh hưởng của thiếu máu thiếu sắt
đến trẻ em trong năm đầu và trẻ nhỏ không có khả năng phục hồi bằng điều trị
bổ sung sắt [65].
Chính vì vậy, ở những quần thể mà tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt ở mức có ý
nghĩa sức khỏe cộng đồng thì các can thiệp nhằm giảm tỷ lệ mắc là rất cần
thiết [7],[29],[30]. Các can thiệp này có thể là tăng cường vi chất vào trong
thực phẩm, bổ sung bằng cách sử dụng các chế phẩm vi chất đơn độc hoặc
viên đa vi chất. Nhiều nghiên cứu trong thời gian qua đã thực hiện tăng cương
vi chất vào các sản phẩm thực phẩm chế biến sẵn như nước mắm, bột mì,

14
có thóp rộng, xương sọ mềm quấy khóc trong những tháng đầu [23],[31],
[33]. Những biểu hiện lâm sàng của hiện tượng thiếu canxi dễ nhận thấy trong
thời kỳ mang thai là: đau mỏi cơ bắp, chuột rút, đôi khi có rối loạn nhịp tim,
trầm trọng hơn, bà mẹ có thể bị ngất xỉu do hạ huyết áp, hoặc co giật. Những
trường hợp này nếu xét nghiệm sẽ thấy nồng độ canxi trong máu hoặc huyết
thanh giảm [58].
Đẻ non, hoặc thai chết lưu có nhiều nguyên nhân gây nên. Hiếm khi
thiếu canxi đơn thuần gây đẻ non, hoặc thai chết lưu [33]. Tuy nhiên, bà mẹ
mang thai được bổ sung đủ canxi sẽ có huyết áp ổn định hơn, hạn chế được
tình trạng sinh non và bé sinh ra khỏe mạnh, dễ nuôi hơn. Việc bổ sung đủ
canxi trong thai kỳ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với chiều cao của các
bé sau này. Để có hệ xương khỏe mạnh, bé cần đủ canxi ngay từ khi còn là
bào thai. Sau khi bé được sinh ra, mẹ vẫn cần bổ sung đầy đủ canxi để có thể
cung cấp đủ canxi cho bé thông qua sữa mẹ và tránh được tình trạng mẹ bị
mất xương, dẫn đến loãng xương sau này.
Tiêu chuẩn canxi cần hấp thu mỗi ngày đối với người trưởng thành trung
bình là 800 mg nhưng qua điều tra thì mức hấp thu đó hầu như không đủ (ví dụ ở
Mỹ, phụ nữ da trắng 640 mg, phụ nữ da đen 452 mg; ở Trung Quốc: phụ nữ
nông thôn 378 mg, phụ nữ thành thị 452 mg, còn phụ nữ ở thành phố lớn
600mg). Khi có thai, nhu cầu canxi tăng lên: trong 3 tháng đầu, nhu cầu là 800
mg nhưng 3 tháng giữa là 1.000 mg, 3 tháng cuối và khi nuôi con bú là 1.500 mg
vì thai càng lớn thì xương thai nhi càng phát triển [39].
Người có thai thiếu canxi có thể thấy mệt mỏi, đau nhức bắp cơ, tê chân,
đau lưng, đau khớp, răng lung lay, chuột rút, nặng hơn nữa thì lên cơn co giật.
Đối với thai, thiếu canxi sẽ dẫn đến suy dinh dưỡng ngay khi còn trong bụng mẹ,
bị còi xương bẩm sinh, biến dạng các xương gây dị hình, lùn thấp
15
Thiếu canxi ngắn hạn không có triệu chứng rõ ràng. Về lâu dài,
thiếu canxi nếu không được điều trị có thể dẫn đến loãng xương. Nguy cơ

Thiếu máu thiếu sắt là tình trạng thiếu vi chất quan trọng. Theo ước
tính của Tổ chức Y tế Thế giới: khoảng 3,5 tỷ người trên hành tinh thiếu máu
thiếu sắt, phổ biến ở các nước đang phát triển, đối tượng nguy cơ là phụ nữ
tuổi sinh đẻ, đặc biệt là phụ nữ có thai và trẻ em trước tuổi đi học. Thiếu máu
ảnh hưởng đến một nửa phụ nữ có thai trên thế giới, 52% ở các nước đang
phát triển so với 23% ở các nước phát triển, trong đó khoảng 41% phụ nữ và
27% trẻ em bị thiếu máu do thiếu sắt .
Tỷ lệ thiếu sắt (ferritin huyết thanh thấp, sắt dự trữ giảm mạnh) cao
nhất ở phụ nữ tuổi sinh đẻ và trẻ nhỏ. Chủ yếu thiếu sắt gặp ở các nước đang
phát triển, những cũng là vấn đề ở những nước đã phát triển. Theo số liệu đã
được công bố thì có tới 700.000 trẻ sơ sinh ở Mỹ.
Các nước đang phát triển tỷ lệ thiếu sắt thiếu máu ở trẻ em vẫn rất cao:
53% ở Ấn độ, 45% ở Indonesia, 37,9% ở Trung Quốc, và 31,8% ở Phillipine,
trong khi đó các nước đã phát triển tỷ lệ này tương đối thấp: Mỹ: 3-20%; Hàn
quốc: 15%. Ở các nước đang phát triển vấn đề về tình trạng thiếu sắt vẫn đang
rất được chú ý ở rất nhiều nhóm đối tượng, đặc biệt ở trẻ nhũ nhi bước vào
thời kỳ ăn dặm [35],[37],[38].
b. Tình hình thiếu canxi và vitamin D
Trước đây, thiếu vitamin D chỉ được báo cáo ở một số cộng đồng người
da trắng. Gần đây, với tỷ lệ loãng xương ngày càng gia tăng ở nhiều quốc gia,
thiếu vitamin D đã được nghiên cứu ở một số nước châu Á như Trung Quốc,
17
Ấn Độ, Hàn Quốc, Việt Nam [63],[67],[78]. Tỷ lệ thiếu vitamin D ở phụ nữ
Malaysia là 49%, ở phụ nữ Trung Quốc là 9,4% ở phụ nữ có thai Ấn Độ là
84%. Các nghiên cứu khác cho thấy, tỷ lệ thiếu vitamin D ở phụ nữ tuổi sinh
đẻ của Hàn Quốc là 57%, Thái Lan 47%.
Trên thế giới, có khoảng 1 tỷ người thiếu vitamin D (25 OHD

50
nmol/l)

quá trình tăng trưởng.
1.2.2. Tại Việt Nam
a. Tình hình thiếu máu dinh dưỡng
Theo nghiên cứu tình trạng thiếu máu ở phụ nữ tuổi sinh đẻ tại 6 tỉnh
đại diện ở Việt nam năm 2006 của Viện Dinh dưỡng thì tỷ lệ thiếu máu ở
phụ nữ tuổi sinh đẻ ở mức trung bình về ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng
( 37,6% ở phụ nữ có thai, 26,7% ở phụ nữ không có thai). Vùng nội thành
có tỷ lệ thiếu máu thấp hơn ngoại thành: 32,5% và 38,4%. So với nghiên
cứu năm 1995 cũng của Viện dinh dưỡng thì thiếu máu ở phụ nữ có thai là
53% và phụ nữ không có thai trong độ tuổi sinh đẻ là 45%. Như vậy tỷ lệ
thiếu máu của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ và phụ nữ có thai sau 10 năm
đã giảm đáng kể [15],[20],[24].
Theo kết quả tổng điều tra dinh dưỡng ở trẻ em năm 2009 – 2010, cho
thấy ở nhóm tuổi càng nhỏ trẻ càng có nguy cơ thiếu máu cao, và trẻ lớn có ít
nguy cơ thiếu máu hơn: nhóm trẻ 0 - 12 tháng và 12 - 24 tháng có tỷ lệ thiếu
máu cao nhất đạt 45,3% và 44,4%; trong khi đó ở nhóm 24-35 tháng tỷ lệ
này chỉ còn 27,5% [41].
Tỷ lệ (%) thiếu máu ở trẻ em theo vùng sinh thái – 2008 cho thấy vùng
Đông Nam bộ là 22,8%, đồng bằng Sông Hồng, vùng núi Đông Bắc là 23,5%,
Tây nguyên 26,4%, đồng bằng sông Mê Công 30,3%, Miền Trung 33,1%
( mức YSNKCĐ trung bình ) và vùng núi Tây Bắc cao nhất 43%. (mức
19
YSNKCĐ nặng ). Cả nước tỷ lệ thiếu máu trẻ em là 29,2%. Kết quả trên cho
thấy tỷ lệ thiếu máu ở nước ta vẫn ở mức vừa và nặng về YNSKCĐ tại hầu
hết các tỉnh trên các nhóm nguy cơ. Tỷ lệ thiếu máu trung bình ở trẻ em ở
mức trung bình về YNSKCĐ là 36,7%, cao nhất ở Bắc Cạn 73,4%, thấp nhất
ở An Giang 17%, Bắc Ninh và Đắc Lắc 25,6, Hà Nội 32,5, Huế 38,6%. Tỷ lệ
thiếu máu cao nhất ở nhóm 6-12 tháng tuổi, tới 56,9%; có xu hướng giảm khi
tuổi của trẻ tăng lên: 45% ở nhóm 12-24 tháng tuổi, 38% ở nhóm 24-36 tháng
tuổi, 29% ở nhóm 36-48 tháng tuổi; 19,7% ở nhóm 48-59 tháng tuổi [41].

Dinh dưỡng năm 2012, kết quả cho thấy: Không có đối tượng bị thiếu canxi mức
độ nặng, tỷ lệ thiếu canxi ở phụ nữ là 15%. Phụ nữ trong nhóm có điều kiện kinh
tế xã hội thấp nhất có tỷ lệ thiếu canxi mức độ nhẹ thấp hơn (69,3%) nhưng tỷ lệ
thiếu canxi mức trung bình (28%) cao hơn so với nhóm khác. Phụ nữ ở mức
nghèo nhất có nguy cơ thiếu canxi mức độ trung bình thấp hơn 2 - 3 lần và có
nguy cơ thiếu canxi mức độ nhẹ cao hơn 2 - 3 lần [35].
Theo nghiên cứu năm 2012 của Viện Dinh dưỡng thì tỷ lệ thiếu
vitamin D là 59,3% ở phụ nữ thành thị và 56,2% ở phụ nữ nông thôn [5].
1.3. Thực trạng công tác quản lý thai nghén hiện nay
1.3.1. Hệ thống chăm sóc sức khỏe sinh sản hiện nay
Trên thế giới có các hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ mang
thai như IMPAC.
Ở cấp độ hệ thống y tế, phương pháp này nhằm mục đích cải thiện
nhưng cũng chất lượng chăm sóc cần thiết và khẩn cấp. Mục tiêu này liên
quan đến chính sách y tế quốc gia cũng như quản lý cấp huyện của cơ sở hạ
tầng, vật tư và tài chính. Hơn nữa nó bao gồm việc đánh giá các nhu cầu của
địa phương và giám sát hiệu suất hệ thống y tế.
21
Nâng cao kỹ năng và năng lực của nhân viên y tế là chiến lược thứ hai
của phương pháp tiếp cận IMPAC. Bộ cung cấp hướng dẫn lâm sàng cho việc
chăm sóc trước, trong và sau khi sinh. Nó cũng hợp tác với các chương trình
y tế khác để tích hợp các dịch vụ khác vào chăm sóc trước sinh.
Tại Việt Nam trong những năm gần đây, mạng lưới chăm sóc sức khỏe
bà mẹ - trẻ em đã được hình thành và phát triển ở tất cả các tuyến. Tuy mạng
lưới CSSKSS đang ngày càng được củng cố và phát triển nhưng kết quả khảo
sát thực trạng cho thấy vẫn còn nhiều tồn tại cả về cơ sở vật chất, nhân lực,
trang thiết bị, thuốc thiết yếu và khả năng cung ứng dịch vụ.
Hiện nay, toàn quốc có 64 trung tâm CSSKSS tỉnh, 697 trung tâm y tế
huyện, 10.926 trạm y tế xã, 11 bệnh viện chuyên khoa sản, 12 bệnh viện
chuyên khoa nhi, 3 bệnh viện sản nhi tuyến tỉnh, 7 bệnh viện đa khoa trung

ương đến địa phương, nhưng công tác quản lý thai nghén vẫn còn những tồn
tại và thách thức cần phải quan tâm:
- Tỷ lệ tai biến sản khoa còn cao:
- Quản lý thai sớm đạt tỷ lệ còn thấp
- Tỷ lệ nạo hút thai/số sinh còn cao
- Số phụ nữ khám thai đủ 3 lần còn thấp, nhiều đối tượng là công nhân
đi làm ăn xa gần đến ngày sinh mới về quê nên công tác quản lý thai nghén
đặc biệt ở phụ nữ có thai nguy cơ gặp rất nhiều khó khăn.
- Về cơ sở vật chất: còn thiếu nhiều như trang thiết bị, máy móc, phòng
bệnh phục vụ cho chẩn đoán và điều trị.
- Về đội ngũ cán bộ còn thiếu về số lượng, chất lượng chuyên môn còn
nhiếu hạn chế, một số bác sỹ mới ra trường về huyện không thích làm chuyên
khoa sản do vất vả và chịu nhiều áp lực
23
Thực trạng nguồn nhân lực y tế được đào tạo nhưng không thực hành
đúng nghề, dẫn đến mai một và lãng phí như dược sĩ, bác sĩ tốt nghiệp ra
trường làm trình dược viên thay vì làm việc tại các cơ sở khám chữa bệnh,
nhà thuốc, phòng kiểm nghiệm…. Chính vì thế, cần phải điều chỉnh cơ chế
chính sách để thực sự thu hút và trọng dụng nhân tài, tôn trọng trí thức, phát
huy tính năng động sáng tạo, chú trọng đánh giá cán bộ theo hiệu quả công
việc và nhiệt tình công tác.
Bên cạnh đó, cần bổ sung, nâng cấp cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, dụng
cụ y tế cho các điểm cung cấp dịch vụ dân số và chăm sóc thai nghén, đảm
bảo các yêu cầu về quy trình, ưu tiên tuyến cơ sở và khu vực khó khăn. Chú
trọng đảm bảo các phương tiện vận chuyển, trang thiết bị và dụng cụ y tế để
đưa dịch vụ đến tận người dân và chuyển tuyến ở những địa bàn khó khăn về
giao thông. Củng cố, nâng cấp hệ thống dự trữ, bảo quản, cung cấp thuốc, vật
tư trong mạng lưới cung cấp thuốc, trang thiết bị y tế.
Công tác chăm sóc, quản lý thai nghén ở nước ta vẫn đối mặt với
nhiều thách thức, khó khăn. Tỷ lệ tai biến sản khoa và tử vong mẹ vẫn cao

khoa thiết yếu tạo điều kiện tốt nhất để mỗi phụ nữ khi mang thai được tiếp
cận với dịch vụ chăm sóc trước sinh, trong và sau sinh có chất lượng: Được
quản lý thai nghén tốt( được khám thai ít nhất ba lần ở ba thời kỳ thai nghén),
được đỡ đẻ sạch và đỡ đẻ an toàn, được chăm sóc sau đẻ ít nhất hai lần.
Chương trình còn chú trọng tới phụ nữ và trẻ sơ sinh ở các vùng và các nhóm
kém phát triển.
Theo tài liệu của WHO, các tổ chức Liên Hợp Quốc và Ngân hàng Thế
giới công bố tháng 10/2010 thì tỉ số tử vong mẹ của Việt Nam đứng thứ 4/10
nước Đông Nam Á (sau Singapore, Malaysia và Thái Lan). Theo số liệu trên,
năm 2008, tỉ số tử vong mẹ ở khu vực Đông Nam Á là 160/100.000 trẻ đẻ
sống, của Việt Nam chỉ còn 54/100.000 trẻ đẻ sống (thấp hơn của so với số
25
liệu của Tổng điều tra Dân số 2009 do Tổng cục Thống kê công bố năm 2009
là 69/100.000 trẻ đẻ sống).
Tỷ lệ quản lý thai nghén chung toàn quốc năm 2010 đạt 95%, tăng 0.4% so
với năm 2009. trong đó các tỉnh vùng miền núi phía Tây vẫn có tỷ lệ phụ nữ mang
thai được quản lý thai nghén thấp hơn các vùng khác. Với 95% phụ nữ có thai
được quản lý trên toàn quốc cho thấy kiến thức, thực hành của các bà mẹ đã có
chuyển biến tích cực về tầm quan trọng của việc chăm sóc sức khỏe khi mang thai
và chuẩn bị khi sinh đẻ. Mặt khác cũng phản ánh sự cố gắng, nỗ lực của nhân viên
y tế trong các cơ sở chăm sóc sức khỏe sinh sản và các y tế thôn xóm, đặc biệt ở
các vùng kinh tế khó khăn, vùng dân tộc thiểu số.
Phụ nữ mang thai nên được khám thai ít nhất là 3 lần, mỗi lần cách nhau 3
tháng. Tuy nhiên trên thực tế có nhiều thai phụ khám đủ hoặc hơn 3 lần nhưng
lại khám tập trung vào một thời điểm 3 tháng đầu, 3 tháng giữa hoặc 3 tháng
cuối nên không phát hiện sớm, đầy đủ nguy cơ cho sức khỏe bà mẹ và thai nhi.
Theo thống kê năm 2010, tỷ lệ phụ nữ khám thai trên 3 lần trong 3 thời kỳ trung
bình đạt 81,9% trên toàn quốc, vùng Tây Bắc chỉ đạt 58,5%.
Theo Niên giám thống kê y tế năm 2010 công tác CSSKSSđạt được kết quả sau:
- Tỷ lệ phụ nữ đẻ được khám thai 3 lần trở lên: 79,1%


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status