Bài giảng môn học: Phân tích tín dụng và cho vay
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ
PHÂN TÍCH TÍN DỤNG
Mục tiêu
Chương này trình bày các vấn đề chung về phân tích tín dụng ngân hàng để
cung cấp nền tảng kiến thức cho sinh viên học tiếp các chương sau.
Nghiên cứu các vấn đề về tín dụng, phân loại tín dụng ngân hàng, chính
sách tín dụng của Ngân hàng, định giá một khoản cho vay, đảm bảo tín dụng Ngân
hàng. Đây là các nội dung cơ sở làm tiền đề để nghiên cứu các nội dung liên quan
đến phân tích tín dụng và cho vay.
Nghiên cứu các công đoạn của quy trình cho vay, vị trí của mỗi công đoạn,
mối quan hệ giữa các công đoạn, nội dung công việc của từng công đoạn, các thủ
tục giấy tờ, nhiệm vụ và trách nhiệm của mỗi thành viên tham gia. Mục đích, ý
nghĩa của công tác phân tích tín dụng, các nguồn thông tin làm cơ sở cho phân tích
và những nội dung chủ yếu khi tiến hành phân tích tín dụng đối với một khoản cho
vay.
I. Những vấn đề cơ bản về tín dụng ngân hàng
Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ latinh là credo (tin tưởng, tín nhiệm).
Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau;
ngay cả trong quan hệ tài chính, tùy theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín
dụng có một nội dung riêng. Trong quan hệ tài chính tín dụng có thể hiểu theo các
nghĩa sau:
• Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư sang chủ thể
thiếu hụt thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển dịch quỹ từ người cho vay
sang người đi vay.
• Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên
cơ sở có hoàn trả giữa 2 chủ thể. Như một công ty công nghiệp hoặc thương mại
bán hàng trả chậm cho một công ty khác, trong trường hợp này người bán chuyển
giao hàng hóa cho bên mua và sau một thời gian nhất định theo thỏa thuận bên
mua phải trả tiền cho bên bán. Phổ biến hơn cả là giao dịch giữa ngân hàng và các
hàng và củng cố quan hệ vay vốn giữa khách hàng và ngân hàng sau này.
2> Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng
tín dụng.
Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay là một nguyên tắc không thể thiếu trong
hoạt động cho vay. Điều này xuất phát từ tính chất tạm thời nhàn rỗi của nguồn
vốn mà ngân hàng sử dụng để cho vay. Đại đa số nguồn vốn mà ngân hàng sử
dụng để cho vay là vốn huy động từ khách hàng gởi tiền, do đó, sau khi cho vay
trong một thời hạn nhất định, khách hàng vay tiền phải hoàn trả lại cho ngân hàng
để ngân hàng hoàn trả lại cho khách hàng gởi tiền. Hơn nữa bản chất của quan hệ
Chương 1
2
Bài giảng môn học: Phân tích tín dụng và cho vay
tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn vay nên sau một
thời gian nhất định vốn vay phải được hoàn trả, cả gốc và lãi.
Cũng như quan hệ tín dụng khác,tín dụng ngân hàng chứa đựng 3 nội dung:
• Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử
dụng;
• Sự chuyển nhượng này có thời hạn hay mang tính tạm thời.
• Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí.
Tín dụng ngân hàng( sau đây gọi tắt là tín dụng) có thể phân chia thành ra
nhiều loại khác nhau tùy theo những tiêu thức phân loại khác nhau.
1.1 Dựa vào mục đích của tín dụng
Theo tiêu thức này, tín dụng ngân hàng có thể phân chia thành các loại sau:
Cho vay phục vụ SXKD công thương nghiệp;
Cho vay tiêu dùng cá nhân;
Cho vay mua bán bất động sản
Cho vay sản xuất nông nghiệp;
Cho vay kinh doanh XNK…
1.2 Dựa vào thời hạn tín dụng
Theo tiêu thức này, tín dụng có thể phân chia thành các loại sau:
khi đáo hạn;
Cho vay có nhiều kì hạn trả nợ haycòn gọi là cho vay trả góp
Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kì hạn nợ cụ thể mà tùy
khả năng tài chính của mình người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc
nào
1.3. Lãi suất tín dụng ngân hàng
Hoạt động kinh doanh tín dụng cũng như các họat động kinh doanh khác,
ngân hàng cũng quan tâm đến lợi tức và mức độ sinh lời của đồng vốn kinh
doanh. Khác với các loại hình kinh doanh khác về đối tượng nên lợi tức tín
dụng cũng có những nét đặt thù riêng.
-Về mặt hình thức: Lợi tức tín dụng là khoản lợi nhuận mà tổ chức kinh
doanh tín dụng thu được sau một chu trình hoạt động cho vay.
-Về mặt nội dung: Lợi tức tín dụng là một phần giá trị thặng dư mà người
đi vay trích ra để trả cho người cho vay vì đã sử dụng tiền vay trong một khoảng
thời gian nhất định.
Nguồn gốc của lợi tức tín dụng chính là giá trị thặng dư đã sáng tạo ra trong
quá trình sản xuất kinh doanh. Người đi vay do sử dụng vốn vay của người khác
trong một khoảng thời gian nhất định để kinh doanh nên phải trả tiền lãi. Người
cho vay do sở hữu một khoản vốn cho vay nên được hưởng lợi tức. Lợi tức chính
Chương 1
4
Bài giảng môn học: Phân tích tín dụng và cho vay
là cái giá phải trả cho việc sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định. Lợi tức
là một loại giá cả và cũng chịu tác động của qui luật cung cầu, qui luật thị trường.
Để đánh giá mức độ sinh lời của đồng vốn cho vay, khái niệm tỉ suất lợi tức hay
còn gọi là lãi suất thường được sử dụng.
Lãi suất tín dụng: Tỉ suất lợi tức là tỉ lệ phần trăm (%) giữa tổng số lợi tức
thu được với tổng số tiền cho vay được tính trong một thời gian nhất định (
thường là ngày, tháng, quý, 6 tháng hay một năm).
Lãi suất tín dụng ngân hàng phải bảo đảm bù đắp đầy đủ những chi phí bỏ
Lãi suất cho vay với thời hạn (t)= Lãi suất huy động có kỳ hạn tương
ứng (t) + chi phí quản lý thực hiện khoản cho vay+ tỷ lệ điều chỉnh rủi ro +
lợi nhuận mong đợi của NH
Bài giảng môn học: Phân tích tín dụng và cho vay
(3) lãi suất phải trang trải được các loại rủi ro;
(4) lãi suất phải có phần thặng dư cho người cho vay.
Có 3 phương pháp định giá khoản cho vay như sau:
(1). Định giá theo lãi suất cơ bản. Đó là việc ngân hàng xác định lãi suất cơ
bản để áp dụng cho khách hàng uy tín nhất của họ và dùng lãi suất này làm cơ sở
để tính lãi suất cho vay đối với các loại khách hàng khác nhau bằng cách cộng
thêm vào lãi suất cơ bản một tỷ lệ % nhất định. Cách xác định lãi suất cơ bản
thường do ngân hàng xác định nhưng chủ yếu là do cung cầu tín dụng trong nền
kinh tế quyết định. Những nhân tố quyết định đến lãi suất cơ bản như: Chi phí huy
động vốn cho ngân hàng (thường dựa vào các nguồn vốn quan trọng nhất của ngân
hàng), thu nhập do đầu tư (thường dựa vào các chứng khoán kho bạc),lãi suất của
các nguồn đi vay thay thế (thường dựa vào lãi suất của tín phiếu thương mại). Việc
điều chỉnh lãi suất cơ bản dựa vào 3 yếu tố là điều chỉnh theo mức độ rủi ro; điều
chỉnh theo thời hạn vay và điều chỉnh theo nhân tố cạnh tranh. Cụ thể:
(2). Định giá dựa trên cơ sở lãi suất Libor (London Interbank Offered Rate :
lãi suất thị trường liên ngân hàng London), thường áp dụng trong trường hợp cho
vay bằng ngoại tệ.
(3). Định giá dựa theo quỹ huy động tương ứng. Lãi suất của khoản cho vay
theo quỹ huy động tương ứng được xác định bằng cách cộng thêm một khoản
chênh lệch vào lãi suất của nguồn tài trợ tương ứng:
1.4. Bảo đảm tín dụng ngân hàng
1.4.1. Khái niệm và vai trò của bảo đảm tín dụng
Chương 1
6
Bài giảng môn học: Phân tích tín dụng và cho vay
Bất kì một khoản tín dụng nào cũng tiềm ẩn những rủi ro nhất định. Trong
mối quan hệ tỷ lệ thuận với lợi ích của ngân hàng cho vay
1.4.3. Hình thức thế chấp
Chương 1
7
Bài giảng môn học: Phân tích tín dụng và cho vay
Thế chấp là bên vay vốn dùng tài sản là bất động sản thuộc quyền sở hữu
của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi nguồn thu nợ thứ nhất bị mất.
Có các loại thế chấp:
- Căn cứ theo tính chất pháp lý:
+ Thế chấp pháp lý: là phương thức thế chấp mà khách hàng lập sẵn một
giấy sang nhượng chủ quyền để khi không có tiền trả nợ, ngân hàng có quyền bán
hay quản lý tài sản đó.
+ Thế chấp công bằng: ngân hàng chỉ giữ bản chính giấy chứng nhận quyền
sở hữu tài sản bảo đảm cho khoản vay. Do đó ngân hàng muốn phát mãi tài sản
phải chờ qua phán quyết của tòa án.
- Căn cứ vào số lần thế chấp:
+ Thế chấp thứ nhất: Là tài sản đang thế chấp cho một món vay.
+ Thế chấp thứ hai: tài sản đang thế chấp cho món nợ thứ nhất nhưng giá trị
thế chấp còn thừa ra khách hàng đang thế chấp cho ngân hàng khác (hay ngân
hàng đó) để vay thêm một món nợ nữa.
* Những vấn đề liên quan đến việc cho vay thế chấp tài sản
(1). Giám định tính chất pháp lý của tài sản thế chấp. Việc giám định tính
chất pháp lý của tài sản thế chấp không phải là vấn đề phức tạp nhưng đối với Việt
Nam thì khá phức tạp, xảy ra nhiều rủi ro liên quan đến vấn đề này là do chưa thực
hiện đăng ký tài sản và cấp giấy chứng nhận về sở hữu tài sản, các cơ quan nhà
nước chưa quản lý hết toàn bộ tài sản đăng ký hoặc quản lý phân tán ở nhiều đơn
vị. Để hạn chế rủi ro liên quan đến thủ tục pháp lý, cần phải khai thác thêm các
nguồn thông tin khác như tham khảo ý kiến của trung tâm phòng ngừa rủi ro, các
người cư trú gắn với tài sản thế chấp.
(2). Định giá tài sản thế chấp. Về nguyên tắc, phải định giá tài sản thế chấp
bảo bằng tài sản thế chấp thì thời hạn thế chấp cũng chấp dứt. Về mặt thủ tục, khi
thực hiện xong nghĩa vụ, ngân hàng sẽ trả lại giấy chứng nhận sở hữu tài sản thế
chấp cho người vay và lập giấy xác nhận giải toả tài sản thế chấp gởi đến cơ quan
có liên quan. Nếu không trả được nợ thì ngân hàng sẽ xử lý tài sản thế chấp theo
quy định của pháp luật.
1.4.4. Hình thức cầm cố
Cầm cố là việc người đi vay tiến hành chuyển giao tài sản (động sản) thuộc
sở hữu của mình cho người cho vay cất giữ để làm vật bảo đảm cho số nợ vay
trong thời gian nhất định. Trong nghiệp vụ cho vay cầm cố gồm các bên: Bên cầm
cố (Là các pháp nhân hay thể nhân khi vay vốn ngân hàng buộc phải có tài sản
cầm cố). Bên nhận cầm cố (Là bên cho vay, có thể là ngân hàng thương mại, công
ty tài chính hay hợp tác xã tín dụng). Có các loại cầm cố:
(1) Cầm cố hàng hóa: Là hình thức đảm bảo có ưu thế hơn đảm bảo bằng
bất động sản bởi nó giúp ngân hàng dễ bán để thu nợ hơn khi khách hàng vay
Chương 1
9
Bài giảng môn học: Phân tích tín dụng và cho vay
không trả được nợ, ngoài ra, nó giúp khách hàng vay dự trữ vật tư hàng hoá đảm
bảo ổn định sản xuất và đáp ứng yêu cầu thị trường. Điều kiện cầm cố hàng hoá là
hàng hoá có giá trị ổn định, dễ tiêu thụ ở hiện tại và tương lai, và là hàng hoá được
phép lưu thông và khách hàng được phép kinh doanh hàng hoá đó. Việc quản lý
hàng hoá cầm cố thường được thực hiện theo các cách sau:
+ Quản lý tại kho ngân hàng: Khách hàng chuyển giao tài sản cho ngân
hàng, ngân hàng lập giấy biên nhận cho khách hàng và thực hiện quản lý, bảo
quản hàng hoá không bị hư hại cho đến khi khách hàng trả xong nợ thì ngân hàng
trả lại cho khách hàng.
+ Quản lý tại kho khách hàng: Hàng hoá cầm cố được lưu giữ ở một kho
riêng của khách hàng và đặt dưới sự giám sát của ngân hàng. Ngân hàng ký với
khách hàng 1 hợp đồng thuê kho và đăng ký hợp đồng này với cơ quan Nhà nước.
Ngân hàng là người duy nhất giữ chìa khoá, được phép ra vào kho và có bảng
(7). Bảo đảm bằng các khoản phải thu
(8). Bảo đảm bằng thương phiếu:
1.4.5. Hình thức bảo lãnh
Trong trường hợp người đi vay không có tài sản cầm cố, thế chấp đòi hỏi
phải yêu cầu một bên thứ ba đứng ra bảo lãnh nghĩa vụ trả nợ. Ngoài ra, trong một
số trường hợp, việc cầm cố, thế chấp tài sản đó không an toàn hay an toàn thấp,
ngân hàng yêu cầu người đi vay phải có bảo lãnh. Bảo lãnh là việc một pháp nhân
hay thể nhân đem tài sản, tiền bạc và uy tín của mình để bảo đảm và cam kết với
người cho vay sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho người đi vay nếu người đi vay
không trả được nợ cho người cho vay khi đến hạn. Trong nghiệp vụ bảo lãnh gồm
các bên sau:
+ Bên bảo lãnh: Là pháp nhân hoặc thể nhân theo yêu cầu của người đi vay
sẽ đưa tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm và nhận trách nhiệm thay cho
người đi vay nếu người đi vay không trả được nợ cho ngân hàng.
+ Bên được bảo lãnh: Là công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế hay cá nhân có
nhu cầu vay vốn ngân hàng nhưng không đủ uy tín hay không có tài sản để bảo
đảm cho khoản vốn vay. Khi được bảo lãnh, bên được bảo lãnh sẽ phải trả một
khoản chi phí nhất định cho bên bảo lãnh.
+ Bên nhận bảo lãnh: Đó là người cho vay ( Ngân hàng thương mại, công
ty tài chính).
Điều kiện đối với người bảo lãnh: Phải có đủ năng lực pháp lý và khả năng
trả nợ thay cho khách hàng, có đủ năng lực tài chính, uy tín hay tài sản dùng để
bảo đảm nợ vay. Sơ đồ khái quát của hình thức bảo lãnh.
Chương 1
11
Bài giảng môn học: Phân tích tín dụng và cho vay
(1): Hợp đồng bảo lãnh. (4): Yêu cầu thanh toán.
(2): Ngân hàng cấp tín dụng. (5): Thanh toán cho ngân hàng.
(3): Người vay không trả được nợ (6): Bồi thường bảo lãnh
Trình tự xét duyệt một bảo lãnh. Xem xét tư cách pháp nhân của một người
quyền hạn của từng bộ phận liên quan trong hoạt động tín dụng.
• Quy trình tín dụng làm cơ sở cho việc thiết lập các hồ sơ và thủ
tục vay vốn về mặt hành chính.
• Quy trình tín dụng chỉ rõ mối quan hệ giữa các bộ phận liên quan
trong hoạt động tín dụng.
Quy trình tín dụng căn bản
Tùy theo đặc điểm tổ chức và quản trị, mỗi ngân hàng đều tự thiết kế và
xây dựng cho mình một quy trình tín dụng riêng. Ở đây, chỉ trình bày các bước
căn bản của 1 quy trình tín dụng.
Quy trình tín dụng có thể phân theo nhiều giai đoạn khác nhau như: 2 giai
đoạn (trước khi cấp tín dung, sau khi cấp tín dụng), 3 giai đoạn (trước khi cấp tín
dụng, trong khi cấp tín dụng, sau khi cấp tín dụng). Hiện nay, quy trình tín dụng
được chia thành những giai đoạn như:
- Lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng
- Thẩm định ( phân tích tín dụng)
- Quyết định tín dụng
- Giải ngân
- Giám sát, thu nợ và thanh lý tín dụng.
2.2.1 Lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng
Lập hồ sơ tín dụng là khâu căn bản đầu tiên của quy trình tín dụng, nó được
thực hiện ngay sau khi cán bộ tín dụng (CBTD) tiếp xúc với khách hàng có nhu
cầu vay vốn. Lập hồ sơ tín dụng là khâu quan trọng vì nó là khâu thu thập thông
tin làm cơ sở để thực hiện các khâu sau, đặc biệt là khâu phân tích và ra quyết định
cho vay.
Tùy theo quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng, loại tín dụng yêu cầu và
quy mô tín dụng, CBTD hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ với những thông tin yêu
cầu khác nhau. Nhìn chung, 1 bộ hồ sơ đề nghị cấp tín dụng cần thu thập từ khách
hàng những thông tin sau:
Thông tin về năng lực pháp lý và năng lực hành vi của khách hàng.
Thông tin về khả năng sử dụng và hoàn trả vốn của khách hàng.
Từ chối cho vay đối với 1 khách hàng tốt.
Cả 2 loại sai lầm này đều dẫn đến thiệt hại đáng kể cho ngân hàng. Loại sai
lầm thứ nhất dễ dẫn đến thiệt hại do nợ quá hạn hoặc nợ không thể thu hồi, tức là
thiệt hại về tài chính. Loại sai lầm thứ hai dễ dẫn đến thiệt hại về uy tín và mất cơ
hội cho vay.
Nhằm hạn chế sai lầm, trong khâu quyết định tín dụng các ngân hàng thường
chú trọng 2 vấn đề (1) thu thập và xử lý thông tin 1 cách đầy đủ và chính xác làm
Chương 1
14
Bài giảng môn học: Phân tích tín dụng và cho vay
cơ sở để ra quyết định, (2) trao quyền quyết định cho 1 hội đồng tín dụng hoặc
những người có năng lực phân tích và phán quyết.
2.2.3.1. Cơ sở để ra quyết định tín dụng
Cơ sở để ra quyết định tín dụng trước hết dựa vào thông tin thu thập và xử lý
từ hồ sơ tín dụng, do giai đoạn trước chuyển sang. Kế đến, dựa vào những thông
tin khác hoặc thông tin cập nhật hóa có liên quan, thông tin đa dạng từ nhiều
nguồn khác nhau đó được cập nhật hóa, đặc biệt là các thông tin đáng tin cậy từ
các công ty nghiên cứu thị trường có uy tín, chẳng hạn như thông tin cập nhật về
tình hình thị trường, chính sách tín dụng của ngân hàng, các quy định về hoạt động
tín dụng của ngân hàng Nhà nước, nguồn vốn cho vay của ngân hàng, kết quả
thẩm định các hình thức bảo đảm nợ vay.
2.2.3.2. Quyền phán quyết dụng
Tùy theo quy mô vốn vay lớn hay nhỏ quyền phán quyết thường được trao cho
1 hội đồng tín dụng hay 1 cá nhân phụ trách. Hội đồng tín dụng, bao gồm những
người có quyền hạn và trách nhiệm quan trọng trong ngân hàng, thường phán
quyết những hồ sơ vay vốn có quy mô lớn trong khi quyền phán quyết các hồ sơ
vay có quy mô nhỏ thường được trao cho cá nhân phụ trách.
Quyền phán quyết tín dụng: có 2 cách:
+ Cách 1: Người ra quyết định thường là những nhân viên có trình độ, kinh
nghiệm và uy tín tại ngân hàng. Việc phân công nhiệm vụ này phụ thuộc vào
nghị cấp tín dụng cũng như hồ sơ xin cấp tín dụng. Nếu chấp thuận: ngân hàng sẽ
tiến hành ký kết hợp đồng tín dụng cùng với các hợp đồng liên quan. Đây là hành
vi pháp lý quan trọng để làm cơ sở giao vốn cho người vay và kiểm soát việc thu
hồi vốn cấp. Hợp đồng tín dụng được ký kết với các điều khoản rõ ràng, cụ thể thì
công tác giám sát tín dụng ở giai đoạn sau sẽ thuận lợi. Hồ sơ tín dụng ban đầu
hình thành bao gồm: các giấy tờ giai đoạn 1 + Báo cáo kết quả phân tích giai đoạn
2 + các tài liệu cập nhật về khách hàng + các hợp đồng về đảm bảo tín dụng + hợp
đồng tín dụng được ký kết. Hồ sơ này được lưu giữ tại ngân hàng và được cập
nhật thường xuyên.
Lưu ý cần phân biệt rõ trách nhiệm giữa người ra quyết định tín dụng với
người đại diện ngân hàng ký kết hợp đồng tín dụng. Người ra quyết định phải chịu
trách nhiệm về tính đúng đắn, hợp lý của các yếu tố liên quan đến khoản tín dụng
như: mục đích, số tiền, thời hạn, điều kiện giải ngân, cách thu nợ, , Người ký hợp
đồng là người đại diện theo pháp luật của Ngân hàng để ký vào văn bản xác lập
các nghĩa vụ và quyền hạn của 2 bên trong quan hệ tín dụng ( tổng giám đốc, giám
đốc). Người này có thể uỷ quyền cho người khác bằng văn bản, người được uỷ
quyền không được uỷ quyền lại cho người khác. Tuy nhiên, người ra quyết định
tin dụng không được uỷ quyền cho người khác, việc thay đổi người ra quyết định
tín dụng phải tiến hành theo trình từ nghiêm ngặt của ngân hàng.
Chương 1
16
Bài giảng môn học: Phân tích tín dụng và cho vay
2.2.4. Giải ngân
Giải ngân là nghiệp vụ cấp tiền cho khách hàng trên cơ sở mức tín dụng đã
ký kết trong hợp đồng. Giải ngân phải đảm bảo nguyên tắc vận động của tín dụng
gắn liền với vận động của hàng hoá, đó là việc phát tiền vay phải có hàng hoá đối
ứng, phù hợp với mục đích vay của hợp đồng tín dụng. Phương thức giải ngân phụ
thuộc vào nội dung cam kết của hợp đồng. Theo tính chất nghiệp vụ, chia 2 loại:
+ Giải ngân là nghiệp vụ cấp tiền thuần tuý trong hạn mức tín dụng, không
đòi hỏi thêm bất cứ điều kiện nào (thường áp dụng cho loại hình cho vay tiêu
phát hiện những vi phạm để có những ứng xử kịp thời, theo dõi và ghi nhận việc
thực hiện quy trình tín dụng của các bộ phận có liên quan tại ngân hàng. Các
phương pháp giám sát mà ngân hàng thường áp dụng:
+ Giám sát hoạt động tài khoản của khách hàng tại ngân hàng
+ Phân tích báo cáo tài chính theo định kỳ
+ Viếng thăm và kiểm soát địa điểm hoạt động kinh doanh
+ Kiểm tra việc đảm bảo tiền vay
+ Giám sát hoạt động khách hàng thông qua các mối quan hệ với khách
hàng khác
+ Giám sát qua những thông tin khác.
(2). Công tác thu nợ: Khách hàng có trách nhiệm và nghĩa vụ trả nợ cho
ngân hàng đúng hạn và đầy đủ như trong cam kết theo hợp đồng. Các phương
pháp thu nợ:
+ Thu gốc và lãi một lần ở kỳ hạn trả nợ cuối cùng.
+ Thu nợ gốc 1 lần khi đến hạn, thu lãi định kỳ
+ Thu nợ gốc và lãi theo nhiều kỳ hạn
Thủ tục thu nợ: trước ngày đáo hạn trả nợ, ngân hàng thường thông báo cho
khách hàng biết số nợ phải thanh toán và ngày thanh toán bằng các hình thức như
thông báo bằng thư, qua bưu điện, trực tiếp, bằng điện thoại hay qua mạng. Trong
quá trình giám sát thu nợ, ngân hàng thường áp dụng một số biện pháp sau:
+ Điều chỉnh kỳ hạn nợ
+ Chuyển nợ quá hạn các khoản đến hạn nhưng chưa trả được
+ Coi các kỳ hạn sau đều đến hạn và chuyển nợ quá hạn số nợ còn lại
+ Khi đáo hạn mà khách hàng không trả được do nguyên nhân khách quan,
nếu có nhu cầu và hội đủ các điều kiện, ngân hàng xem xét để gia hạn nợ. Việc gia
hạn nợ (kéo dài thời hạn trả) sẽ quay lại giai đoạn 2.
+ Đảo nợ: là ký hợp đồng mới để thanh lý hợp đồng cũ. Phương pháp này
chỉ áp dụng trong một số trường hợp nhất định như ngân hàng cho vay khách hàng
thuộc đối tượng trung dài hạn do khách hàng không có nguồn vốn tương ứng hay
do nhu cầu quản trị danh mục cho vay ngân hàng phải cấu trúc lại nợ, có sự thay
hiện nhiệm vụ này. Đối với những ngân hàng quy mô nhỏ, việc xem xét lại tín
dụng do các nhân viên tín dụng đảm nhận luôn. Các giấy tờ trong giai đoạn này
được bổ sung vào hồ sơ tín dụng.
(4). Xử lý nợ quá hạn, nợ có vấn đề: Nợ quá hạn là những khoản nợ
không hoàn trả đúng hạn, không được phép và không đủ điều kiện gia hạn nợ.
Trong trường hợp này, ngân hàng chuyển sang nợ quá hạn và áp dụng các biện
Chương 1
19
Bài giảng môn học: Phân tích tín dụng và cho vay
pháp khắt khe để nhanh chóng thu hồi nợ đầy đủ. Có 2 hướng để xử lý nợ quá hạn
là khai thác và thanh lý.
* Tổng hợp nội dung của các bước trong quy trình cho vay
Các giai
đoạn
Nguồn và nơi
cung cấp thông
tin
Nhiệm vụ của NH ở
mỗi giai đoạn
Kết quả sau khi kết
thúc giai đoạn
1. Lập hồ
sơ đề nghị
cấpTD
- Khách hàng đi
vay cung cấp
- Tiếp xúc, phổ biến,
hướng dẫn lập hồ sơ
cho KH
- Hoàn thành kỹ hồ sơ
được giao quyền phán
quyết
- Quyết định cho vay
hay từ chối
- Tiến hành các thủ tục
pháp lý như ký hợp
đồng TD và các hợp
đồng khác
4. Giải
ngân
- Quyết định cho
vay, các Hđồng
liên quan
- Các chứng từ
làm cơ sở giải
ngân
- Thẩm định các chứng
từ theo các điều kiện
của hợp đồng TD.
- Chuyển tiền vào tài
khoản tiền gởi cho
khách hàng hoặc
chuyển trả cho người
cung cấp
5. Giám sát,
thu nợ và
thanh lý
TD
- Các thông tin từ
nội bộ NH
- Góp phần hạn chế rủi ro cho vay.
- Góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng
- Góp phần ổn định thị trường tài chính.
- Góp phần hạn chế rủi ro đạo đức trong kinh doanh ngân hàng.
3.2. Thông tin làm cơ sở cho việc phân tích TD
Để phục vụ cho quá trình phân tích, các ngân hàng thường sử dụng các
nguồn thông tin sau:
- Thông tin từ hồ sơ đề nghị vay vốn của khách hàng, gồm: Hồ sơ pháp lý,
hồ sơ về tình hình kinh tế, tài chính hiện tại và trong tương lai, hồ sơ phương án
kinh doanh hoặc dự án đầu tư, phương án vay, hoàn trả nợ và lãi, hồ sơ tài sản thế
chấp, cầm cố (nếu có ), các tài liệu khác.
- Thông tin lưu trữ tại ngân hàng.
- Thông tin từ điều tra, phỏng vấn.
- Các nguồn thông tin khác: từ các tổ chức thông tin chuyên môn, từ các cơ
quan chức năng, từ các cơ quan truyền thông, báo chí, từ các ấn phẩm của các cơ
quan chính phủ, từ các văn bản pháp quy, từ bạn hàng và đối thủ cạnh tranh của
khách hàng vay; từ các ngân hàng khác v.v
Để có kết quả tốt, người phân tích cần có các kỹ năng: nhận biết địa điểm
nguồn thông tin, cách thức thu thập thông tin, chọn lọc xử lý và sử dụng tốt các
thông tin cần thiết. Các phương pháp thu thập bao gồm như phân tích và tổng hợp
Chương 1
21
Bài giảng môn học: Phân tích tín dụng và cho vay
thông tin đã có, trao đổi thông tin với các cơ quan chức năng và trong hệ thống
ngân hàng, mua thông tin từ các tổ chức, cá nhân, phương pháp phỏng vấn. Đặc
biệt, khi phỏng vấn để lấy thông tin, thông thường cán bộ tín dụng có thể gặp phải
một số khó khăn tiềm ẩn sau:
- Khó khăn khi diễn đạt ý tuởng thành lời.
- Điều kiện về môi trường không phù hợp và ( hoặc ) không tiện lợi.
- Bản thân cảm nhận sai.
bên ngoài.
- Dù khó thực hiện, song việc đánh giá chất lượng quản lý doanh nghiệp là
rất quan trọng.
- Tài sản đảm bảo không phải là vật thay thế cho việc trả nợ.
- Cho vay với những doanh nghiệp nhỏ, khả năng rủi ro cao hơn cho vay
đối với những doanh nghiệp lớn.
- Cần cẩn trọng xem xét đến từng chi tiết.
- Những ngân hàng địa phương nên chú trọng cho vay những doanh nghiệp
trên địa bàn.
- Nên trả lời “ không” đối với những khách hàng thúc ép muốn có một câu
trả lời nhanh.
- Nếu khoản vay được bảo lãnh phải chắc chắn rằng lợi ích của người bảo
lãnh tương đồng với lợi ích của người vay.
- Hãy xác định chính xác tiền của ngân hàng được khách hàng chi tiêu vào
đâu.
- Phải luôn nghĩ đến những tổn thất của ngân hàng mình nếu khả năng rủi
ro tăng lên khi những nguyên tắc bị vi phạm.
3.4. Những vấn đề cần xem xét trước khi phân tích tín dụng
Trước khi tiến hành phân tích chi tiết, ngân hàng cần thẩm tra sơ bộ đề nghị
vay vốn của khách hàng.
Mục đích của thẩm tra nhằm đảm bảo dự án hoặc phương án hoạt động
trong khuôn khổ các chính sách về thể chế, các tiêu chí quản lý hạn mức tín dụng,
phù hợp với chính sách tín dụng mà ngân hàng đã hoạch định.
Điều này giúp ngân hàng không mất thời gian thẩm định những nhu cầu
vay vốn mà ngân hàng có thể sẽ không chấp nhận tài trợ. Những vấn đề cần xem
xét khi kiểm tra:
- Mục đích vay vốn của khách hàng: hợp pháp không. Thuận lợi hay khó
khăn? Có nằm trong phạm vi tài trợ của chính sách cho vay? Có nằm trong phạm
vi những chương trình đặc biệt hay trong phạm vi các lĩnh vực ưu tiên, các nhóm
mục tiêu, liệu ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn của mình để tài trợ cho loại
đức là tập hợp những phẩm chất riêng biệt của một con người, để phân biệt
người này với người khác. Ngân hàng phải biết được người vay trung thực hay thủ
đoạn, chăm chỉ hay lười biếng, cẩu thả hay cẩn thận, tiết kiệm hay hoang phí
Những phẩm chất này tạo nên tư cách của người đi vay, là cơ sở để đánh giá tín
dụng. Giao dịch với một người không trung thực là một rủi ro với ngân hàng, ngân
hàng không thể biết được liệu người đó có sử dụng tiền vay đúng mục đích hay
không. Tác giả này, khi còn là một ông chủ ngân hàng đó từng cho một khách
hàng vay tiền để phát triển trang trại nhưng ông ta đâ dùng số tiền đó để xây nhà.
Chương 1
24
Bài giảng môn học: Phân tích tín dụng và cho vay
Khoản vay được hoàn trả bằng khoản thu nhập trội lên từ việc phát triển trang trại
nhưng nó lại được sử dụng mà không đem lại bất cứ lợi nhuận nào. Người đi vay
đó hứa rằng ông ấy sẽ trả khoản vay dùng để xây nhà nhưng liệu ngân hàng nào có
thể tin vào lời hứa đó được nữa không?
Tư cách (character) như chiếc ly thuỷ tinh, nó dễ vỡ và không thể phục hồi
lại được. Nếu được lắp lại thì nó cũng còn để lại dấu vết. Một số người có địa vị
cao trong xã hội phải từ bỏ vị trí đó khi tư cách của họ bị đặt dấu chấm hỏi. Sự
không trung thực là yếu tố chính làm mất danh dự. Vì lý do này danh dự, tư cách
là điều sống còn với người đi vay.
Vậy làm thế nào để đánh giá tư cách của người đi vay? Character đại diện
cho những quan niệm khác nhau trong những nền văn hoá khác nhau. Những đặc
tính được xem là tốt trong một nền văn hoá có thể không được để ý đến trong nền
văn hoá khác. Ngân hàng cần tìm hiểu những đặc tính này trước khi đánh giá mọi
khía cạnh về tư cách của người vay. Ngân hàng chịu ảnh hưởng bởi tài chính của
người vay. Đó là việc người vay có trình bày trung thực về vấn đề tài chính hay
không? Thật khó để vẽ ra một ranh giới giữa tư cách tài chính và tư cách thông
thường của người đi vay. Thật khó để tin rằng một người không trung thực trong
đời sống hằng ngày có thể trung thực trong vấn đề tài chính. Ngân hàng phải phán
đoán những thông tin nhận đựơc từ người đi vay, nó có thể bị bỏ qua. Vậy việc