quản lý vốn đầu tư chương trình phổ cập dịch vụ viễn thông công ích tại quỹ dịch vụ viễn thông công ích việt nam giai đoạn 2006 - 2015 - Pdf 22

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
*****
NGUYỄN THỊ HƯƠNG NGỌC
QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ CHƯƠNG TRÌNH
PHỔ CẬP DỊCH VỤ VIỄN THÔNG CÔNG ÝCH
TẠI QUỸ DỊCH VỤ VIỄN THÔNG CÔNG ÝCH
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006 – 2015
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. TỪ QUANG PHƯƠNG
HÀ NỘI, NĂM 2011
MỤC LỤC
DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt Diễn giải
DNVT: Doanh nghiệp viễn thông
DVVT: Dịch vụ viễn thông
DVVTCI: Dịch vụ viễn thông công ích
HGĐ: Hộ gia đình
TBVT Thuê bao viễn thông
TBĐTCĐ Thuê bao điện thoại cố định
TNĐTCĐ Truy nhập điện thoại cố định
TN Internet CC Truy nhập Internet công cộng
TNVTCC Truy nhập viễn thông công cộng
TTTT: Thông tin và Truyền thông
VTF Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam
Viettel: Tổng công ty viễn thông quân đội
VNPT: Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam
EVN Telecom: Tổng công ty Viễn thông điện lực Việt Nam
Hanoi Telecom Công ty cổ phần viễn thông Hà Nội
SPT Công ty Cổ phần dịch vụ bưu chính viễn thông Sài gòn
Vishipel Công ty Thông tin Điện tử Hàng hải Việt Nam

đạo thực hiện cung cấp DVVTCI theo cơ chế bự chộo giữa kinh doanh và cung cấp
DVVTCI; Trong môi trường cạnh tranh, các DNVT đều có nghĩa vụ trong việc thực
hiện phổ cập DVVTCI. Về hình thức sử dụng vốn đầu tư phổ cập DVVTCI: Có hai
hình thức cơ bản là đầu tư không hoàn lại và cho vay ưu đãi. Ở Việt Nam, đến cuối
năm 2004, Nhà nước chưa phân định quản lý vốn đầu tư cho hoạt động kinh doanh
DVVT và quản lý vốn đầu tư cho hoạt động cung cấp DVVTCI. VNPT giữ vai trò
chủ đạo, được Nhà nước giao nhiệm vụ cung cấp DVVTCI với phương thức tự bự
chộo. Xuất phát từ thực trạng trên, ngày 08/11/2004 Thủ tướng Chính phủ ban hành
quyết định số 191/2004/QĐ-TTg, thành lập VTF. VTF là tổ chức tài chính Nhà
nước trực tiếp thực hiện quản lý vốn đầu tư chương trình phổ cập DVVTCI. Trong
quá trình thực hiện quản lý đã thu được những kết quả đáng kể. Tuy nhiên, cơ chế
quản lý vốn thời gian qua không còn phù hợp, đòi hỏi phải đổi mới.
Kết quả nghiên cứu: Luận văn nêu bật được các nội dung về cơ sở lý luận
và thực tiễn quản lý vốn đầu tư chương trình phổ cập DVVTCI. Đánh giá thực trạng
hoạt động quản lý vốn đầu tư chương trình phổ cập DVVTCI đến năm 2010. Định
hướng cơ chế quản lý, đề xuất giải pháp nâng cao khả năng quản lý vốn đầu tư phổ
cập DVVTCI giai đoạn tới.
ii
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ
CHƯƠNG TRÌNH PHỔ CẬP DỊCH VỤ VIỄN THÔNG CÔNG ÍCH
2.1. Bản chất, quan điểm và nội dung phổ cập dịch vụ viễn thông công ích
Các khái niệm: Dịch vụ viễn thông: là dịch vụ truyền ký hiệu, tín hiệu, số
liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh hoặc các dạng khác nhau của thông tin giữa các
điểm kết nối cuối thông qua mạng viễn thông. Dịch vụ viễn thông công ích:
DVVTCI bao gồm DVVT phổ cập và DVVT bắt buộc, là những DVVT thiết yếu
đối với xã hội, được nhà nước đảm bảo cung cấp theo chất lượng và giá cước do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền quy định.
Vai trò của cung cấp dịch vụ viễn thông công ích: Đảm bảo công bằng xã
hội; Góp phần thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn; Góp phần thúc đẩy
phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng; Thúc đẩy và tạo điều kiện

ngân sách Nhà nước và đóng góp từ các DNVT. Nguồn vốn đầu tư này được sử
dụng để đầu tư phát triển theo kế hoạch phổ cập DVVTCI của nhà nước, bao gồm
những hoạt động chính: Hỗ trợ không hoàn lại, vốn vay ưu đãi và chi phí cho công
ty quản lý quỹ.
Vai trò của quản lý vốn đầu tư phổ cập DVVTCI: Thứ nhất, nhằm sử dụng
vốn nhà nước theo đúng quy định hiện hành; Thứ hai, nhằm đảm bảo việc đầu tư
đúng mục đích, đúng thời gian quy định; Thứ ba, nhằm đảm bảo nguồn thu của
chương trình, hỗ trợ tài chính đúng đối tượng và cân đối thu chi hợp lý; Thứ tư,
nhằm đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả của chương trình.
Cơ chế quản lý vốn đầu tư phổ cập DVVTCI: Hiện nay, trên thế giới có 5
cơ chế chính được áp, bao gồm:
a) Cải cách dựa vào thị trường: Với 3 biện pháp cải cách đó là cổ phần hóa,
cạnh tranh và định giá trên cơ sở chi phí cận biên. Ưu điểm: Mở rộng và phát triển
mạng lưới (kể cả vùng không có lợi nhuận); khuyến khích tiếp tục phát triển dịch vụ
tại cỏc vựng có lãi. Nhược điểm: 3 hình thức cải cách này có một số mâu thuẫn.
Cạnh tranh trực tiếp và cân đối lại giá cước có thể hạn chế ngay sau khi cổ phần hóa
để cực đại húa cỏc nghĩa vụ phát triển mạng lưới.
b) Nghĩa vụ dịch vụ bắt buộc: Chính phủ quy định các nghĩa vụ bắt buộc về
phổ cập dịch vụ mà các doanh nghiệp mới được cấp phép hoặc mới được cổ phần
hóa phải thực hiện. Ưu điểm: Huy động được vốn của tư nhân để thực hiện phổ cập.
Nhược điểm: có khả năng dẫn đến không cạnh tranh.
c) Bao cấp chéo: Sử dụng nguồn thu từ những dịch vụ có lãi để bao cấp cho
những dịch vụ bị lỗ trong cùng một nhà cung cấp. Cơ chế bao cấp chéo sẽ không
còn có thể tồn tại được vỡ cú sự cạnh tranh về giá do phần thu nhập từ dịch vụ có
lợi nhuận cao để bù cho dịch vụ không có lãi ngày càng giảm.
iv
d) Phí thâm hụt truy nhập (ADC): Cơ chế này duy trì sự đóng góp của các
DNVT khác cho doanh nghiệp chủ đạo thông qua cơ chế kết nối mạng. Hình thức
này đã bộc lộ nhiều hạn chế như tính phức tạp trong việc xác định cước kết nối và
tạo ra nhiều rào cản cho các doanh nghiệp mới gia nhập thị trường.

3.1. Hoạt động phổ cập dịch vụ viễn thông công ích tại Việt Nam giai đoạn vừa
qua.
Giới thiệu về Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam: VTF là tổ chức
tài chính nhà nước trực thuộc Bộ TTTT được thành lập theo Quyết định số
191/2004/QĐ-TTg để thực hiện chủ trương của Nhà nước về cung ứng DVVTCI
trên cả nước. VTF tiếp nhận và huy động nguồn tài chính chủ yếu từ sự đóng góp
của DNVT để phục vụ việc phát triển mạng lưới cung ứng DVVTCI đến miền núi,
vựng sõu, vựng xa thông qua việc đấu thầu, đặt hàng và giao kế hoạch với các
DNVT; đồng thời giám sát DNVT trong việc sử dụng nguồn hỗ trợ thực hiện cung
ứng DVVTCI.
Thực trạng hoạt động cung cấp dịch vụ viễn thông công ích tại Việt Nam
giai đoạn 2006 – 2010: Sản lượng phổ cập DVVT: Theo báo cáo của Bộ TTTT
bình quân năm giai đoạn 2007 – 2010, hỗ trợ cho người dân phát triển mới: 718.622
TBĐTCĐ, 21.548 thuê bao Internet, 1250 máy thu phát vô tuyến điện tần số HF cho
tàu cá. Về hỗ trợ duy trì cho DNVT từ năm 2005 đến năm 2010, bình quân năm: Hỗ
trợ duy trì TBĐTCĐ là 1.228.570 thuê bao, duy trì TB Internet là 31.681 thuê bao,
duy trì điểm TNĐTCC là 3.830 điểm, duy trì điểm TN Internet CC là 565 điểm, duy
trì trạm VSAT-IP là 173 thiết bị, duy trì thông tin liên lạc cho máy HF là 8 thiết bị,
duy trì đài thông tin cấp cứu và tìm kiếm cứu nạn trên biển là 8 đài, duy trì đài
thông tin dự báo thiên tai trên biển là 8 đài. DVVT bắt buộc (113, 114, 115, 116)
được cung cấp tới mọi người dõn trờn toàn quốc bình quân năm là 22 triệu phút liên
lạc. Về các chỉ tiêu cơ bản: đến cuối năm 2010 xấp xỉ 16 máy điện thoại/100 dân,
4034 xã thuộc vùng công ích có điểm TNĐTCC – chiếm 97%, 2.287 xã có điểm TN
Internet CC, chỉ đạt mật độ 55%. Mọi người dân được truy nhập miễn phí khi sử
dụng các DVVT bắt buộc.
3.2. Thực trạng quản lý vốn đầu tư chương trình phổ cập dịch vụ viễn thông
công ích tại VTF giai đoạn 2006 – 2010
3.2.1. Thực trạng quản lý thu nộp, đóng góp từ các đơn vị:
Tỷ lệ thu nộp: Tất cả các DNVT hoạt động kinh doanh tại Việt Nam đều
phải thực hiện nghĩa vụ cung cấp DVVTCI tại Việt Nam thông qua việc đóng góp

hiện: Giai đoạn 1: Xây dựng kế hoạch cung cấp DVVTCI cho các DNVT. Giai
đoạn 2: Giao kế hoạch, đặt hàng cung cấp DVVTCI cho các DNVT. Giai đoạn 3:
Báo cáo, xác nhận và nghiệm thu sản lượng DVVTCI đã thực hiện của các DNVT.
Giai đoạn 4: Cấp phát kinh phí hỗ trợ (tạm cấp, thanh toán và quyết toán) cung cấp
DVVTCI cho các DNVT:
vii
Đối với cho vay ưu đãi: Áp dụng cho các DNVT có nhu cầu vay vốn để
thực hiện đầu tư các dự án xây dựng mới, nâng cấp, mở rộng cơ sở hạ tầng mạng
lưới viễn thông, Internet hoặc các cơ sở vật chất khác phục vụ việc cung cấp
DVVTCI tại cỏc vựng được cung cấp DVVTCI. Việc cho vay được thực hiện theo
dự án đầu tư hoặc các phương thức khác được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Quy
trình thực hiện việc vay vốn như sau: Bước 1: Các DNVT gửi về VTF danh mục
các dự án đề nghị vay vốn của VTF. Bước 2: VTF thẩm định và trình Hội đồng
quản lý. Bước 3: VTF tổ chức thẩm định chi tiết các dự án đảm bảo các điều kiện
vay vốn, quyết định việc cho vay và thực hiện ký hợp đồng tín dụng vay vốn. Bước
4: tổ chức thực hiện việc giải ngân, kiểm tra, giám sát, thu hồi gốc và lãi.
Kết quả hoạt động trong thời gian vừa qua: Hỗ trợ không hoàn lại: Tính
đến năm 2010, đó cú 4 DNVT có đủ cơ sở hạ tầng đáp ứng việc cung cấp DVVTCI
trên cả nước bao gồm: VNPT, Viettel, EVN Telecom và Vishipel. Tổng kinh phí hỗ
trợ cho các DNVT cung cấp DVVTCI từ năm 2005 đến năm 2010 ước vào khoảng
5.691 tỷ VNĐ với 7 loại hình dịch vụ chính được phổ cập. Có 3 phương thức hỗ trợ
là thực thanh thực chi, giao kế hoạch và đặt hàng các DNVT. Đến nay, VTF đã cấp
cho các DNVT vào khoảng 4.058 tỷ đồng so với tổng mức kinh phí của toàn bộ
chương trình là 5.200.000 triệu đồng chiếm 78%, số còn lại đang chờ nghiệm thu,
thanh lý hợp đồng 2009 – 2010 sau đó sẽ cấp tiếp cho các DNVT. Cho vay ưu đãi:
Trong cả giai đoạn thực hiện chương trình đến năm 2010, VTF đã thẩm định hồ sơ
của 30 dự án, ký hợp đồng tín dụng đối với 22 dự án và đã giải ngân đối với 17 dự
án (phụ lục 2 kèm theo). 30 dự án này được duyệt cho vay theo kế hoạch với tổng
kinh phí là: 168,2 tỷ đồng, trong đó VTF đã giải ngân 17 dự án với tổng kinh phí là
70,473 tỷ đồng.

quản lý tài chính của chương trình chậm, khó kiểm soát, khó chính xác, chưa chấp
hành đúng quy định về niên độ tài chính.
Cho vay ưu đãi: Nhu cầu vay của các DNVT vượt khả năng cân đối nguồn
vốn của VTF đòi hỏi phải thẩm định và chọn lọc khắt khe hơn đối với các dự án cho
vay. Những dự án cho vay đều mang tính nhỏ lẻ, kinh phí cho mỗi điểm ít (không
quá 200 triệu/điểm). Tuy nhiên, trên thực tế, doanh nghiệp thường triển khai liên
hoàn, không chỉ là kinh phí tạo dựng một điểm mà nú cũn bao gồm cả kinh phí cho
các thiết bị truyền dẫn, kết nối với nhau (chuyển mạch trung tâm) mà trong chính
sách cho vay hiện nay của VTF lại không có.
3.3.3. Nguyên nhân:
Nguyên nhân khách quan: Đây là giai đoạn đầu tiên nước ta xây dựng và
thực hiện chính sách về VTCI trong nền kinh tế thị trường, không có tiền lệ, không
có kinh nghiệm trong nước. Về cơ chế chính sách: Các văn bản giao kế hoạch ban
hành chậm. Số lượng văn bản nhiều, hay thay đổi, bổ sung nhiều lần, nhiều mốc
thời gian khác nhau. Một số văn bản pháp quy chưa có tính khả thi, chất lượng chưa
ix
cao. Nguyên nhân từ các DNVT và Sở TTTT: Trên thực tế, một số đơn vị chưa thực
hiện đầy đủ những trách nhiệm của mình hoặc thực hiện không đúng các quy định
của Bộ TTTT để phục vụ cho việc cấp phát kinh phí hỗ trợ cung cấp DVVTCI.
Nguyên nhân chủ quan: Tính chủ động trong công tác quản lý của VTF không
cao. Nguồn nhân lực tại VTF chưa chuyờn sõu, đội ngũ nhân lực trẻ chưa có nhiều
kinh nghiệm trong công tác quản lý chương trình.
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ
CHƯƠNG TRÌNH PHỔ CẬP DỊCH VỤ VIỄN THÔNG CÔNG ÍCH GIAI
ĐOẠN 2011 - 2015
4.1. Định hướng quản lý vốn đầu tư chương trình phổ cập dịch vụ viễn thông
công ích giai đoạn 2011 – 2015.
Nhiệm vụ phát triển VTCI trong giai đoạn tới sẽ hướng đến việc phát triển hạ
tầng tại cỏc vựng khó khăn để nhanh chóng cải thiện điều kiện tiếp cận thông tin tạo
điều kiện phát triển kinh tế - xã hội vùng khó khăn. Mục tiêu của chương trình:

khoảng 1-2%. Phưong pháp này rất ổn định vì dễ tính dễ làm và dễ kiểm tra. Về dịch
vụ thu nộp, đưa ra tiêu chí xác định doanh thu dịch vụ làm căn cứ thu nộp để đảm
bảo tính công bằng. Đối tượng thu nộp cần chặt chẽ theo cấp phép và cần có chế tài
sử phạt nghiêm đối với những DNVT không thực hiện đúng thời hạn thu nộp.
4.2.3. Hoàn thiện cơ chế sử dụng vốn hỗ trợ cung cấp dịch vụ viễn thông
công ích
Hỗ trợ không hoàn lại: Về các văn bản hành chính: Nâng cao tớnh sỏt
thực của các văn bản pháp quy. Thời gian có hiệu lực và thời gian áp dụng các văn
bản nên logic với nhau hơn để các đơn vị triển khai thực hiện được thuận lợi, không
phải thực hiện việc hồi tố các công việc đã thực hiện rồi gây ảnh hưởng chậm trễ
đến toàn bộ quá trình cấp phát kinh phí hỗ trợ cung cấp DVVTCI. Về danh mục
DVVTCI: Giai đoạn tới vẫn hỗ trợ duy trì các dịch vụ tối thiểu cho người dân, đồng
thời cũng cần phải xem xét lại tính hợp lý của các DVVTCI đang được hỗ trợ để
điều chỉnh thêm hoặc bớt các DVVTCI được hỗ trợ, nhằm đảm bảo được việc sử
dụng kinh phí hỗ trợ hiệu quả nhất, tránh tình trạng sử dụng sai mục đích gây lãng
phí, thất thoát tiền của Nhà nước. Về mức độ phổ cập DVVTCI: Cần xem xét lại
tiêu chí đánh giá mức độ phổ cập dịch vụ để phản ánh một cách chính xác mức độ
phổ cập DVVTCI ở vựng sõu, vựng xa có dân số ít. Và có thể nên bổ sung các chỉ
tiêu để đánh giá mức độ phổ cập DVVT như: Tỷ lệ số hộ có điện thoại, tỷ lệ số thôn
có điện thoại…Về vùng cung cấp DVVTCI: Nhà nước cần xem xét việc quy định
xi
vùng VTCI trên địa bàn các huyện một cách đồng nhất và xem xét việc cho phép bổ
xung thờm cỏc huyện và cỏc xó vào diện thuộc vùng được cung cấp DVVTCI như:
9 huyện còn lại thuộc 61 huyện nghèo nhất nước, các huyện đảo và hải đảo xa đất
liền từ 20km trở lên, các huyện có tỉ lệ xã thuộc Chương trình 135 (có từ 50% số xã
thuộc huyện trở lên). Về phương thức hỗ trợ tài chính cung cấp DVVTCI: Theo
quy định hiện hành có 3 hình thức cung cấp DVVTCI đó là giao kế hoạch, đấu thầu
và đặt hàng. Trong giai đoạn tới, để đảm bảo hỗ trợ cung cấp DVVTCI có hiệu quả
hơn cần chuyển dần từ phương thức đặt hàng sang phương thức đấu thầu cung cấp
DVVTCI. Có thể áp dụng cả hai hình thức đặt hàng và đấu thầu, tùy từng trường

trợ theo đúng quy định của Nhà nước. Minh bạch việc sử dụng nguồn vốn hỗ trợ
VTCI bằng cách hoạch toỏn riờng nguồn kinh phí hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi cho
việc kiểm tra giám sát kinh phí.
KẾT LUẬN
Việc phổ cập DVVTCI có ý nghĩa hết sức to lớn đối với việc nâng cao đời
sống người dân và phát triển kinh tế xã hội. Từ năm 2005 đến nay, công tác cung
ứng DVVTCI đã thu được nhiều kết quả đáng kể. Các DNVT đã thực hiện nghĩa vụ
đóng góp vào quỹ DVVTCI dưới sự quản lý của VTF, tạo nguồn để VTF thực hiện
hỗ trợ tài chính cho người dân sử dụng DVVTCI. Đến nay, đã hết thời gian thực
hiện chương trình, để tiếp tục cung cấp DVVTCI trong giai đoạn tới, việc đánh giá
việc quản lý vốn đầu tư cho chương trình phổ cập DVVTCI giai đoạn 2005-2010,
đồng thời đưa ra giải pháp đổi mới công tác này cho giai đoạn 2011 - 2015 của VTF
là hết sức cần thiết. Luận văn đã đi vào giải quyết những nội dung sau:
1. Luận văn đi sâu vào nghiên cứu tổng quan về cơ chế quản lý vốn đầu tư
chương trình phổ cập DVVTCI tại VTF và tham chiếu kinh nghiệm nước ngoài để
từ đó làm tiền đề cho việc giải quyết các vấn đề hoạt động quản lý thu, chi vốn đầu
tư phổ cập DVVTCI tại Việt Nam.
2. Luận văn đã nghiên cứu, phân tích thực trạng hoạt động phổ cập DVVTCI
của các DNVT, thực trạng về quản lý vốn đầu tư chương trình phổ cập DVVTCI tại
VTF giai đoạn 2006 – 2010.
3. Trên cơ sở thực trạng và tồn tại trong hoạt động quản lý vốn đầu tư
chương trình phổ cập DVVTCI tại VTF, luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm
hoàn thiện công tác quản lý vốn tại VTF.
Phổ cập DVVTCI là vấn đề mới được triển khai thực hiện ở Việt Nam, đồng
thời do hạn chế về thời gian nghiên cứu và kinh nghiệm của bản thân nên kết quả đề
xiii
tài không tránh khỏi những thiếu xót nhất định. Rất mong nhận được các ý kiến
đóng góp để luận văn được hoàn thiện hơn.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
*****

nước phải được phát triển một cách hài hoà. Nhà nước coi phổ cập dịch vụ điện
thoại là trách nhiệm chung, trước hết là của các nhà cung cấp dịch vụ điện thoại.
Trách nhiệm đó được thực hiện bằng cách yêu cầu các doanh nghiệp phải cung cấp
dịch vụ điện thoại ở cỏc vựng khó khăn; hoặc yêu cầu các doanh nghiệp phải đóng
góp vào quỹ phổ cập dịch vụ và Nhà nước dùng quỹ này để thuê một doanh nghiệp
nào đó làm nhiệm vụ cung cấp dịch vụ phổ cập.
Với cách tiếp cận kinh tế học, DVVT cần phải được phổ cập vì 2 lý do chính:
Một là: DVVT là hàng hóa được cung cấp nhằm thỏa mãn nhu cầu liên lạc
cho mỗi và mọi cá nhân, tổ chức, cơ quan đơn vị… trong sinh hoạt đời sống xã hội,
trong sản xuất kinh doanh, trong quản lý điều hành của các cơ quan chính quyền…
2
Như vậy, DVVT là một loại hàng hóa công cộng vừa thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng
vừa là “tài liệu” cần thiết để sản xuất kinh doanh và quản lý Nhà nước. Chính vì
vậy, DVVT phải được phổ cập.
Hai là: Khi một người có thiết bị viễn thông được kết nối với mạng lưới viễn
thông, thì bản thân họ có quyền và lợi ích liên lạc với các thành tố vốn đó cú trong
mạng lưới. Mặt khác, các thành tố vốn đã có của mạng lưới cũng đồng thời cú thờm
quyền và lợi ích liên lạc với thành tố mới trên cùng một hệ thống mạng lưới sẵn có.
Trong kinh tế viễn thông hiện tượng đó được gọi là hiệu ứng ngoại sai. Hiệu ứng
ngoại sai trong liên lạc viễn thông có tác dụng thúc đẩy sự phát triển DVVT, và do
đó thúc đẩy hàng hóa công cộng phát triển.
Ở Việt Nam, việc phổ cập DVVT càng trở nên cần thiết khi đất nước đang trên
con đường công nghiệp hoá, hiện đại hóa. Việc “đi tắt đón đầu” được coi là chính sách
phù hợp để rút ngắn, thu hẹp khoảng cách, theo kịp các nước trong khu vực và thế giới.
Muốn thành công trong thế giới của kỷ nguyên thông tin, của kinh tế tri thức, mọi
người dân Việt Nam phải được tạo điều kiện để tiếp cận rộng rãi đến kiến thức. Chính
vì vậy, một chính sách phổ cập dịch vụ hiệu quả sẽ giữ một vai trò hết sức quan trọng.
Xuất phát từ thực trạng trên, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số
74/2006/QĐ-TTg ngày 07/4/2006, về: “Phờ duyệt Chương trình cung cấp dịch vụ viễn
thông công ích đến năm 2010” với mục đích đẩy nhanh việc phổ cập các DVVT và

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý vốn đầu tư chương trình phổ cập
DVVTCI cùng với việc đánh giá thực trạng công tác quản lý vốn chương trình phổ
cập DVVTCI tại VTF giai đoạn 2006 – 2010, luận văn nghiên cứu đề xuất các giải
pháp nhằm nâng cao khả năng quản lý vốn đầu tư trong giai đoạn 2011 – 2015.
1.3. Yêu cầu nghiên cứu:
- Quản lý vốn đầu tư phải có cơ sở lý luận và thực tiễn, được thực hiện thông
qua đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, theo đúng pháp luật hiện hành.
Quản lý vốn phải gắn với công tác quản lý hành chính.
- Luận văn phản ánh trung thực việc thực hiện công tác quản lý vốn đầu tư
chương trình phổ cập DVVTCI trong thời gian qua.
4
- Các đề xuất cho giai đoạn 2011 – 2015 có căn cứ khoa học và phù hợp với
thực tiễn.
1.4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Quản lý vốn đầu tư chương trình phổ cập dịch vụ viễn thông công ích tại
Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam.
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Lĩnh vực phổ cập dịch vụ viễn thông công ích.
- Giai đoạn 2006 – 2015.
1.5. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học, trong đó
chủ yếu là phương pháp phân tích tổng hợp và phương pháp logic.
1.6. Sơ lược tình hình nghiên cứu:
Vấn đề cung cấp DVVTCI nảy sinh đầu tiên tại các quốc gia phát triển. Ngày
nay đã trở thành vấn đề chung của văn minh nhân loại, thể hiện mong muốn cuộc
sống tốt đẹp hơn. Xã hội hóa thông tin, cung cấp DVVTCI là yêu cầu đầu tiên để
phát triển kinh tế tri thức và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, mà tất cả các quốc gia
đều quan tâm và thực hiện. Cung cấp DVVTCI ở các nước tập trung vào việc phát
triển, duy trì khả năng truy nhập của các hộ gia đình (HGĐ) vào hệ thống thông tin

DNVT trong nước tham gia thị trường. Đến năm 2004, mật độ điện thoại theo
người dân bình quân toàn quốc khoảng 10%, trong đó vựng sõu, vựng xa, vùng khó
khăn chỉ khoảng 2,5%, có nơi thậm chí chưa tới 1%. Cả nước còn gần 600 xã chưa
có điện thoại. Dịch vụ Internet mới ở thời kỳ đầu, chất lượng thấp, ở vùng nông
thôn hầu như chưa có. Đến cuối năm 2004, Nhà nước chưa phân định quản lý vốn
đầu tư cho hoạt động kinh doanh DVVT và quản lý vốn đầu tư cho hoạt động cung
cấp DVVTCI. Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) là doanh nghiệp
Nhà nước, giữ vai trò chủ đạo trong thị trường viễn thông Việt Nam, được Nhà
nước giao nhiệm vụ cung cấp DVVTCI với phương thức tự bự chộo. Cỏc doanh
nghiệp mới gia nhập thị trường như: Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel), Công
6
ty Thông tin Viễn thông Điện lực (EVN Telecom), Công ty Cổ phần Dịch vụ Bưu
chính Viễn thông Sài Gòn (SPT), Công ty Cổ phần Viễn thông Hà Nội (Hanoi
Telecom)… chủ yếu hoạt động theo phương thức tự sản tự tiêu, có cạnh tranh ở
mức độ hạn chế, chưa có đủ năng lực cung cấp DVVTCI. Xuất phát từ thực trạng
trên, ngày 08/11/2004 Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 191/2004/QĐ-
TTg, thành lập VTF. VTF là tổ chức tài chính Nhà nước trực tiếp thực hiện quản lý
vốn đầu tư chương trình phổ cập DVVTCI. VTF quản lý nguồn vốn này nhằm bảo
đảm kỷ luật tài khóa tổng thể, hiệu quả phân bổ nguồn lực và hiệu quả hoạt động
phổ cập DVVTCI. Nguồn lực tài chính thực hiện mục tiêu phổ cập DVVTCI bao
gồm: Thu các khoản đóng góp của các DVVT; chi phí hỗ trợ cho việc sử dụng và
phổ cập DVVTCI theo mục tiêu đề ra. Thủ tướng Chính phủ quy định mức đóng
góp và giao cho Bộ Thông tin và Truyền thông (TTTT) trực tiếp quản lý để thực
hiện mục tiêu phổ cập DVVTCI. Bộ TTTT (sau khi trao đổi thống nhất với Bộ Tài
Chính) ban hành mức tiền hỗ trợ cung cấp DVVTCI và quản lý chi tiêu hỗ trợ. Năm
2005 – 2006, hỗ trợ tài chính phổ cập DVVTCI được thực hiện theo phương thức
thực thanh, thực chi; Năm 2007, thực hiện theo phương thức giao kế hoạch; Từ năm
2008 đến năm 2010, thực hiện theo phương thức đặt hàng. Trong quá trình thực
hiện đã thu được những kết quả đáng kể. Tuy nhiên, do nhiệm vụ phát triển kinh tế
xã hội nói chung, phổ cập DVVTCI nói riêng có những yêu cầu khác so với trước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status