Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI vào các khu công nghiệp Việt nam trong giai đoạn hiện nay - Pdf 44

Lời mở đầu.
Phát triển các khu công nghiệp hiện nay là phương hướng mà nhiều nước trên thế
giới, trong đó có Việt nam, hướng tới, Muốn đạt được thành công trong sự nghiệp
này đòi hỏi rất nhiều yếu tố. Một trong những yếu tố không thể thiếu đóng góp vào
thành công đó là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI. Nguồn vốn này được
đầu tư dưới hình thức vốn góp, chuyển giao công nghệ, trình độ chuyên môn v.v…
sẽ tạo điều kiện cho nền kinh tế nói chung và khu công nghiệp nói riêng phát triển
toàn diện, tạo thế cân bằng cho cán cân đầu tư trong và ngoài nước.
Qua việc nghiên cứu và tìm hiểu về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
vào khu công nghiệp Việt nam, tôi nhận thấy đây là một hoạt động có ý nghĩa quan
trọng trong công cuộc CNH-HĐH đất nước ta khi nền kinh tế của chúng ta chưa
phát triển toàn diện. Với lý do đó, tôi đi tập chung nghiên cứu về hoạt động đầu tư
này với tên đề tài là: “ Một số giải pháp nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài FDI vào các khu công nghiệp Việt nam trong giai đoạn hiện nay”.
Đề tài lấy lấy đối tượng nghiên cứu là hoạt động đầu tư FDI, với phạm vi trong
các khu công nghiệp Việt nam, phương pháp nghiên cứu thống kê, phương pháp
logic kết hợp với phương pháp luận duy vật. Trên cơ sở đó đề tài được chia làm 3
phần: Phần I: Lời mở đầu.
Phần II:Cơ sở lý luận.
Chương I: Cơ sở lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Chương II: Thực trạng thu hút FDI vào các khu công nghiệp Việt
nam trong giai đoạn hiện nay.
Chương III: Một số giải pháp nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài FDI vào các khu công nghiệp Việt nam trong giai đoạn hiện nay.
Phần III. Kết luận.
Ngoài ra còn có phần mục lục.
Khi thực hiện đề tài này tôi nhận được sự giúp đỡ tận tình của giáo viên trong
khoa Khoa học quản lý đặc biệt là thầy giáo Phan Kim Chiến. Ngoài ra còn có sự
giúp đỡ của các cán bộ trong phòng dịch vụ thuộc cục đầu tư nước ngoài -Bộ Kế
hoạch và Đầu tư.
1

+ Di cư lao động.
Các yếu tố này có vai trò và mối quan hệ chặt chẽ, bổ xung cho nhau trong việc
phát triển thương mại trên thế giới. Nó lệ thuộc vào tình hình lịch sử mà có thể tạo
điều kiện thuận lợi cho sự phát triển hay là kìm hãm các điều kiện tại các quốc gia
tiếp nhận đầu tư.
Quá trình phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể chia ra làm các giai
đoạn sau:
- Giai đoạn 1870 đến 1913.
Đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của các hoạt động quan hệ thương mại và
đầu tư quốc tế. Hoạt động thương mại, xuất khẩu tăng mạnh ở các nước phát triển
và các nước đang phát triển. Không có một trở ngại nào đối với di cư lao động
quốc tế. Con số di cư lao động quốc tế từ 1870 đến 1915 là 36 triệu người rời châu
Âu, 2/3 trong số họ đến Mỹ. Người lao động từ Ân Độ và Trung Quốc sang một số
nước như: Thái lan, Indonesia, Myanma v.v tăng nhanh. Đây là thời kỳ đánh dấu
sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp, đã có sự dịch chuyển nền kinh tế từ
nông nghiệp sang nông nghiệp bắt đầu được biết là thông qua các cuộc cách mạng
ở một số nước phương Tây, tiêu biểu là:
+ Cách mạng công nghiệp Anh thế kỷ XVIII.
+ Cách mạng công nghiệp Pháp thế kỷ XIX.
+ Cách mạng công nghiệp Đức thế kỷ XIX.
Các cuộc cách mạng này đã dọn đường cho khoa học công nghệ phát triển. Hoạt
động đầu tư nước ngoài giai đoạn này chiếm 1/3 tổng vốn đầu tư thế giới, đạt mức
14 tỷ USD. Các hoạt động này diễn ra chủ yếu từ các nước phát triển sang các
nước đang và kém phát triển. Đi đầu trong các nước là Anh chiếm 45%, nước tiếp
nhận lớn nhất là Mỹ. Dưới sự phát triển của khoa học kỹ thuật ngoài các ngành đầu
tư truyền thống như: luyện kim, dệt may vv… nay đã xuất hiện thêm nhiều ngành
có sự đầu tư trực tiếp nước ngoài như: hoá học, chế tạo máy, sản xuất thép.v.v.
- Giai đoạn từ 1914 đến 1945.
Giai đoạn này chứng kiến hai cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai. Tronh
thời gian nay các mối liên kết về kinh tế giữa các quốc gia trước đây dần dần bị

lợi cho hoạt động đằu tư nước ngoài đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
4
lĩnh vực dịch vụ phat triển, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào dịch vụ chiếm 50%
tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của một nước đi đầu tư.
+Về khung chính sách đầu tư:
Từ những năm 60 để đảm bảo cho hoạt động đầu tư quốc tế được phát triển trên
toàn thế giới, các quốc gia đã thống nhất ký kết những hiệp định liên quan đến
khuyếb khích, bảo hộ đầu tư song phương. Suy cho cùng điểm nổi bật nhất của giai
đoạn này là sự ra đời chính sách tự do hoá đầu tư vào năm 1980.
- Giai đoạn 1991 đến nay.
Đây là giai đoạn của hội nhập kinh tế thế giới theo chiều sâu. Giai đoạn này
chứng kiến sự ra đời của nhiều tổ chức kinh tế khu vực và trên thế giới:
NAFTA( 1992), WTO( 1995), EU( 1996). Tự do hoá đầu tư phát triển mạnh mẽ so
với những năm mới xuất hiện( 1980) và đi vào chiều sâu, các hoạt động đầu tư FDI
được giúp đỡ từ rất nhiều biện pháp tự do hoá đầu tư của các nước, các tổ chức khu
vực và thế giới. Trong số đó phải kể đến hiệp định về thương mại và dịch
vụ( GATS) của tổ chức thương mại thế giới WOT, nghị định thư về khu vực đầu tư
ASEAN, nghị định thư về khuyến khích và bảo hộ đầu tư của MERCOSUR. Đây
cũng là thời kỳ đánh dấu sự bùng nổ về hiệp định đầu tư song phương( BITs) và số
lượng BITs cũng tăng lên gấp đôi so với những năm 1991. Đến năm 2002 có 2181
BITs được ký kết trên thế giới.
Trong giai đoạn 1991 đến 1995 dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tăng nhanh
đạt 21,1%. Giai đoạn 1996 đến 2000 tăng 40,2%. Nhưng sau năm 2001 lại có dấu
hiệu giảm. Trong đó năm 2001 giảm 41%, năm 2002 giảm 21%.v.v. FDI được đầu
tư chủ yếu vào các ngành thuộc lĩnh vực dịch vụ, đến năm 1990 tổng số vốn FDI
đầu tư vào dịch vụ đã chiếm 50%, hiện nay là hơn 60%. Ngược lại thì FDI trong
sản xuất giảm từ 42% xuống chỉ còn 34%.
2.2 Nguyên nhân hình thành hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Một nguyên nhân không thể không nhắc tới đó là chu kỳ phát triển kinh tế. Một
nền kinh tế hoạt động trong môi trường đầu tư sẽ có những lúc đạt được mức tăng

khoa học kỹ thuật, tiêu biểu và đi đầu là cuộc cách mạng công nghiệp Anh. Cuộc
6
cách mạng này đã mở ra cho cả nhân loại những hiểu biết mới về tầm quan trọng
của công nghiệp. Việc đưa kỹ thuật mới vào sản xuất đã làm cho sản lượng của các
ngành kinh tế tăng nhanh, sức mạnh của các cường quốc kinh tế không chỉ thể hiện
ở trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mà còn lan ra cả khu vực và thế giới. Đứng trên
góc độ phát triển kinh tế xã hội , mỗi nước đều có những đi riêng nhưng suy cho
cùng, mục đích chính là đưa nền kinh tế đất nước đi lên.
Như đã nói, khoa học kỹ thuật phát triển đã có nhiều tác động đến sự phát triển
nền kinh tế một nước. Trước tình hình đó mỗi nước có những cách đối phó riêng.
FDI là hình thức đầu tư được phổ biến rộng rãi hiện nay bởi lẽ đây là cách thức
đầu tư có thể tận dụng được lợi thế, tiềm lực phát triển của cả nước tiếp nhận đầu
tư và nước đi đầu tư. Hình thức nay huy động được nhiều nguồn lực trong xã hội
tiêu biểu là khoa học công nghệ, lao động v.v. Chính các yếu tố này là bàn đạp tạo
điều kiện cho các nước trên thế giới phát triển và mở rộng qqna hệ hợp tác song
phương và đa phương.
b. Đối với các khu công nghiệp.
Để huy động mọi nguồn lực đầu tư nước ngoài nhằm phát triển kinh tế trong
nước, các quốc gia trên thế giới đều cần môi trường đầu tư thuận lợi bao gồm môi
trường pháp lý hoàn thiện và môi trường kinh doanh thuận lợi.
-Về môi trường kinh doanh:
Được coi là thuận lợi khi ít nhất hội tụ các yếu tố như kết cấu hạ tầng tương đối
hiện đại, hệ thống tiền tệ tài chính ổn định và hoạt động co hiệu quả, an ninh kinh
tế và an toàn xã hội được bảo đảm.
- Về môi trường pháp lý:
Nếu như sự ổn định về chính trị và xã hội trong nước là yếu tố đầu tiên đảm bảo
thu hút FDI thì môi trường pháp lý là một bộ phận không thể thiếu trong môi
trường đầu tư. Môi trường pháp lý hoàn thiện, phù hợp với thông lệ quốc tế là cơ
sở đếa nhà đầu tư lựa chọn, quyết định đầu tư. Môi trường pháp lý cho hoạt động
đầu tư bao gồm một hệ thống pháp luật, chính sách đồng bộ, đầy đủ và vận hành

kịp thời lắm bắt, xử lý các vụ việc phát sinh.
Về thực chất, khu công nghiệp tập chung hoạt động nhằm mục đích thu hút đầu tư
đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các ngành chế tạo, gia công xuất khẩu.
8
Ngoài ra, mục tiêu của việc hình thành khu công nghiệp tập chung cũng đếa tăng
hiệu quả sử dụng vốn đầu tư vào kết cấu hạ tầng.Trong các khu công nghiệp tập
chung các doanh nghiệp dùng chung cơ sở hạ tầng nên đã giảm được chi phí trên
mỗi đơn vị sản phẩm. Bên cạnh đó, việc hình thành các khu công nghiệp tập chung
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có điều kiện xử lý chất thải công nghiệp, bảo
vệ môi trường sinh thái, nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
Các khu công nghiệp còn là xu thế phát triển của kinh tế thị trường. Thông qua
quá trình phát triển của các khu công nghiệp, các thủ tục hành chính đã được giảm
thiểu rất nhiều thông qua cơ chế ‘một cửa, tại chỗ’ tập chung dưới sự chỉ đạo của
ban lãnh đạo quản lý khu công nghiệp đó.
Phát triển khu công nghiệp ở Việt nam là đòi hỏi khách quan, phù hợp với quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước do Đảng va Nhà nước ta lãnh đạo.
Phát triển khu công nghiệp phải phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế đối ngoại
của đất nước, điều này thể hiện ở chỗ:
+ Trong xu thế vận động của nền king tế thế giới ngày nay quá trình quốc tế hoá
đời sống đang diễn ra ngày càng sâu rộng, phân công lao động diễn ra trên phạm vi
toàn cầu làm cho mối quan hệ giữa các quốc gia càng chặt chẽ hơn.
+ Sau 15 năm đổi mới Việt nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng tự hào: thoát
khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế khu vực, ổn định gia trị đồng tiền, đời sống
nhân dân được cải thiện. Tuy nhiên, tình trạng người lao động không có việc làm,
bội chi ngân sách, dân số tăng nhanh vẫn còn tồn tại. Một yêu cầu phát triển kinh
tế trong giai đoạn mới là phải ổn định hơn nữa phát triển kinh tế, chuyển dần nền
kinh tế sang tăng trưởng với tốc độ cao, bền vững góp phần rút ngắn khoảng cách
với các nước trong khu vực.
4. Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài và khu công nghiệp.
4.1. Vai trò của FDI.

kém trong khâu bố trí đồng vốn đầu tư vào các công trình. Điều này gây thất thoát
trong đầu tư , cản trở các nhà đầu tư nước ngoài khi họ có ý định đầu tư vào quốc
gia đó.
+ Về chính trị.
10
Vấn đề này rất nhậy cảm đòi hỏi các nhà lãnh đạo của các nước cần quan tâm
thoả đáng. Từ vấn đề liên quan đến đầu tư , các nước tiếp nhận có thể sẽ lệ thuộc
vào kinh tế nước khác sau đó sẽ là mặt chính trị. Đây có thể là một trong những
cách mà các nước đi đầu gây áp lực lên các nước tiếp nhận về mặt chính trị.
+ Về công nghệ.
Hoạt đông đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua một số hình thức đầu tư. Vốn
đầu tư có thể thông qua nguồn tiền tệ hoặc công nghệ. Một bất lợi cho các nước
tiếp nhận là phải nhận những công nghệ lạc hậu từ các nước đi đầu tư mặc dù vẫn
còn trong thời hạn sử dụng. Giải quyết vấn đề này rất khó đối với các nước tiếp
nhận do họ luôn trong thế bị động.
b. Đối với nước đi đầu tư.
- Tích cực.
+ Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài do nhà đầu tư nước ngoài tự bỏ vốn đầu
tư do đó họ có trách nhiệm cao với những hoạt động của mình, mọi cố gắng của họ
nhằm mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận. Điều này làm cho tiến độ công việc diễn ra
nhanh chóng.
+ Thường thì các nước tiếp nhận FDI có lực lượng lao động nhàn rỗi rất lớn, giá
nhân công rẻ, tài nguyên thiên nhiên dồi dào. Đây được coi là yếu tố đầu vào quan
trọng của quá trình sản xuất tạo ra lợi ích cho nhà đầu tư, mặc dù vẫn có sự thoả
thuận giữa nhà đầu tư và các yếu tố này nhưng cái lợi vẫn luôn thuộc về các nhà
đầu tư FDI .
+ Mỗi một nước đang phát triển bên cạnh việc thực hiện những nguyên tắc chung
của quốc tế về hoạt động kinh tế, các quốc gia đó vẫn được ưu tiên một số chính
sách của quốc gia mình nhằm phát triển kinh tế trong bối cảnh riêng của nước
mình bằng việc tạo dựng một số rào cản kinh tế như: thuế, hạn ngạch v.v. Nhận

nghiệp mới tăng đáng kể. Đến tháng 10 năm 2005 các khu công nghiệp của cả
nước thu hút hơn 2100 dự án trong nước với tổng số vốn đăng ký gần 100000 tỷ
đồng. Điều này cho thấy tiềm lực phát triển kinh tế của nước ta rất lớn.
Thứ hai, là việc thu hút hiệu quả đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp.
Thực tế cho thấy từ khi xây dựng khu công nghiệp đến nay số dự án đầu tư nước
ngoài vào khu công nghiệp ngày càng tăng chiếm tỷ lệ lớn trong tổng vốn FDI cả
12
nước. Tổng dự án đầu tư nước ngoài đến tháng 10 năm 2005 là gần 2000 dự án với
tổng số vốn đăng ký là gần 17 tỷ USD.
b. Khu công nghiệp tạo ra một lực lượng lao động có trình độ tay nghề cao, thích
ứng với nền công nghiệp hiện đại, một đội ngũ cán bộ giỏi.
Tạo công ăn việc làm cho người lao động là một trong những mục tiêu quan trọng
trong quá trình CNH,HĐH của nước ta. Mặc dù số lượng này chưa phải là lớn
khoảng700.000 người, nhưng điều quan trọng là mọi người được tiếp cân với khoa
học công nghệ tiên tiến, làm việc trong môi trường kỷ luật cao, được rèn những kỹ
năng, bản lĩnh thích ứng với một nền công nghiệp tiên tiến hiện đại, điều này có
tác dụng nâng cao tay nghề, nền tảng trình độ lao động của lao động Việt nam.
Bên cạnh đó nhiều vị trí quản lý trong các doanh nghiệp ở khu công nghiệp do lao
động Việt nam tiến hành.Họ được tiếp xúc với phương thức quản trị doanh nghiệp
tiên tiến, hiện đại. Đội ngũ này khi trở về làm việc trong doanh nghiệp Việt nam
hoặc tư nhân, họ sẽ áp dụng những kỹ năng đó vào hoạt động của doanh nghiệp
làm nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và kiến thức quản lý cho
người lao động.
c. Khu công nghiệp là nơi tiếp nhận công nghệ mới, góp phần chuyển dịch nền
kinh tế theo hướng CNH,HĐH đất nước.
Cùng với nguồn vốn đầu tư, các nhà đầu tư nước ngoài còn đưa vào Việt nam
dây truyền công nghệ hiện đại. Chúng ta có thể kể đến một số doanh nghiệp như:
Canon Việt nam,Orion Việt nam. Các dự án này đã đầu tư vào nhiêu lĩnh vực mà
Việt nam còn yếu kém như điện tử, cơ khí.
Khu công nghiệp là nơi tập chung các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ công

về mặt lượng của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH,HĐH đất nước.
Hầu hết các doanh nghiệp trong khu công nghiệp sản xuất hàng hoá với mục đích
xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp đạt
gần 5 tỷ USD chiếm 18,7 % tổng giá trị xuất khẩu của cả nước, trong năm 2005 sẽ
chiếm 25%. Bên cạnh đó cũng phải kể đến vai trò của các doanh nghiệp trong
nước, với vai trò chủ đạo là tạo nguồn hàng giải quyết nhu cầu trong nước, giảm
bớt lượng hàng hoá nhập khẩu trong nước mặc dù đóng góp của các doanh nghiệp
này vào tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước là còn hạn chế.
14
f. Khu công nghiệp góp phần nâng cao năng lực quản lý của các cơ quan quản
lý nhà nước.
Mô hình về khu công nghiệp là tương đối mới, do đó có nhiều bất cập trong lĩnh
vực quản lý nhà nước về khu công nghiệp như: thủ tục hành chính, thuế. Qua thời
kỳ phát triển của khu công nghiệp chúng ta đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm.
Đến nay, bộ máy quản lý khu công nghiệp đã được hình thành thống nhất từ Trung
ương đến địa phương,việc quản lý diễn ra theo xu hướng uỷ quyền và phân cấp
mạnh mẽ cho ban quản lý các khu công nghiệp các tỉnh trong việc quản lý hoạt
động đầu tư vào khu công nghiệp. Đây cũng là cơ hội cho việc thực hiện cơ chế
một cửa trong thủ tục tiến hành đầu tư đối với các nhà đầu tư đặc biệt là nhà đầu tư
nước ngoài. Ngoài ra quá trình phát triển của cáckhu công nghiệp cũng là quá trình
phát triển của hoạt động xúc tiến đầu tư vào các khu công nghiệp dưới nhiều hình
thức đa dạng, hiệu quả ngày càng cao dần dần hình thành cơ quan xúc tiến đầu tư
trên phạm vi cả nước.
5. Đặc điểm và bản chất của đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Như phần 2, chúng ta đã nghiên cứu về quá trình hình thành nguồn vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài qua các giai đoạn phát triển, qua đó chúng ta có thể rút ra của
bản chất đầu tư nước ngoài là tối đa hoá lợi ích đầu tư hay nói cách khác đây là quá
trình tìm kiếm lợi nhuận của các nước đi đầu tư đối với csác nước tiếp nhận thông
qua di chuyển nguồn vốn dưới dạng tài sản, công nghệ, tiền và trình độ quản lý của
nhà đầu tư nước ngoài sang nước tiếp nhận đầu tư.

nó làm cho quá trình sản xuất được tiếp tục lâu hơn.
+FDI cũng tồn tại cùng với sự phát triển của hội nhập và hợp tác kinh tế quốc tế.
Mỗi quốc gia nhận thức về FDI theo những tiêu chí khác nhau. Nhưng suy cho
cùng các chính sách của mỗi nước đều theo hướng mở của kêu gọi các dự án đầu
tư FDI.
6. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Theo luật đầu tư mới được ban hành và sẽ có hiệu lực chính thức ngày 1/7/2006
thì đầu tư nước ngoài có những hình thức sau:
6.1 Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.
16
Đây là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn tại Việt nam
dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn. Loại hình doanh nghiệp này có tư cách
pháp nhân theo quy định của pháp luật Việt nam.
6.2 Hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Đây là văn bản ký kết giữa các bên hợp doanh quy định trách nhiệm và phân chia
kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh ở Việt nam mà
không hình thành tư cách pháp nhân.
Loại hình này có thể áp dụng cho một số lĩnh vực: Xây dựng, du lịch, vận tải, khu
chế xuất, khu công nghiệp…
6.3 Doanh nghiệp liên doanh.
Theo điều 21 của bộ luật này thì doanh nghiệp liên doanh là một tổ chức kinh tế
liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài để đầu tư
kinh doanh tại Việt nam.
Doanh nghiệp được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn.
Ngoài ra còn có hình thức BOT, BTO, BT
7. Các nhân tố tác động đến FDI.
Trong quá trình phát triển của nền kinh tế hiện nay, lượng vốn đầu tư dưới dạng
FDI ngày càng tăng thể hiện ở các dự án không ngừng tăng lên trong những năm
gần đây. Mặc dù nhận thức được yếu tố tích cực cuả đầu tư trực tiếp nước ngoài
dối với sự phát triển của đất nước nhưng không phải nước nào cũng có những điều

- Trong kế hoạch năm 2005 và các năm 2006-2010 cần phải quán triệtvà thực
hiện nghiêm túc đường lối của Đảngvề tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả
của việc sử dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài đặc biệt là nguồn vốn đâù tư trực
tíêp nước ngoài được đề ra trong chương trình hành động của Nghị quyết Trung
ương khoá IX của Đảng. Trên cơ sở đạt được sự nhất trí về hình thức và hành động
giữa các Bộ, các ngành; giữa Trung ương và địa phương trong công tác thu hút và
sử dụngcó hỉệu ủ các nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
- Cần tiếp tục đổi mới và hoàn thiện công tác xúc tiến đầu tư, tăng cường và tổ
choc các hoạt động nghiên cứu thị trường đầu tư và tiến hành nghiên cứu đối tác
trong và ngoài nước nhằm quản lý và thu hút hiệu qủ nguồn vốn đầu tư nước ngoài
đặc biệt là sự có mặt của các công ty xuyên quốc gia. Các công ty này thường có
18
ảnh hưởng lớn mang tình toàn cầu với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công
nghệ. Cái đích hướng vào của chúng ta là các ngành, các lĩnh vực chủ yếu của nền
kinh tế đòi hỏi công nghệ cao và công nghệ nguồn.
- Đa dạng hoá các hình thức thu hút vốn đầu tư nước ngoài, khuyến khích mở
rộng quy mô đầu tư, đổi mới công nghệ, đa dạng hoá danh mục đâù tư phù hợp
vớiquy hoạch phát triển ngành, sản phẩm bên cạnh đó cũnh phải tạo điều kiện tốt
nhất cho các dự án đầu tư hoạt động hiệu quả so với nguồn vốn đã bỏ ra.
- Thực hiện nghiêm túc các cam kết quốc tế thông qua việc chủ động xây dựng có
kế hoạch các chính sách. Trước mắt là thực hiện các cam kết trong AFTA, hiệp
định song phương Việt nam- Hoa kỳ, sáng kiến chung Việt nam- Nhật bản, các
thảo thuận với EU.v.v. Bên cạnh đó cần gấp rút hoàn tất thủ tục ra nhập tổ chức
thương mại thế giới (WTO).
2. Công tác quy hoạch.
- Sớm xây dựng chiến lược thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài ở
Việt nam đến năm 2010 và các năm tiếp theo cần phải phù hợp với chiến lược phát
triển chung của kinh tế và xã hội, cần phải xác định mục tiêu, giải pháp, nhiệm vụ
cho từng năm, từng giai đoạn, từng thời kỳ.
- Rà soát và điều chỉnh quy hoạch phát triển ngành kết hợp với việc xây dựng quy

xúc tiến đầu tư với từng dự án, từng tập đoàn, nhà đầu tư có tiềm năng, nhất là với
các công ty xuyên quốc gia.
- Tăng cường các hoạt động trao đổi thông tin đối ngoại, phát hành các ấn phẩm
giới thiệu hình ảnh đất nước, chính sách phát triển kinh tế xã hội và đầu tư nước
ngoài của Việt nam để phục vụ công tác thu hút đầu tư nước ngoài.
4. Công tác xây dựng pháp luật, chính sách.
- Trong năm 2005-2006 và các năm tiếp theo cần hoàn thiên, hướng dẫn và ban
hành luật đầu tư áp dụng cho các hoạt động đầu tư trong nước và đầu tư nước
ngoài. Trong khi luật đầu tư áp dụng chung cho các nhà đầu tư trong nước và nước
ngoài đang được Quốc hội thông qua, các Bộ, cư quan ngang Bộ, Uỷ ban nhân tỉnh
cần phải rà soát tất cả các hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động đầu
tư nước ngoài, xử lý ngay với những văn bản không phù hợp. Đảm bảo tính thống
20
nhất, minh bạch, nhất quán trong việc ban hành các chính sách, chính sách ra sau
phải dựa trên nguyên tắc kế thừa và hấp dẫn hơn chính sách trước đó.
- Hoàn chỉnh các quy định về thuế theo hướng không tác động xấu đến chế độ ưu
đãi đầu tư, đặc biệt là các chính sách đã được cấp giấy phép đầu tư.
- Nghiên cứu mở rộng các lĩnh vực đầu tư, đa dạng hoá các hình thức đầu tư nước
ngoài phù hợp với lộ trình đổi mới của doanh nghiệp và hội nhập kinh tế quốc tế,
tiêu biểu như hình thức công ty mẹ-con, hình thức mua lại- sát nhập với doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Trong bối cảnh phát triển nhanh chóng của nền kinh tế trong khu vực việc làm
ngay là lựa chọn ngay một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để tiến hành
đổi sang hình thức công ty cổ phần theo Nghị định số
38/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 4 năm 2003 của Chính phủ. Song song với nó là
đánh giá việc thực hiện thí điểm cổ phần hoá doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài được niêm yết trên thị trường chứng khoán, chuẩn bị phương hướng mở rộng
hình thức này trong thời gian tới.
5. Công tác quản lý nhà nước.
- Thay đổi cách thức, thủ tục đầu tư, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước theo

Trong năm 2005 trên địa bàn cả nước có 798 dự án mới được cấp Giấy phép đầu
tư với vốn đăng ký đạt 4.002 triệu USD, tăng 1% về số dự án và tăng 61.2% về
vốn đầu tư so với năm trước. Trong đó:
+ Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các Bộ, ngành Trung ương cấp giấy phép cho 62 dự
án, vốn đăng ký 2.525 triệu USD (chiếm 63,1 % tổng vốn đăng ký cấp mới);
+ Các địa phương cấp giấy phép cho 466 dự án, vốn đăng ký 534 triệu USD
(chiếm 13,3% vốn đăng ký cấp mới);
+ Các Ban Quản lý Khu Công nghiệp (KCN), Khu Chế xuất (KCX) và các Ban
Quản lý Khu công nghệ cao (KCNC) cấp giấy phép cho 270 dự án, vốn đăng ký là
943 triệu USD (chiếm 23,6% tổng vốn đăng ký cấp mới).
Trong số các dự án cấp mới trong năm 2005 có một số dự án có quy mô tương
đối lớn như: Công ty TNHH Thép không rỉ (Samoa), tổng vốn đầu tư 700 triệu
USD, HĐHTKD điện thoại di động CDMA (Luxembourg), tổng vốn đầu tư 655,9
triệu USD, Bện viện Đa khoa Kwang Myung (Hàn Quốc), tổng vốn đầu tư 198,4
triệu USD, Công ty Công nghiệp Cổ phần POUSUNG Việt nam (Hồng Kông),
tổng vốn đầu tư 190 triệu USD, Công ty Coralis Việt nam (Luxembourg), tổng vốn
đầu tư 114,6 triệu USD.
Tuy nhiên nhìn chung phần lớn các dự án mới có quy mô nhỏ và vừa với mức
vốn bình quân 5 triệu USD/dự án.
- Về cơ cấu đầu tư:
+ Theo ngành: Phần lướn các dự án đầu tư mới tập trung vào lĩnh vực công
nghiệp và xây dựng, chiếm 66,2% về số dự án và 59,7% vốn đầu tư đăng ký. Lĩnh
vực nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 9,7% số dự án và 3,1% vốn đầu tư đăng ký; lĩnh
vực dịch vụ chiếm 24,2% số dự án và 37,1% vốn đầu tư đăng ký mới.
23
+ Theo nước đầu tư : Trong năm 2005, có 43 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án
đầu tư vào Việt nam, trong đó dẫn đầu là Luxembourg với 2 dự án, tổng vốn đầu
tư 770,5 triệu USD, thứ 2 là Samoa với 7 dự án, tổng vốn đầu tư 743,5 triệu, tiếp
theo là 3 đối tác truyền thống là Hàn Quốc (thu hút 190 dự án với tổng vốn đầu tư
551,6 triệu USD) và Nhật Bản (thu hút 34 dự án với tổng vốn đầu tư 378,8 triệu

62,5 triệu USD; Công ty Canon Việt nam tăng vốn thêm 60 triệu USD; Công ty
Honda Việt nam tăng vốn thêm 58 triệu USD; Công ty TNHH Hoya Việt nam tăng
vốn thêm 55 triệu USD; Công ty Uni- President tăng vốn thêm 46,5 triệu USD.
- Kết quả luỹ kế:
Với kết quả thu hút đầu tư nước ngoài năm 2005, đến nay cả nước có 5.918 dự
án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 50,5 tỷ
USD. Trong đó, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm 67,3% về số dự án và
60,7% về số vốn đầu tư đăng ký; lĩnh vực dịch vụ chiếm 19,7% về số dự án và
31,9% về số vốn đầu tư đăng ký; lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 13,0% về
số dự án và 7,4% về vốn đầu tư đăng ký.
Về hình thức đầu tư, với 2 hình thức đầu tư mới đang được thực hiện thí điểm
tại Việt nam, đưa tổng số hình thức đầu tư và phương thức đầu tư lên 6 loại. Cụ
thể:
+ Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có 4.404 dự án (74,4% về số dự án) với
tổng vốn đầu tư đăng ký 25,6 tỷ USD (50,7% về vốn đầu tư);
+ Doanh nghiệp liên doanh có 1.316 dự án (22,2% về số dự án) với tổng vốn đầu
tư đăng ký 19,2 tỷ USD (38% về vốn đầu tư);
+ Hợp doanh có 183 dự án (3,1% về số dự án) với tổng vốn đầu tư đăng ký 4,2 tỷ
USD (8,3% về vốn đầu tư)
+ Doanh nghiệp BOT có 6 dự án (0,1% về số dự án) với tổng vốn đầu tư đăng ký
1,4 tỷ USD (2,7% về vốn đầu tư)
+ Doanh nghiệp cổ phần có 8 dự án (0,1% về số dự án) với tổng vốn đầu tư đăng
ký 199 triệu USD (0,4% về vốn đầu tư)
+ Công ty quản lý vốn (công ty mẹ- con) có 1 dự án (0,02% về số dự án) với
tổng vốn đầu tư đăng ký 14,4 triệu USD (0,03% về vốn đầu tư)
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status