Luận văn tốt nghiệp Học viện Chính sách và Phát triển
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc
lập của riêng tôi. Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có
nguồn gốc rõ ràng.
Hà Nội,ngày 7 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Đình Huỳnh
1
GVHD: TS. Nguyễn Thanh Bình SVTH: Nguyễn Đình Huỳnh
1
Luận văn tốt nghiệp Học viện Chính sách và Phát triển
MỤC LỤC
2
GVHD: TS. Nguyễn Thanh Bình SVTH: Nguyễn Đình Huỳnh
2
Luận văn tốt nghiệp Học viện Chính sách và Phát triển
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Viết đầy đủ
GPMB Giải phóng mặt bằng
HĐND Hội đồng nhân dân
KT-XH Kinh tế- xã hội
KBNN Kho bạc nhà nước
GTSX Giá trị sản xuất
NSNN Ngân sách nhà nước
QHSX Quan hệ sản xuất
QSDĐ Quyền sử dụng đất
UBND Uỷ ban nhân dân
XDCB Xây dựng cơ bản
QLDA Quản lý dự án
CN-TTCN Công nghiệp-Tiểu thủ công nghiệp
hạ tầng nên đã tạo điều kiện tốt để phát triển các lĩnh vực chính trị, kinh tế,
văn hoá, giáo dục, an ninh, quốc phòng
Quận Hoàng Mai - Thành phố Hà Nội được thành lập ngày 06/11/2003
trên cơ sở 9 xã của huyện Thanh Trì và 5 phường thuộc quận Hai Bà Trưng
theo Nghị định số 132/NĐ-CP của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành
chính để thành lập hai quận Long Biên và Hoàng Mai. Tại thời điểm thành
lập, quận Hoàng Mai có diện tích 4.104 ha với 187.332 nhân khẩu.Ban quản
lý dự án Hoàng Mai là cơ quan trực tiếp quản lý và thực hiện dự án đầu tư xây
dựng theo sự uỷ quyền của chủ đầu tư là UBND quận. Hiện nay công tác
quản lý vốn tư XDCB tại Ban quản lý dự án Hoàng Mai vẫn còn có những tồn
tại làm cho hiệu quả của đầu tư xây dựng cơ bản chưa cao khiến chậm tiến độ,
gây lãng phí và thất thoát nguồn lực của nhà nước.
6
GVHD: TS. Nguyễn Thanh Bình SVTH: Nguyễn Đình Huỳnh
6
Luận văn tốt nghiệp Học viện Chính sách và Phát triển
Do đó, vấn đề tăng cường quản lý vốn đầu tư XDCB tại Ban quản lý dự
án Hoàng Mai có ý nghĩa rất quan trọng để thực hiện hiệu quả các dự án được
giao cũng như đóng góp vào thành tích chung của quận. Sau một thời gian
thực tập tại Ban Quản lý dự án Quận Hoàng Mai, được tìm hiểu các hoạt động
của Ban và dựa vào một số tài liệu được cung cấp em lựa chọn đề tài: “Công
tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại Ban Quản lý dự án Quận
Hoàng Mai Thành phố Hà Nội”làm luận văn tốt nghiệp.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề cơ bản về quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
- Phân tích thực trạng công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại
Ban Quản lý dự án quận Hoàng Mai, những kết quả đạt được và những mặt
còn hạn chế trong quá trình thực hiện cần khắc phục để đổi mới, phát triển.
- Đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ
bản của Ban quản lý dự án quận Hoàng Mai – Thành phố Hà Nội đáp ứng
9
GVHD: TS. Nguyễn Thanh Bình SVTH: Nguyễn Đình Huỳnh
9
Luận văn tốt nghiệp Học viện Chính sách và Phát triển
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ
XÂY DỰNG CƠ BẢN
1.1.Vốn xây dựng cơ bản
1.1.1 Khái niệm vốn đầu tư, vốn đầu tư xây dựng cơ bản
Trong nền kinh tế thị trường, đầu tư được hiểu là quá trình sử dụng phối
hợp các nguồn lực trong một khoảng thời gian xác định nhằm đạt được kết
quả hoặc một tập hợp các mục tiêu xác định trong điều kiện kinh tế - xã hội
nhất định.
Nguồn lực có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí
tuệ. Những kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm về mặt giá trị các tài sản
tài chính (tiền vốn) hoặc tăng thêm năng lực sản xuất, năng lực phục vụ của
tài sản vật chất (nhà máy, đường sá, bệnh viện, trường học ), tài sản trí tuệ
(trình độ văn hóa, chuyên môn, quản lý, khoa học kỹ thuật ) và nguồn nhân
lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao động cao hơn trong nền sản
xuất xã hội. Trong những kết quả đạt được của hoạt động đầu tư có thể có
những kết quả trực tiếp và có những kết quả gián tiếp. Lợi ích có các kết quả
đầu tư mang lại có thể là lợi ích trực tiếp cho chủ đầu tư tuy nhiên cũng có thể
là lợi ích gián tiếp cho toàn bộ nền kinh tế và toàn xã hội.
Vốn đầu tư được hiểu là việc tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở
rộng các tài sản cố định là điều kiện quyết định đến sự tồn tại của mọi chủ thể
kinh tế, để thực hiện được điều này, các tác nhân trong nền kinh tế phải dự trữ
tích luỹ các nguồn lực. Khi các nguồn lực này được sử dụng vào quá trình sản
xuất để tái sản xuất ra các tài sản cố định của nền kinh tế thì nó trở thành vốn
đầu tư. Vậy vốn đầu tư chính là tiền tích luỹ của xã hội của các cơ sở sản xuất
kinh doanh, dịch vụ là vốn huy động của dân và vốn huy động từ các nguồn
11
GVHD: TS. Nguyễn Thanh Bình SVTH: Nguyễn Đình Huỳnh
11
Luận văn tốt nghiệp Học viện Chính sách và Phát triển
Trong cơ chế huy động và quản lý các nguồn vốn đầu tư XDCB cần
làm rõ những định hướng đầu tư chủ yếu theo từng loại nguồn vốn, đồng thời
đề ra các định chế thu hồi vốn, quy rõ trách nhiệm cho các chủ đầu tư cũng
như các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc phân cấp quản lý và thanh toán
nguồn vốn đầu tư, mối quan hệ giữa các tổ chức tài chính và ngân hàng với
chủ đầu tư.
1.1.2. Phân loại vốn đầu tư xây dựng cơ bản
1.1.2.1 Căn cứ vào nguồn hình thành vốn đầu tư XDCB
Căn cứ vào nguồn hình thành vốn đầu tư XDCB bao gồm các nguồn sau:
- Vốn ngân sách nhà nước
- Vốn tín dụng đầu tư
- Vốn đầu tư XDCB tự có của các đơn vị sản xuất kinh doanh dịch vụ
thuộc mọi thành phần kinh tế
- Vốn hợp tác liên doanh với nước ngoài
- Vốn vay nước ngoài
- Vốn viện trợ ODA
1.1.2.2 Theo quy mô và tính chất của dự án đầu tư
Theo điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng, tùy theo tính chất và quy mô
của dự án đầu tư được phân thành 3 nhóm A, B, C theo quy định tại Phụ lục I
Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 10/02/2009 của Chính phủ về Quản lý dự
án đầu tư xây dựng công trình.
1.1.2.3 Căn cứ theo góc độ tái sản xuất tài sản cố định
- Vốn đầu tư xây dựng mới (Xây dựng, mua sắm tài sản cố định mới do
nguồn vốn trích từ lợi nhuận)
12
GVHD: TS. Nguyễn Thanh Bình SVTH: Nguyễn Đình Huỳnh
là vốn, cụ thể là vốn đầu tư là yếu tố có vai trò cực kỳ quan trọng trong tiến
trình phát triển kinh tế - xã hội. Cụ thể:
- Vốn đầu tư quyết định quy mô, năng lực sản xuất của nền kinh tế. Do
đó, trên một phương diện nào đó nó quyết định đến tăng trưởng kinh tế và
14
GVHD: TS. Nguyễn Thanh Bình SVTH: Nguyễn Đình Huỳnh
14
Luận văn tốt nghiệp Học viện Chính sách và Phát triển
phát triển xã hội. Nếu đầu tư vốn đúng hướng, đúng mục đích nó sẽ mang lại
hiệu quả lớn cho nền kinh tế đất nước.
- Vốn đầu tư là nhân tố quyết định việc cải tạo, xây dựng hệ thống cơ sở
hạ tầng để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Việc
xây dựng cơ sở hạ tầng không chỉ tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc phát
triển kinh tế trong nước mà còn tạo điều kiện để tăng cường phát triển kinh tế
đối ngoại phù hợp với xu hướng hội nhập của nước ta với các nước trong khu
vực và trên thế giới.
- Vốn đầu tư có vai trò to lớn trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thông qua cơ chế phân bổ vốn đầu tư
hợp lý có thể điều chỉnh cơ cấu đầu tư ưu tiên cho phát triển theo ngành, lĩnh
vực, khu vực nhằm cải biến cơ cấu phát triển kinh tế.
- Vốn đầu tư có vai trò thực hiện các mục tiêu, chương trình theo chính
sách phát triển kinh tế- xã hội của Đảng và Nhà nước như mục tiêu xoá đói
giảm nghèo, hỗ trợ nhà ở, hỗ trợ đào tạo, giải quyết việc làm là những mục
tiêu, chương trình đòi hỏi vốn đầu tư rất lớn.
Đầu tư xây dựng cơ bản trước hết cũng là một hoạt động đầu tư nên nó
có vai trò như những hoạt động đầu tư khác: tác động đến tổng cung, cầu của
nền kinh tế, tác động đến sự ổn định, tăng trưởng kinh tế, tăng cường khả
năng khoa học và công nghệ của đất nước.
Ngoài những vai trò nêu trên thì đầu tư xây dựng cũng có những vai trò
riêng do tính chất đặc thù của nó:
số này thường thấp hơn (2-3) do lượng lao động nhiều trong khi nguồn vốn
thiếu hụt, do vậy lao động được sử dụng để thay thế công nghệ. Vốn đầu tư
XDCB làm tăng tổng cầu trong ngắn hạn của nền kinh tế để kích thích tăng
trưởng và phát triển kinh tế. Bởi lẽ, khi đưa vào đầu tư vốn đầu tư XDCB nó
sẽ làm tăng nhu cầu tiêu dùng cho sản xuất và tiêu dùng để kích thích tăng
trưởng kinh tế. Mặt khác, mục đích vốn đầu tư của Ngân sách nhà nước là đầu
tư để duy trì, phát triển hệ thống hàng hoá công cộng và phát triển các ngành,
16
GVHD: TS. Nguyễn Thanh Bình SVTH: Nguyễn Đình Huỳnh
16
Luận văn tốt nghiệp Học viện Chính sách và Phát triển
các lĩnh vực kinh tế mũi nhọn có quy mô vốn lớn nên khi đầu tư hoàn thành
sẽ làm tăng tổng cung trong dài hạn và tạo tiền đề cơ sở vật chất kỹ thuật cho
phát triển kinh tế.
Đầu tư xây dựng cơ bản tạo ra cơ sở vật chất
Việc đầu tư vào xây dựng cơ bản trực tiếp làm gia tăng tổng tài sản của
nền kinh tế trong nhiều lĩnh vực như công nghiệp, giao thông vận tải, thủy lợi,
bệnh viện, trường học, và các công trình công cộng khác do vậy năng lực sản
xuất của nền kinh tế tăng lên. Vốn đầu tư XDCB tăng cường xây dựng cơ sở
vật chất kỹ thuật cho CNXH, đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất
nước. Sở dĩ vốn đầu tư XDCB có vai trò này là vì với chức năng tạo lập, duy
trì, phát triển hệ thống hạ tầng KT - XH và phát triển kinh tế mũi nhọn, vốn
đầu tư XDCB của NSNN đã làm phát triển nhanh hệ thống hàng hóa công
cộng, tạo cơ sở vật chất vững chắc cho phát triển lực lượng sản xuất Từ đó,
làm cơ sở vật chất của CNXH sẽ không ngừng được tăng trưởng, làm nên tiền
đề vững chắc cho sự nghiệp CNH- HĐH đất nước.
Đầu tư xây dựng cơ bản tác động đến phát triển khoa học công nghệ
Có hai con đường để phát triển khoa học công nghệ ở một quốc gia đó
là tự nghiên cứu hoặc là học tập công nghệ của các nước đi trước. Tuy nhiên,
ở các nước đang phát triển thì việc đầu tư vào nghiên cứu công nghệ thường
1.3.1 Quy trình quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản
1.3.1.1 Quy trình đầu tư và xây dựng
Quản lý đầu tư và xây dựng là quản lý Nhà nước về quá trình đầu tư và
xây dựng từ bước xác định dự án đầu tư để thực hiện đầu tư và cả quá trình
đưa dự án vào khai thác, sử dụng đạt mục tiêu đã định. Đối với việc quản lý
vốn đầu tư xây dựng cơ bản cần phải theo dõi sát sao và nắm chắc được trình
tự đầu tư và xây dựng. Trên cơ sở quy hoạch đã được phê duyệt trình tự thực
hiện dự án đầu tư bao gồm 8 bước công việc, phân theo hai giai đoạn theo sơ
đồ sau:
18
GVHD: TS. Nguyễn Thanh Bình SVTH: Nguyễn Đình Huỳnh
18
Giai đoạn I
Chuẩn bị đầu tư
Giai đoạn II
Thực hiện đầu tư
Nghiên cứu cơ hội đầu tưNghiên cứu dự án ền khả thiNghiên cứu dự án khả thi
Tự thẩm định
dự án
Thiết kế, lập tổng dự toán, dự toán
Ký kết HĐ: xây dựng, thiết bị
Thi công XD,
đào tạo cán bộ
Chạy thử, nghiệm thu, quyết toán
Đưa vào khai thác sử dụng
Luận văn tốt nghiệp Học viện Chính sách và Phát triển
Sơ đồ i: Trình tự thực hiện dự án đầu tư
Nguồn: Theo nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 10/02/2009
Qua sơ đồ trên cho thấy:
(1) Nội dung công việc thực hiện ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư bao gồm:
với cả nước. Do đó, việc chấp hành trình tự đầu tư và xây dựng có ảnh hưởng
rất lớn vì có tính chất quyết định không những đối với chất lượng công trình,
dự án đầu tư mà còn có thể gây ra những lãng phí, thất thoát, tạo sơ hở cho
tham nhũng về vốn và tài sản trong hoạt động đầu tư, xây dựng. Từ đó làm
tăng chi phí xây dựng công trình, dự án, hiệu quả đầu tư thấp.
20
GVHD: TS. Nguyễn Thanh Bình SVTH: Nguyễn Đình Huỳnh
20
Luận văn tốt nghiệp Học viện Chính sách và Phát triển
Như vậy, việc thực hiện nghiêm túc trình tự đầu tư và xây dựng là một
đặc trưng cơ bản trong hoạt động đầu tư, có tác động trực tiếp và gián tiếp
như những nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng lãng phí, thất thoát, tham nhũng
trong hoạt động đầu tư. Vì vậy, ở mỗi giai đoạn của quá trình đầu tư cần phải
có giải pháp quản lý thích hợp để ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực gây ra
lãng phí, thất thoát, tham nhũng có thể xảy ra.
1.3.1.2 Quy trình quản lý vốn đầu tư XDCB
a) Quản lý vốn đầu tư XDCB ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư, lập dự toán
đầu tư
Trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, chủ đầu tư cần tập trung quản lý tổng
chi phí của công trình xây dựng thể hiện bằng chỉ tiêu tổng mức đầu tư. Tổng
mức đầu tư là tổng chi phí dự tính để thực hiện toàn bộ quá trình đầu tư và
xây dựng, và là giới hạn chi phí tối đa của dự án được xác định trong quyết
định đầu tư.
Các chỉ tiêu chính dùng để xác định tổng mức đầu tư:
- Chỉ tiêu suất vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
- Giá chuẩn của các công trình và hạng mục công trình xây dựng thông dụng.
- Đơn giá dự toán tổng hợp.
- Mặt bằng giá thiết bị của thị trường cung ứng máy móc thiết bị hoặc
giá thiết bị tương tự đã được đầu tư.
- Các chi phí khác tính theo tỷ lệ % quy định của Nhà nước (thuế, chi
TB
- Chi phí mua sắm thiết bị.
G
K
- Chi phí khác.
G
DP
- Chi phí dự phòng.
- Quản lý việc giải ngân vốn đầu tư XDCB theo tiến độ thi công công
trình, đây là nhân tố quan trọng đảm bảo công trình thi công đúng tiến độ.
- Theo dõi kiểm soát chi phí phát sinh trong quá trình thi công
c) Quản lý vốn đầu tư XDCB ở giai đoạn kết thúc đưa dự án vào khai
thác sử dụng.
Tất cả các dự án đầu tư xây dựng sau khi hoàn thành được nghiệm thu,
quyết toán đưa dự án vào khai thác sử dụng chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm
quyết toán vốn đầu tư, hoàn tất các thủ tục thẩm tra trình cấp thẩm quyền phê
duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành theo đúng quy định của nhà
nước. Kết quả phê duyệt quyết toán vốn đầu tư công trình, dự án hoàn thành
trong mọi hình thức: đấu thầu, hay chỉ định thầu, hoặc tự làm đều không được
vượt tổng dự toán công trình và tổng mức đầu tư đã được người có thẩm
quyền quyết định đầu tư phê duyệt.
1.3.2 Nội dung quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản
22
GVHD: TS. Nguyễn Thanh Bình SVTH: Nguyễn Đình Huỳnh
22
Luận văn tốt nghiệp Học viện Chính sách và Phát triển
1.3.2.1 Những yêu cầu đặt ra trong quản lý vốn đầu tư XDCB
Công tác giải ngân vốn đầu tư XDCB phải tuân theo những nguyên tắc
nhất định:
- Việc giải ngân vốn đầu tư XDCB phải trên cơ sở thực hiện nghiêm
tường gạch, 1m
3
bê tông, 1m
2
lát gạch, 1 tấn cốt thép,
100m dài cọc .v.v. từ khâu chuẩn bị đến khâu kết thúc công tác xây dựng (kể cả
những hao phí cần thiết do yêu cầu kỹ thuật và tổ chức sản xuất nhằm đảm bảo
thi công xây dựng liên tục, đúng quy trình, quy phạm kỹ thuật).
Định mức dự toán được lập trên cơ sở các quy chuẩn, tiêu chuẩn xây
dựng; quy phạm kỹ thuật về thiết kế - thi công - nghiệm thu; mức cơ giới hóa
chung trong ngành xây dựng; trang thiết bị kỹ thuật, biện pháp thi công và
những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong xây dựng (các vật liệu mới, thiết bị và
công nghệ thi công tiên tiến.v.v.).
Định mức dự toán được áp dụng để lập đơn giá xây dựng công trình,
làm cơ sở xác định dự toán chi phí xây dựng, tổng mức đầu tư dự án đầu tư
xây dựng công trình và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình.
Đối với mỗi loại định mức được trình bày tóm tắt thành phần công việc,
điều kiện kỹ thuật, điều kiện thi công được xác định đơn giá tính phù hợp để
thực hiện công tác xây lắp đó. Định mức dự toán cho mỗi loại công việc bao
gồm 3 nội dung:
- Mức hao phí vật liệu: Là số lượng vật liệu chính, vật liệu phụ, các cấu
kiện hoặc các bộ phận rời lẻ, vật liệu luân chuyển (không kể vật liệu phụ cần
dùng cho máy móc, phương tiện vận chuyển và những vật liệu tính trong chi
phí chung) cần cho việc thực hiện và hoàn thành một đơn vị khối lượng công
tác xây dựng.
Mức hao phí vật liệu trong định mức này đã bao gồm hao hụt vật liệu ở
khâu thi công; riêng đối với các loại cát xây dựng đã kể đến hao hụt do độ dôi
của cát.
- Mức hao phí lao động:
24
25
GVHD: TS. Nguyễn Thanh Bình SVTH: Nguyễn Đình Huỳnh
25