Câu 1: Phân tích nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân trong tổ
chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam theo HP 1992(sửa đổi, bổ
sung)
Trả lời:
Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Hiến pháp năm 2013,
đây là sự kiện chính trị - pháp lý quan trọng của đất nước. Hiến pháp thể hiện
những nội dung mới quan trọng nhằm thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; quy định đầy đủ, rõ nét về chủ thể là
Nhân dân trong Hiến pháp, về quyền lực của Nhà nước thuộc về Nhân dân.
Nguyên tắc được thể hiện qua các nội dung đó là:
- Nhân dân tham gia kiểm soát hoạt động của bộ máy nhà nước:
+ Thứ nhất, ngay Lời nói đầu Hiến pháp 2013 thể hiện: " Nhân dân Việt Nam
xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh" đã thể hiện rõ trách nhiệm của nhân dân trong việc xây
dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp. Điều 2 Hiến pháp năm 2013, đã thể hiện nhất
quán quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đề cao quyền làm chủ của nhân dân
trong Hiến pháp là nhà nước của dân, do dân và vì dân, đồng thời thể hiện đất nước
Việt Nam là do chính nhân dân làm chủ, nhân dân là chủ thể quan trọng trong xây
dựng và bảo vệ đất nước. Lần đầu tiên Hiến pháp năm 2013 từ Nhân dân được viết
hoa, đây không phải đơn thuần là cách thể hiện từ ngữ mà là diễn đạt ý nghĩa của
một chủ thể quan trọng của đất nước theo tư tưởng của Bác Hồ. Người viết:
“Nước ta là nước dân chủ,
Bao nhiêu lợi ích đều là vì dân,
Công việc đổi mới và xây dựng là trách nhiệm của dân,
Chính quyền từ xã đến Chính phủ do dân cử ra,
Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên,
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.
Chính vì lẽ đó mà từ Nhân dân được viết hoa là thể hiện đầy đủ và sâu sắc tư tưởng
của Bác Hồ về vai trò của Nhân dân.
+ Thứ hai, khoản 2 Điều 4 Hiến pháp năm 2013, đây là điểm bổ sung mới quan
trọng, vì vai trò làm chủ của Nhân dân đối với nước, Nhân dân giao phó trách
cơ sở hiến định để mọi người và công dân bảo vệ và thực hiện quyền con người,
quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Ngoài việc thể hiện quyền làm chủ của
Nhân dân trong Hiến pháp, còn thể hiện các cam kết của Việt Nam trong việc thực
hiện các điều ước quốc tế liên quan đến quyền con người mà Việt Nam là thành
viên.
Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện nhất quán tư tưởng của Bác Hồ, của Đảng
về vị trí, vai trò của Nhân dân trong lịch sử đấu tranh, xây dựng và bảo vệ
đất nước trải qua mấy ngàn năm lịch sử. Tư tưởng lấy dân làm gốc của Bác
Hồ đã được lịch sử chứng minh qua các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc,
chính vì vậy, Hiến pháp năm 2013 là sự kết tinh và thể hiện tính đúng đắn về
quyền làm chủ của Nhân dân đối với đất nước, hướng đến mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh mà Đảng, Nhà nước và
Nhân dân đã lựa chọn
Câu 2: Trình bày vai trò của việc đảm bảo pháp chế của xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam?
Trả lời:
Về vai trò, pháp luật XHCN có 5 vai trò.
Một là pháp luật là phương tiện quan trọng và chủ yếu để xây dựng chế độ mới,
là công cụ chủ yếu để nhà nước XHCN thực hiện nhiệm vụ quản lý mọi mặt đối
với đời sống XH.
Hai là pháp luật XHCN là cơ sở để xây dựng hoàn thiện bộ máy nhà nước, để
nâng cao hiệu lực của bộ máy nhà nước.
Ba là pháp luật XHCN là phương tiện quan trọng để thực hiện quyền lực nhân
dân, đảm bảo phát huy dân chủ.
Bốn là pháp luật XHCN là phương tiện quan trọng để thông qua đó, Đảng Cộng
sản thực hiện sự lãnh đạo đối với nhà nước và đối với toàn xã hội.
Năm là vai trò của pháp luật XHCN còn được thể hiện rõ trong các mối quan hệ
giữa pháp luật – kinh tế, pháp luật – xã hội, pháp luật - hệ thống chính trị, pháp luật
– đạo đức tư tưởng.
Trong thời gian qua, do yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước, vai trò của
cơ quan của Quốc hội. Chất lượng đại biểu được chú trọng. Số lượng thành
viên UBTVQH đã được cơ cấu theo hướng tăng lên so với nhiệm kỳ khóa
XI. Tổng số các cơ quan của Quốc hội nhiều hơn do chia tách Ủy ban Kinh
tế và Ủy ban pháp luật (khóa XI) thành 4 Ủy ban. Tổ chức bộ máy giúp việc
được kiện toàn, chất lượng tham mưu, giúp việc của VPQH, Văn phòng
Đoàn ĐBQH và HĐND các tỉnh, thành phố được cải thiện rõ nét Hoạt
động của Quốc hội trên các lĩnh vực lập pháp, giám sát, quyết định các vấn
đề quan trọng của đất nước và hoạt động đối ngoại có những bước tiến mới.
Hoạt động lập pháp được chú trọng hơn về chất lượng, quy trình lập pháp
tiếp tục được cải tiến ở một số khâu phù hợp. Hoạt động giám sát có trọng
tâm, trọng điểm, tăng cường về nội dung, đổi mới cách thức thực hiện, tập
trung vào những vấn đề bức xúc của thực tiễn, được đông đảo quần chúng
nhân dân quan tâm. Việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước
ngày càng có hiệu quả, thực chất hơn. Bên cạnh đó, hoạt động ngoại giao
nghị viện trong nhiệm kỳ qua đã đạt được những kết quả quan trọng, góp
phần hiệu quả vào công tác đối ngoại chung, nâng cao vị thế, hình ảnh của
Việt Nam trên trường quốc tế. Phương thức, chế độ làm việc của Quốc hội
ngày càng trở nên khoa học, nề nếp, phát huy dân chủ, chủ động, sáng tạo
trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Hoạt động của Quốc hội
ngày càng thu hút sự quan tâm của nhân dân cả nước, qua đó góp phần củng
cố niềm tin của nhân dân vào Quốc hội nói riêng và hệ thống chính trị nói
chung. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm này, cơ cấu tổ chức của Quốc
hội cũng còn một số điểm bất cập. Cụ thể như: số đại biểu chuyên trách tăng
lên nhưng vẫn còn thiếu so với yêu cầu, nhiệm vụ; phạm vi chức năng,
nhiệm vụ của các Ủy ban còn rộng; vị trí, địa vị pháp lý của Đoàn ĐBQH
chưa được xác định thật cụ thể; tính chuyên môn hóa của bộ máy giúp việc
chưa cao. Các điều kiện bảo đảm hoạt động còn thiếu. Hoạt động của Quốc
hội vẫn còn một số tồn tại nhất định trong từng lĩnh vực lập pháp, giám sát,
quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước… Nhiệm kỳ Quốc hội khóa
XIII cũng là khoảng thời gian cả nước bắt đầu thực hiện Cương lĩnh xây
mưu, giúp Quốc hội thực sự có chất lượng, hiệu quả. Đề tài đề xuất việc tiếp
tục nghiên cứu cụ thể việc chia, tách và thành lập mới một số uỷ ban. Theo
đó, nghiên cứu tách Uỷ ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và
Nhi đồng thành 02 uỷ ban là: Ủy ban Văn hóa, Giáo dục và Ủy ban Thanh
niên, Thiếu niên và Nhi đồng. Nghiên cứu tách Ủy ban Kinh tế hiện nay
thành 03 ủy ban là: Ủy ban gắn với các lĩnh vực kế hoạch - đầu tư, xây dựng
cơ sở hạ tầng và đô thị; Ủy ban gắn với các lĩnh vực nông nghiệp, nông dân
và nông thôn; Ủy ban gắn với lĩnh vực công nghiệp và thương mại và các
lĩnh vực kinh tế khác. Nghiên cứu tách Ủy ban về các vấn đề xã hội thành 2
ủy ban là: Ủy ban lao động và việc làm; Ủy ban chính sách xã hội. Nghiên
cứu tách Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường thành 2 ủy ban là: Ủy
ban Khoa học và Công nghệ; Ủy ban Tài nguyên và Môi trường. Nghiên cứu
thành lập các Ủy ban gồm: Uỷ ban công tác dân nguyện trên cơ sở Ban Dân
nguyện của UBTVQH; Ủy ban về công tác kiều bào của Quốc hội; nghiên
cứu chuyển Viện NCLP thuộc UBTVQH thành cơ quan của Quốc hội. Việc
nghiên cứu đổi mới về cơ cấu, tổ chức của Quốc hội là một quá trình lâu dài,
không thể nóng vội và cần được đặt trong tổng thể chủ trương đổi mới, kiện
toàn tổ chức bộ máy nhà nước của Đảng ta. Do đó, những nghiên cứu đề
xuất nêu trên cần được nhìn nhận với tính cách là những nghiên cứu, kiến
nghị mang tính bước đầu trong tiến trình đổi mới, hoàn thiện cơ cấu tổ chức
và hoạt động của Quốc hội. 3. Đổi mới hoạt động của Quốc hội Các giải
pháp đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội được xác định theo
từng lĩnh vực cụ thể. Đối với hoạt động lập pháp, Đề tài đã tập trung trình
bày ba giải pháp: - Một là, tăng cường pháp chế trong hoạt động lập pháp.
Để thực hiện định hướng này cần tiến hành nghiên cứu sửa đổi Luật ban
hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm quy định cụ thể hơn trách nhiệm của
các chủ thể có thẩm quyền trong các công đoạn của quy trình lập pháp. Tăng
cường trách nhiệm của cơ quan soạn thảo trong việc xây dựng hệ thống
chính sách của dự án luật và đánh giá sự tác động của các chính sách. Từ đó,
nâng cao trách nhiệm, minh bạch hoá được các quyền và nghĩa vụ của các
bồi dưỡng kỹ năng hoạt động của ĐBQH, trong đó có kỹ năng chất vấn; quy
định rõ một số vấn đề về mặt thủ tục trong hoạt động chất vấn và trả lời chất
vấn; hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc tiến hành hoạt động “chất vấn” tại
các cơ quan của Quốc hội Đối với hoạt động xem xét, quyết định những
vấn đề quan trọng của đất nước, Đề tài đưa ra ba giải pháp: - Một là, về kinh
tế - xã hội, cần quyết định cả hệ thống chính sách kinh tế - xã hội dài hạn và
ngắn hạn. Kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của đất nước trong 5 năm,
hàng năm chỉ là ngắn hạn. Quốc hội cần nắm chắc và quyết định chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội 10 năm. Đối với các quy hoạch, kế hoạch, chương
trình, dự án, Quốc hội cần lựa chọn một số tiêu chí để quyết định phù hợp
- Hai là, về ngân sách, cần nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về ngân sách nhà
nước theo hướng quyết định ngân sách kỳ hạn và dựa vào kết quả đầu ra để
bảo đảm tính công khai, minh bạch, dân chủ và hiệu quả hơn trong đầu tư
công. - Ba là, về vấn đề thẩm tra, đối với một số nghị quyết đặc thù, quan
trọng như nghị quyết về các công trình quan trọng quốc gia cần phải có một
Ủy ban lâm thời gồm các ĐBQH có trình độ chuyên môn phù hợp để tiến
hành thẩm tra. Ngoài một số nội dung cơ bản trên, trong quá trình nghiên
cứu, đề tài cũng đã đề cập đến một số nội dung khác xung quanh thực tiễn tổ
chức và hoạt động của Quốc hội khóa XII. Nhìn chung, kết quả nghiên cứu
đề tài là những thông tin có giá trị tham khảo, góp phần phục vụ công tác
nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về tổ
chức và hoạt động của Quốc hội trong thời gian tới./. Đổi mới tổ chức và
phương thức hoạt động của bộ máy Nhà nước là một nhiệm vụ trọng tâm để
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Để
làm rõ vấn đề này đã có nhiều cơ quan chức năng và nhiều nhà khoa học nêu
lên khá hệ thống và cụ thể. Trong bài viết này tôi muốn làm rõ một số nội
dung chính sau đây: I. Trong nội dung đổi mới tổ chức và phương thức hoạt
động của Nhà nước, vấn đề đầu tiên là phải đổi mới tổ chức và phương thức
hoạt động của Quốc hội. Bởi vì, đây là một trong những nội dung cơ bản của
việc kiện toàn tổ chức và phương thức hoạt động của bộ máy nhà nước pháp
và các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở. 2. Đổi mới tổ chức và
phương thức hoạt động của Quốc hội theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, phù hợp với đặc điểm của đất nước, tính chất của
thời đại. Nghị quyết Đại hội IX của Đảng nêu rõ: Nhà nước ta là công cụ
chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền
của dân, do dân, vì dân. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có
những đặc trưng cơ bản: - Luôn xác định mục tiêu cao nhất là vì con người.
Đặc trưng này thể hiện ngay từ khi thành lập Nhà nước ta và thể hiện đầy đủ
trong các bản hiến pháp từ năm 1946 đến nay.Trong hiến pháp năm 1992, đã
được thể hiện trong 1 chương với 34 điều cụ thể. - Mọi quyền lực Nhà nước
đều thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước một cách
trực tiếp hoặc thông qua các cơ quan nhà nước do mình bầu ra. - Nhà nước
được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật và thể hiện địa vị
tối cao của Hiến pháp, pháp luật trong đời sống xã hội. - Ở đó, quyền lực
Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ
quan trong việc thực hiện các quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp. Đây
vừa là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước vừa là quan
điểm chỉ đạo quá trình tiếp tục thực hiện cải cách bộ máy nhà nước. - Là
Nhà nước do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Tiến hành đổi mới phương
thức tổ chức và hoạt động của Quốc hội nhằm kiện toàn tổ chức và phương
thức hoạt động của bộ máy nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay cần
phải nắm vững các nguyên tắc trên. Mặt khác, cần nhận thức rõ chúng ta xây
dựng Nhà nước pháp quyền trong điều kiện một đảng lãnh đạo và thực hiện
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là công việc hoàn
toàn mới, chưa có tiền lệ trong lịch sử. Mặc khác với những kết quả đạt
được qua gần 20 năm đổi mới, nhận thức, yêu cầu của nhân dân ngày một
nâng cao, nhiệm vụ xây dựng bộ máy nhà nước và nguyện vọng của nhân
dân ngày càng đòi hỏi phải có bộ máy trong sạch, vững mạnh, hoạt động có
hiệu lực, hiệu quả mới đáp ứng tình hình và nhiệm vụ cách mạng. 3. Thực
hiện theo các nguyên tắc chung về tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước
nhân dân, vừa có đạo đức, năng lực, có bản lĩnh và các kỹ năng hoạt động
nghị trường, tham gia đóng góp, quyết định được những vấn đề trọng đại của
đất nước. c. Tiếp tục kiện toàn các cơ quan của Quốc hội, thường xuyên tăng
cường quan hệ hai chiều giữa Quốc hội với nhân dân….
a. Đối với Quốc hội
Tiếp tục đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của
Quốc hội nhằm thực hiện tốt chức năng lập pháp, giám sát tối cao và quyết định
những vấn đề quan trọng của đất nước. Hoàn thiện cơ chế bầu cử đại biểu Quốc
hội để cử tri lựa chọn và bầu những người thực sự tiêu biểu vào Quốc hội. Nâng
cao chất lượng đại biểu Quốc hội, tăng cường hợp lý số đại biểu Quốc hội hoạt
động chuyên trách. Tổ chức lại một số uỷ ban của Quốc hội theo hướng chuyên
sâu hơn. Cải tiến, nâng cao chất lượng đại biểu hoạt động của Hội đồng dân tộc,
các Uỷ ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội và đoàn đại biểu Quốc hội. Đổi mới
quy trình xây dựng luật, tiếp tục giảm việc ban hành pháp lệnh.
Trọng tâm là tăng cường công tác lập pháp, xây dựng chương trình dài
hạn về lập pháp, đổi mới quy trình xây dựng luật, nâng cao chất lượng luật, pháp
lệnh mới ban hành. Bảo đảm để Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối
với toàn bộ hoạt động của Nhà nước, làm tốt chức năng quyết định các vấn đề
quan trọng của đất nước, quyết định và phân bổ ngân sách Nhà nước…hoàn
thiện quy chế về vai trò, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội chuyên trách. Nâng
cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ba cấp.
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo Quốc Hội và HDND các cấp.
b. Hội đồng nhân dân
Những năm qua, HĐND các cấp đã có nhiều đổi mới nên hiệu quả hoạt động được
nâng lên rõ rệt; tuy nhiên so với yêu cầu đặt ra còn khá khiêm tốn. Điều này do
nhiều nguyên nhân. Trước hết, do cơ cấu, tổ chức bộ máy của HĐND bất cập, nhân
sự thường biến động. Đối với Thường trực HĐND, có địa phương bố trí Chủ tịch
HĐND hoạt động chuyên trách, nơi bố trí kiêm nhiệm; Chủ tịch HĐND có nơi là
Bí thư cấp ủy cùng cấp, có nơi là Phó bí thư hoặc ủy viên Thường vụ cấp ủy cùng
cấp; Phó chủ tịch HĐND có nơi được cơ cấu ủy viên thường vụ cấp ủy cùng cấp,
kiện vật chất chưa bảo đảm; nhận thức về vai trò, chức năng và nhiệm vụ của Văn
phòng cũng chưa đúng, chưa đầy đủ và còn nhiều cách đánh giá khác nhau Giải
pháp khắc phục Về cơ cấu tổ chức, cần bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là
các cấp ủy Đảng đối với HĐND các cấp. Sớm có quy định thống nhất phân công
các đồng chí trong Thường trực cấp ủy, ủy viên thường vụ, ủy viên Ban chấp hành
cấp ủy cùng cấp đảm nhiệm các chức danh chuyên trách của HĐND. Cụ thể: chức
danh Chủ tịch HĐND nên cơ cấu Bí thư hoặc Phó bí thư cấp ủy cùng cấp; chức
danh Phó chủ tịch HĐND nên cơ cấu Ủy viên Ban Thường vụ cấp ủy cùng cấp;
chức danh Ủy viên Thường trực HĐND, Trưởng các ban HĐND hoạt động chuyên
trách là cấp ủy viên cùng cấp. Cấp quận, huyện cơ cấu ít nhất một Trưởng ban
HĐND hoạt động chuyên trách là cấp ủy viên cùng cấp. Cần có quy định hoặc
hướng dẫn về quy chế hoạt động Đảng đoàn HĐND trong lãnh đạo thực hiện chức
năng của HĐND. Cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức
HĐND và UBND. Cụ thể, tại Điều 52 cần điều chỉnh và quy định rõ: Thường trực
HĐND là cơ quan của HĐND. Đối với Thường trực HĐND cấp tỉnh, gồm: Chủ
tịch, không quá 2 Phó chủ tịch và một số Ủy viên Thường trực, các Ủy viên
Thường trực được cơ cấu từ các Trưởng ban của HĐND và Chánh văn phòng
Đoàn ĐBQH và HĐND; cấp huyện gồm Chủ tịch và không quá 2 Phó chủ tịch
HĐND. Thường trực HĐND cấp xã gồm Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐND. Tại Điều
54 cần bổ sung và quy định rõ: Trưởng ban, Phó trưởng ban của HĐND cấp tỉnh,
cấp huyện làm việc chuyên trách và có một số đại biểu HĐND hoạt động chuyên
trách ở mỗi ban. Bổ sung quy định về tổ đại biểu HĐND; quy định về tổ chức bộ
máy của Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương. Nghiên cứu trình Quốc hội xem xét, ban hành Luật hoạt động giám sát của
HĐND, giúp HĐND các cấp có đủ cơ sở pháp lý, thống nhất trong tổ chức thực
hiện. Về hoạt động, để nghị quyết HĐND có chất lượng, bảo đảm tính khả thi, cần
tuân thủ đúng tiến độ, quy trình, thủ tục soạn thảo và ban hành văn bản quy phạm
pháp luật của HĐND và UBND. Các ban HĐND chủ động tham gia ngay từ đầu
quá trình soạn thảo; khi thẩm tra, phải tập hợp được trí tuệ của tập thể, thể hiện rõ
chính kiến: đồng ý hoặc không đồng ý ban hành nghị quyết để đại biểu HĐND có
thực hiện nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền, kế thừa kinh nghiệm và các
giá trị của Hiến pháp 1946 và các bản Hiến pháp sau này, thực tiễn tổ chức chính
quyền địa phương của nước ta và kinh nghiệm của các nước, chúng tôi xin nêu một
số bất cập về lý luận và thực tiễn tổ chức chính quyền địa phương ở nước ta hiện
nay, nhu cầu và hướng đổi mới như sau:
1. Mô hình tổ chức chính quyền địa phương của nước ta hiện nay được tổ chức
theo nguyên tắc nào trong các mối quan hệ: giữa chính quyền trung ương với chính
quyền địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương với nhau, giữa Ủy ban
nhân dân với Hội đồng nhân dân cùng cấp và với cơ quan hành chính nhà nước cấp
trên (đối với cấp tỉnh là với Chính phủ) vẫn chưa được giải quyết về lý luận và
thực tiễn. Theo Điều 6 Hiến pháp hiện hành nước ta xác định thì tất cả các cơ quan
nhà nước đều “tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ”. Nhưng
các quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân
dân lại thể hiện rõ tính tập trung về trung ương, về cấp trên. Thực tế là trung ương
và cấp trên không thể nắm, không thể quản được địa phương. Còn địa phương và
cấp dưới cũng không có được quyền chủ động, phát huy sự sáng tạo, năng động
trong việc giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc của mình nên phải “xé rào”
như một số địa phương đã làm trong thời gian vừa qua. Cần nghiên cứu để giải
quyết triệt để vấn đề này.
2. Việc phân chia đơn vị hành chính lãnh thổ ở nước ta những năm vừa qua chưa
được giải quyết thoả đáng về lý luận và thực tế. Vì thế nên mới có chuyện khi thì ồ
ạt sáp nhập tỉnh (năm 1980 cả nước có 36 tỉnh, ba thành phố trực thuộc trung ương
và một đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo) để rồi sau đó lần lượt chia tách tỉnh trả lại gần
như trước khi nhập tỉnh. Việc xác định vị trí, tính chất và vai trò của từng loại đơn
vị hành chính cũng là vấn đề rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong việc tổ
chức hợp lý các cấp chính quyền địa phương. Cuối những năm 1970 đến giữa
những năm 1980 chúng ta đã có chủ trương không đúng khi xác định huyện là địa
bàn chiến lược nên đã ban hành một loạt văn bản về xây dựng huyện và tăng cường
cấp huyện, trong khi đơn vị hành chính này một thời gian dài chỉ là “cấp trung
gian”. Do không xác định đúng các đơn vị hành chính nên chúng ta không giải
nhau về mô hình tổ chức chính quyền địa phương các cấp nói chung, thành phố
trực thuộc trung ương nói riêng. Khái quát lại có bốn loại ý kiến, kiến nghị về vấn
đề này là:
Loại ý kiến thứ nhất: đề nghị giữ mô hình tổ chức Hội đồng nhân dân ở ba cấp như
hiện nay. Vì ở cấp hành chính nào cũng cần có Hội đồng nhân dân để đại diện cho
nhân dân ở cấp đó, Hội đồng nhân dân ở ba cấp đã ổn định qua nhiều năm, đã hoạt
động tương đối hiệu quả, không nên làm xáo trộn lớn về tổ chức Hội đồng nhân
dân.
Loại ý kiến thứ hai: đề nghị chỉ tổ chức Hội đồng nhân dân ở hai cấp là cấp tỉnh và
cấp xã. Vì Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có nhiệm vụ, quyền hạn quyết định những
vấn đề quan trọng của địa phương, chính quyền cấp tỉnh có vai trò quản lý toàn
diện các lĩnh vực kinh tế-xã hội trên địa bàn. Hội đồng nhân dân cấp xã là cấp cơ
sở, gắn bó trực tiếp với nhân dân, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân,
quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ở cơ sở. Bỏ Hội đồng
nhân dân ở cấp huyện nhìn chung không ảnh hưởng đến quản lý nhà nước, tạo điều
kiện có thể tăng số lượng đại biểu cho Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cấp xã.
Loại ý kiến thứ ba: đề nghị giữ mô hình tổ chức Hội đồng nhân dân ở tỉnh, huyện
và xã; nhưng bỏ Hội đồng nhân dân ở quận, phường thuộc thành phố trực thuộc
trung ương; bỏ Hội đồng nhân dân các phường thuộc thị xã và thành phố thuộc
tỉnh.
Loại ý kiến thứ tư: đề nghị chỉ tổ chức Hội đồng nhân dân ở hai cấp là cấp tỉnh và
cấp xã; riêng thành phố trực thuộc trung ương chỉ tổ chức Hội đồng nhân dân ở
một cấp là cấp thành phố [8].
Cần phải nghiên cứu tổ chức các cấp chính quyền địa phương sao cho phù hợp với
tính đa dạng của các địa phương, phản ánh được các đặc điểm và điều kiện đặc thù
của địa phương nhằm phát huy tính chủ động, năng động, các tiềm năng của địa
phương. Tổ chức chính quyền ở các đô thị cần phải được xem xét riêng biệt sao
cho phù hợp và bảo đảm phát triển có kế hoạch, đồng đều, thống nhất trong một đô
thị, chứ không thể quản lý theo kiểu chia tách, cắt khúc như lâu nay.
4. Vấn đề phân cấp chúng ta đã đề ra, đã ban hành một số văn bản pháp luật về vấn
Trước hết, cần phải nhận thức đúng đắn quan điểm chung về cải cách bộ máy nhà
nước là xây dựng và hoàn thiện nhà nước CHXHCN Việt Nam, trong đó có nhiệm
vụ kiện toàn, cải cách tổ chức Quốc hội. Cụ thể là:
- Xây dựng nhà nước XHCN của dân, do dân, vì dân; lấy liên minh giai cấp công
nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản
lãnh đạo. Thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã
hội, chấm dứt mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân
- Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan
nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
- Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt dộng của nhà nước.
- Tăng cường pháp chế XHCN, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam. Quản lý
xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức.
- Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước.
-Các quan điểm cụ thể: Yêu cầu kiện toàn tổ chức và hoạt động của Quốc hội phải
bảo đảm những tiêu chí sau đây:
- Nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Mở rộng dân chủ, hướng tới xây dựng Quốc hội hoạt động thường xuyên.
- Kế thừa phù hợp với đặc điểm truyền thống, văn hoá Việt Nam.
- Tổng kết kinh nghiệm thực tiễn Việt Nam, đồng thời, kế thừa có chọn lọc kinh
nghiệm của nước ngoài.
Phương án kiện toàn và xây dựng mô hình tổ chức Quốc hội
Phương án 1: Giảm bớt số Uỷ ban thường trực, tăng thêm các ban của các Uỷ ban;
thu hút thêm các đại biểu chuyên trách.
- Thực hiện chức năng lập hiến và lập pháp, Quốc hội cần thành lập Uỷ ban lập
pháp. Trong Uỷ ban này, có thể thành lập nhiều ban theo từng nhiệm vụ và từng
lĩnh vực nhất định. Ví dụ: Ban lập pháp về dân sự - kinh tế, Ban lập pháp về tổ
chức bộ máy nhà nước, Ban thẩm định dự án luật…
- Thành lập Văn phòng cố vấn luật pháp để giúp soạn thảo các dự án luật cho các
ban chuyên ngành hoặc các đại biểu Quốc hội. Các thành viên trong Văn phòng cố
vấn có thể là đại biểu Quốc hội, các luật gia, nhà luật học nổi tiếng có nhiều kinh
nhà nước pháp quyền là hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, có nội dung dân
chủ, tiến bộ, phù hợp với thực tiễn khách quan và sự phát triển, được xây dựng trên
cơ sở kỹ thuật pháp lý cao. Để từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật, không thể
không thiết lập một cơ quan bảo hiến hoặc là Hội đồng bảo hiến, Uỷ ban bảo hiến
nhằm bảo đảm tính hợp hiến của các đạo luật hoặc các điều khoản của luật và các
hoạt động của Quốc hội; việc bầu cử Quốc hội, các cuộc trưng cầu ý dân và tuyên
bố kết quả; bảo đảm sự thống nhất và đồng bộ, hợp hiến của các đạo luật và các
văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước,
Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao… Tất cả các
văn bản trên khi ban hành, được thực hiện đều phải chuyển đến cơ quan bảo hiến
xem xét. Khi được cơ quan bảo hiến xác định về tính hợp hiến và không mâu
thuẫn của các quy định trong các văn bản thì các văn bản đó mới được ban hành và
thực hiện.
Cơ quan kiểm toán thuộc Quốc hội: Đối với quyền quyết định dự toán ngân sách
nhà nước và phân bổ ngân sách Trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà
nước, Quốc hội chú trọng chặt chẽ dự toán ngân sách, quyết toán chi tiêu ngân
sách của từng bộ, ban, ngành của bộ máy nhà nước, không cần phải gia tăng quyền
hạn cho Quốc hội trong việc phải quyết định tổng thể biên chế nhà nước. Dự toán
thu chi cần phải chi tiết đến từng bộ, ngành. Bộ, ban ngành nào không được Quốc
hội dự chi phải tự động đóng cửa hoạt động. Làm được như vậy sẽ góp phần khẳng
định tính thực quyền và vị trí tối cao của Quốc hội. Vì lẽ đó, để thực hiện hoạt
động này một cách có hiệu quả thì Quốc hội không thể không có một cơ quan kiểm
toán riêng. Cơ quan này tham gia thẩm định tổng quyết toán ngân sách nhà nước,
ngân sách các bộ ngành, kiểm tra tất cả các doanh nghiệp nhà nước, đầu tư xây
dựng cơ bản, các dự án quốc gia và các lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Cơ quan này
ra đời và hoạt động sẽ góp phần đáng kể vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở
Việt Nam hiện nay.
Phương án 3: Tăng hoặc giảm số uỷ ban thường trực căn cứ vào nhu cầu linh hoạt
của thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của quốc tế.
Trên thế giới, việc thiết kế cơ cấu tổ chức Quốc hội có nhiều điểm khác nhau. Có
tướng nếu trái với các văn bản của UBTVQH,đình chỉ và đề nghị QH bãi bỏ
đối với các văn bản của Chính pủ ,Thủ tướng trái với các văn bản của Quốc
hội.Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước QH về việc thực hiện công việc
được giao.
Chính phủ có quyền trình dự án luật,pháp lệnh trước QH và UBTVQH.Thủ
tướng có quyền đề nghị UBTVQH triệu tập QH họp bất thường.Chính phủ
tổ chức thực hiện các văn bản của QH và UBTVQH.CHính phủ có sự độc
lập về nhân viên,ngoài thủ tướng và các thành viên khác không nhất thiết là
đại biểu QH,Thành viên của UBTVQH không đồng thời là thành viên của
Chính phủ.
Câu hỏi: Đổi mới tư pháp trong điều kiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa?
Trả lời:
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Số: 49-NQ/TW Hà Nội, ngày 02 tháng 06 năm 2005
NGHỊ QUYẾT
của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Trong những năm qua, thực hiện các nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết 08-
NQ/TW, ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị “về một số nhiệm vụ trọng tâm công
tác tư pháp trong thời gian tới”, công cuộc cải cách tư pháp đã được các cấp ủy, tổ
chức đảng lãnh đạo và tổ chức thực hiện với quyết tâm cao, đạt được nhiều kết
quả. Nhận thức và sự quan tâm đối với công tác tư pháp có nhiều thay đổi theo
hướng tích cực; chất lượng hoạt động tư pháp đã được nâng lên một bước, góp
phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho
sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tuy nhiên, những kết quả đó mới là bước đầu và mới tập trung vào giải quyết
những vấn đề bức xúc nhất. Công tác tư pháp còn bộc lộ nhiều hạn chế. Chính sách
dân, do nhân dân, vì nhân dân, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công,
phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành
pháp, tư pháp.
2.2. Cải cách tư pháp phải xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã
hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc; gắn với đổi mới công tác lập pháp, cải cách hành
chính.
2.3. Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội trong quá trình cải cách tư pháp.
Các cơ quan tư pháp, cơ quan bổ trợ tư pháp phải đặt dưới sự giám sát của các cơ
quan dân cử và nhân dân.
2.4. Cải cách tư pháp phải kế thừa truyền thống pháp lý dân tộc, những thành tựu
đã đạt được của nền tư pháp xã hội chủ nghĩa Việt Nam: tiếp thu có chọn lọc
những kinh nghiệm của nước ngoài phù hợp với hoàn cảnh nước ta và yêu cầu chủ
động hội nhập quốc tế; đáp ứng được xu thế phát triển của xã hội trong tương lai.
2.5. Cải cách tư pháp phải được tiến hành khẩn trương, đồng bộ, có trọng tâm,
trọng điểm với những bước đi vững chắc.
II. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHIỆM VỤ CẢI CÁCH TƯ PHÁP
1. Phương hướng
1.1. Hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự và dân sự phù hợp với nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; hoàn thiện các thủ tục tố
tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và
bảo vệ quyền con người.
1.2. Tổ chức các cơ quan tư pháp và các chế định bổ trợ tư pháp hợp lý, khoa học
và hiện đại về cơ cấu tổ chức và điều kiện, phương tiện làm việc; trong đó, xác
định tòa án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm; xã hội hóa mạnh
mẽ hoạt động bổ trợ tư pháp.
1.3. Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp, nhất là cán bộ có chức danh
tư pháp, theo hướng đề cao quyền hạn, trách nhiệm pháp lý, nâng cao và cụ thể hóa
tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất, đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ và kinh
thiện chế định hợp đồng, bồi thường, bồi hoàn…
Phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm quyền hạn tư pháp
trong hoạt động tố tụng tư pháp theo hướng tăng quyền và trách nhiệm cho điều tra
viên, kiểm sát viên và thẩm phán để họ chủ động trong thực thi nhiêm vụ, nâng cao
tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định tố
tụng của mình. Xác định rõ căn cứ tạm giam; hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm
giam đối với một số loại tội phạm; thu hẹp đối tượng người có thẩm quyền quyết
định việc áp dụng các biện pháp tạm giam.
Từng bước hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo hướng quy định chặt
chẽ những căn cứ kháng nghị và quy định rõ trách nhiệm của người ra kháng nghị
đối với bản án hoặc quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật; khắc phục tình
trạng kháng nghị tràn lan, thiếu căn cứ. Xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút
gọn đối với những vụ án có đủ một số điều kiện nhất định.
Tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân sự. Nghiên cứu thực hiện và phát triển các
loại hình dịch vụ từ phía nhà nước để tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu
thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đổi mới
thủ tục hành chính trong các cơ quan tư pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho
người dân tiếp cận công lý; người dân chỉ nộp đơn đến tòa án, tòa án có trách
nhiệm nhận và thụ lý đơn. Khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông
qua thương lượng, hòa giải, trọng tài; tòa án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc
giải quyết đó.
Mở rộng thẩm quyền xét xử của tòa án đối với các khiếu kiện hành chính. Đổi mới
mạnh mẽ thủ tục giải quyết các khiếu kiện hành chính tại tòa án; tạo điều kiện
thuận lợi cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng giữa công dân và
cơ quan công quyền trước tòa án.
Từng bước thực hiện việc công khai hóa các bản án, trừ những bản án hình sự về
tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc liên quan đến thuần phong mỹ tục. Xây dựng
cơ chế bảo đảm mọi bản án của tòa án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành,
các cơ quan hành chính vi phạm bị xử lý theo phán quyết của tòa án phải nghiêm
chỉnh chấp hành.