A. PHẦN MỞ ĐẦU
Theo như chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Dân ta phải biết sử ta, cho tường
gốc tích nước nhà Việt Nam”, chúng ta thế hệ trẻ thời nay cần phải hiểu biết lịch sử
để có thể giúp ích cho xã hội, góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam
hiện nay và sau này.
1. Lí do chọn vấn đề
Xuyên suốt chiều dài lịch sử thì quốc hiệu- một biểu tượng quốc gia Việt Nam,
gắn bó chặt chẽ với lịch sử. Quốc hiệu là một trong các biểu tượng của quốc gia các
nước, là tên gọi của mỗi nước, biểu tượng quốc gia để chỉ các yêu tố cấu thành mang
chất lượng tượng trưng cho một quốc gia. Chính vì là một trong bốn biểu tượng quốc
gia Việt Nam: “Quốc huy, Quốc kỳ, Quốc ca, Quốc hiệu, Quốc thiều” nên quốc hiệu
cũng là yếu tố không thể thiếu, mang những đặc điểm của các quốc gia dân tộc, thể
hiện chủ quyền và cấu thành nên quốc thể.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Với việc đi nghiên cứu quốc hiệu Việt Nam thì ta cần làm sáng tỏ rằng: Quốc
hiệu Việt Nam là một biểu tượng quốc gia, là yếu tố để khẳng định vị thế cũng như
chủ quyền của một nước, tìm hiểu theo chiều dài của lịch sử dựng nước và cứu nước.
Tìm được ý nghĩa của quốc hiệu theo từng thời kỳ, phát huy truyền thống của cha
ông.
3. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu quốc hiệu Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử và qua đó đánh giá
nhận xét về ý nghĩa của quốc hiệu Việt Nam.
Quốc hiệu Việt Nam thay đổi khá nhiều theo dòng lịch sử của dân tộc Việt
Nam. Nó còn biểu lộ sự tiến hóa của quốc gia dân tộc Việt Nam qua các thời kỳ lịch
sử.
4. Lịch sử nghiên cứu
Trải qua bốn nghìn năm lịch sử, đất nước Việt Nam phải bao nhiêu đời dựng
nước và giữ nước: công cuộc dựng nước của các vua Hùng, công cuộc bảo vệ và xây
dựng đất nước của các triều đại phong kiến Đinh-Lê-Trần-Nguyễn,… rồi đến sự
nghiệp đánh tan giặc ngoại xâm, bọn đế quốc, thực dân của nhân dân và các anh hùng
liệt sỹ. Tính theo thời gian lịch sử thì quốc hiệu Việt Nam bắt đầu xuất hiện từ thời
không chính thức để chỉ vùng lãnh thổ thuộc quốc gia Việt Nam. Nó còn biểu lộ sự
tiến hóa của quốc gia và dân tộc Việt qua các thời kỳ lịch sử.
I. ĐỊNH NGHĨA QUỐC HIỆU
Quốc hiệu là tên chính thức của một quốc gia.
Quốc hiệu là một biểu tượng của một nước nên không thể thiếu được, thể hiện chủ
quyền, mang những đặc điểm của quốc gia dân tộc đó.
Quốc hiệu có nhiều ý nghĩa:
-Nó biểu lộ chủ quyền của quốc gia trên vùng lãnh thổ của mình. Nó có thể khác với tên
địa lý được gắn cho vùng đất hay vùng dân cư đó.
Ví dụ: Chiêm Thành là tên Việt Nam gọi người Chàm, tên Giao Chỉ thường
dùng để chỉ giống dân Cổ Việt trong vùng Bắc Việt Nam ngày xưa, nó khác với quốc
hiệu Văn Lang thường được gán cho thời kỳ tiền sử . Đó là phương diện địa lý của
quốc hiệu.
-Quốc hiệu cũng thường biểu lộ các yếu tố chính trị cho vùng đất hay cư dân chủ thể của
quốc hiệu. Nó là danh xưng chính thức được dùng trong ngoại giao và bang giao quốc
tế.
Ví dụ: cho đến trước năm 1804 Việt Nam luôn luôn có hai quốc hiệu : một
quốc hiệu dùng trong nước như Đại Cồ Việt, Đại Việt nhưng mặt khác người Trung
Hoa láng giềng phương Bắc lại gọi Việt Nam là An Nam.
-Trong thời cận và hiện đại, quốc hiệu thường biểu lộ thể chế chính trị hay ước muốn
chính trị của quốc gia.
Ví dụ: Quốc hiệu có thể nhấn mạnh về chế độ chính trị như chế độ xã hội hay
cộng sản như Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, hay chế độ cộng hòa như Việt
Nam Cộng Hòa. Đối với Việt Nam, chúng ta có đầy đủ những quốc hiệu theo địa lý
hay chính trị theo dòng lịch sử vẻ vang của dân Việt.
II. QUỐC HIỆU VIỆT NAM THEO THỜI KỲ LỊCH SỬ
Quốc hiệu Việt nam qua các thời kỳ có tên gọi khác nhau. Dưới đây là danh
sách các quốc hiệu chính thức của Việt Nam theo dòng lịch sử. Các quốc hiệu này đều
được ghi chép trong các sách sử Việt Nam, được chính thức sử dụng trong nghi thức
III. Ý NGHĨA CỦA QUÔC HIỆU VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH
SỬ
Theo phần định nghĩa về quôc hiệu và căn cứ vào quốc hiệu qua các thời kỳ mà
chúng ta có thể chia quốc hiệu mang ba ý nghĩa đặc trưng và chia làm ba thời kỳ
1. Mang ý nghĩa chủ quyền quốc gia và chủ quyền lãnh thổ của mình, đặc trưng
cho nền văn hóa, gắn với thời kỳ từ năm 690TCN đến 208 TCN
Lịch sử của nhiều quốc gia dân tộc như Trung Quốc, Nhật, Việt, thường bắt đầu
bằng những huyền thọai. Chính trong những truyện truyền kỳ thần thọai, tuy có thể
do người đời sau sáng tác ra, nhưng đã lưu truyền trong nhiều ngàn năm nên có thể ẩn
chứa những dấu vết văn hóa lịch sử.Giống như vậy, quốc hiệu Việt Nam trong thời
huyền sử cũng ẩn chứa những dấu vết của nền văn hóa Cổ Việt thời xa xưa và khẳng
định chủ quền của mình.
a. Quốc hiệu Văn Lang (690- 258 TCN)
-Theo những thư tịch cổ sử thì vào đời các vua Hùng, chưa có văn tự rõ ràng. Văn Lang
có nghĩa là quốc gia của những người có văn học, chứng tỏ không thua kém dân
phương bắc.
-Văn Lang (chữ Hán: 文郎) được coi là quốc hiệu đầu tiên cho Việt Nam. Quốc gia này
có kinh đô đặt ở Phong Châu nay thuộc tỉnh Phú Thọ. Lãnh thổ gồm khu vực Đồng
bằng Bắc Bộ và ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh bây giờ. Quốc gia này tồn tại
cho đến năm 258 TCN.
-Ðầu thời kỳ đồ đồng, những bô lạc người Việt sống ở miền Bắc và phía Bắc trung tâm
Việt Nam. Tính ra có khoảng 15 nhóm Lạc Việt khác nhau sống trên vùng cao nguyên
mièn Bắc và miền châu thổ sông Hồng Hà, hơn 12 nhóm Âu Việt sống nơi miền
Ðông Bắc. Ðể tiện việc trao đổi buôn bán, phòng chống lụt lội, chống lại kẻ thù Họ
có khuynh hướng gom tụ lại thành một nhóm to lớn hơn. Trong số những bộ lạc Lạc
Việt, Văn Lang là mạnh nhất . Những bộ lạc Lạc Việt được gom lại thành một nước
lấy tên Văn Lang và người cầm đầu tự xưng là Hùng Vương (các vua Hùng).
-Cách thứ nhất cho rằng: Vì tổ tiên ta có tục xăm mình nên khi lập quốc mới nhân đó mà
đặt quốc hiệu là Văn Lang. Cơ sở thực tiễn của cách giải thích này nằm ngay trong
tính phổ biến của tục xăm mình từng tồn tại trước và cả sau thời Hùng Vương hàng
-Khoảng cuối thế kỷ thứ 3 TCN, đầu thế kỷ thứ 2 TCN (năm 208 TCN), Triệu Đà (quận
úy Nam Hải-nhà Tần) tung quân đánh chiếm Âu Lạc. Cuộc kháng cự của An Dương
Vương thất bại, nhà nước Âu Lạc bị xóa sổ.
-Tên nước Âu Lạc bao gồm hai thành tố Tây Âu và Âu Lạc, phản ánh ự liwwn kết giữa
hai nhóm người Tây Âu và Lạc Việt, lãnh thổ Âu Lac cũng được xá nhập bởi hai
vùng lãnh thổ Văn Lang và Âu Lạc.
Thành Cổ Loa nằm trên bờ bắc sông Hoàng
Thành Cổ Loa ở Đông Anh( Hà Nội) hiện nay
Với quốc hiệu Văn Lang đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam, đây là một
đất nước chưa bị các ách đô hộ xâm chiếm, có tên trong lịch sử. Thời kỳ của các vị
vua Hùng, thời kỳ đầu xây dựng đất nước với khí thế hào hùng của đất Việt sự sinh
sôi nảy nở của 100 cái trứng nở thành 100 người con mang sức mạnh tinh thần cũng
như thể lực để rồi khai hoang tạo ra các miền trù phú tươi tốt.
Với quốc hiệu Âu Lạc cũng cho ta liên tưởng nhiều ý nghĩa khác nhau nhưng
nếu dịch theo tên quốc hiệu thì “ Lạc “ là tên một loài chim hoặc cũng có thể hiểu
rằng là một loại lúa và “ Âu Lạc” là chỉ nền nông nghiệp cũng như Văn Lang, nền
nông nghiệp là chính và là cơ sở hình thành đất nước.
=>Như vậy ở hai Quốc hiệu của hai nhà nước Văn Lang và Âu Lạc thể hiện
đặc trưng cho nền văn hóa lúa nước,là cái nôi của nền văn minh lúa nước, theo tiếng
Hán là nông nghiệp. Đây được coi là nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam thời sơ khai
dựng nước.
2. Thể hiện các yếu tố chính trị cho vùng đất hay cư dân chủ thể của quốc hiệu vào
thời kỳ độc lập, sự ngang bằng với nước láng giềng Trung Hoa, sự áp đặt của các
triều đại phong kiến, từ năm 502 TCN đến năm 1840.
Sau thời kỳ dựng nước của các Vua Hùng với quốc hiệu “ Văn Lang” và “Âu
Lạc” khi đã có tên trên lãnh thổ lần lượt các thế lực đô hộ phương Bắc bắt đầu xâu
chiếm nước ta và dần có những Quốc hiệu mới được hình thành do các vị tướng đánh
giặc và lập nên và cũng đồng thời gắn liền với chế độ chính trị khác nhau nhưng cũng
khẳng định được chủ quyền của đất nước tuy vẫn còn sự phụ thuộc chế độ đô hộ,
phong kiến,
-Năm 1054, nhân điềm lành lớn là việc xuất hiện một ngôi sao sáng chói nhiều ngày mới
tắt, nhà Lý liền cho đổi tên nước là Ðại Việt và quốc hiệu Ðại Việt được giữ nguyên
đến hết thời Trần…
-Sau 10 năm kháng chiến (1418-1427), cuộc khởi nghĩa chống Minh của Lê Lợi toàn
thắng. Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi, đặt tên nước là Ðại Việt (lãnh thổ nước ta lúc này
về phía Nam đã tới Huế).
-Quốc hiệu Ðại Việt được giữ qua suốt thời Hậu Lê (1428-1787) và thời Tây Sơn (1788-
1802).
Chữ “Đại”được sử dụng trong các quốc hiệu
-Ý nghĩa của quốc hiệu Đại Việt không có gì khác với Quốc hiệu Đại Cồ Việt. Tên Đại
Việt được viết trong “Dư địa chí”, Nguyễn Trãi có viết: “Vua đầu tiên là Kinh Dương
Vương, sinh ra có đức của bậc thánh nhân, được phong sang Việt Nam làm tổ Bách
Việt”, nhưng trong Bình Ngô đại cáo ông lại viết: “Như nước Đại Việt ta từ trước,
vốn xưng nền văn hiến đã lâu”, ở thế kỷ XV.
d. Quốc hiệu Đại Ngu (1400-1407)
-Đại Ngu là quốc hiệu Việt Nam đời nhà Hồ. Sau khi đảo chánh nhà Trần, Lê Quý Ly lên
làm vua.
-Năm 1407, nhà Minh, dù đã sắc phong cho Hồ Hán Thương làm An Nam Quốc Vương
năm 1403, vẫn đem quân xâm lăng Đại Ngu, bắt gia đình Hồ Quý Ly, xóa quốc hiệu
Đại Ngu, thi hành chính sách đồng hóa triệt để.
Thành nhà Hồ tại Thanh Hóa
-Quốc hiệu “Đại Ngu” bắt nguồn từ truyền thuyết cho rằng họ Hồ là con cháu Ngu
Thuấn- một vị vua của Trung Hoa cổ đại, nổi tiếng vì đã đem lại sự bình yên và thịnh
vượng cho dân chúng. Chữ “Ngu”có nghĩa là “sự yên vui, hòa bình”. “Đại Ngu thể
hiện ước vọng của nhà Hồ về một giang sơn bình yên và rộng lớn. Trong lịch sử đã
ghi nhận những đóng góp to lớn của nhà Hồ nhằm thực hiện mong muốn này. Ngay
từ cuối thời Trần, Hồ Quý Ly đã thực hiện những cải cách sâu sắc, nhằm giải quyết
cuộc khủng hoảng của xã hội. Sau khi ông lên ngôi, đã đẩy mạnh các cuộc cải cách
này và đem lại nhiều đổi thay cho đất nước về các mặt kinh tế, văn hóa và xã hội.
Dưới quốc hiệu Đại Ngu, người Việt cũng được chứng kiến những thành tựu về khoa
bản
nói
về
Dụ
của
vua
Min
h
Mạn
g
cho
đổi
quốc
hiệu
từ
Việt
Nam
thàn
h
Đại
Nam
.
3. Trong thời cận và hiện đại, quốc hiệu thường biểu lộ thể chế chính trị hay ước
muốn chính trị của quốc gia, từ năm 1945 đến nay.
Từ năm 1945, khi phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới phát triển mạnh
mẽ thì phong trào giả phóng đất nước của Việt Nam cũng dâng trào lên mạnh mẽ với
những cuộc đấu tranh giành độc lập, tự chủ hay nhu cầu áp dụng những chủ nghĩa
mới, những hình thức chính trị mới. Cho nên từ đấy mỗi khi nắm được chính quyền
và đất nước, các nhà cầm quyền tìm cách thay đổi quốc hiệu bằng cách thêm vào
quốc hiệu Việt Nam những từ để nêu rõ đường hướng chinh trị của mình.
mình.
-Việt Nam dân chủ cộng hòa là tên nước mà chủ tịch Hồ Chí Minh và toàn Đảng mong
muốn rằng nhân dân ta có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, xây dựng nước Việt
Nam dân chủ, tiến bộ, công bằng tiến lên chủ nghĩa xã hội.
-Quốc hiệu này chỉ rõ rằng Đảng Cộng sản tuy nắm chính quyền nhưng vẫn nhờ vào sự
đoàn kết dân tộc để lôi kéo các thành phần khác trong xã hội và lãnh đạo cách mạng
đi đên thắng lợi dành độc lập cho dân tộc Việt Nam.
b. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (từ 1976 đến nay)
-Đó là lý do mà sau 30-4-1975. Việt Nam dân chủ cộng hòa nắm thực quyền trong cả
nước Việt Nam nhưng vẩn duy trì chính phủ bù nhìn Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam
và cả hai chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Cộng hòa miền nam Việt Nam
cùng xin gia nhập Liên Hiệp Quốc nhưng bị khước từ.
-Năm 1976, Hà Nội tiến hành gỉải tán chính phủ lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam,
thực hiện cuộc “hiệp thương thống nhất nước nhà về mặt nhà nước” .
-Ngày 2-7-1976, Quốc hội khóa 6 nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quyết định đổi tên
nước là cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thủ đô là Hà nội. Và quốc hiệu này
được sử dụng đến tận bây giờ.
Quốc hiệu Việt Nam trên tiền (từ năm 1976 đến nay)
Đây là Quốc hiệu mang ý nghĩa trọn vẹn vừa độc lâp, tự do, thống nhất nước
nhà và toàn vẹn lãnh thổ, đảm bảo hạnh phúc của nhân dân căn cứ vào lợi ích và
quyền hạn của công dân, đi theo hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Quốc hiệu còn có ý nghĩa thể hiện nước Việt Nam là một nước dộc lập có chủ
quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, là nước đi theo chế độ xã hội chủ nghĩa, là
một nước dân chủ, là nhà nước của dân, do dân và tất cả thuộc về nhân dân. Tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân dựa trên nền tảng của giai cấp công nhân với
nông dân và tầng lớp tria thức, xây dựng một nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Quốc hiệu Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn khẳng định Nhà nước Việt
Nam có hình thức thể chế là cộng hòa xã hội chủ nghĩa, có chế độ chính trị dân chủ,
thông nhất toàn vẹn lãnh thổ.
-Hiện nay chế độ chính trị của Việt Nam theo cơ chế: Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý,
nhân dân làm chủ thông qua Quốc hội Việt Nam. Đảm bảo tính dân chủ trong đất
nước dưới sự giám sát của Quốc hội, của Hội đồng nhân dâ, của Đảng, Tổ chức chính
trị,… nhằm quyền dân chủ thuộc về tay nhân dân.
Ví dụ: trong việc sửa đổi Hiến Pháp vừa qua tại Đại hội Đảng lần thứ XIII,
Đảng và Nhà nước đã thực hiện trưng cầu ý kiến của người dân, xem xét để đưa ra
quyết định sửa dổi phù hợp.
Hay trong hoạt động chất vấn trực tiếp của đại biểu Quốc hội với Cơ quan
quyền lực nhà nước đảm bảo quyền khiếu nại, tố cáo của người dân thể hiện tính dân
chủ rõ rệt.
2. Về mặt bản chất
Quốc hiệu “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” được thể hiện qua:
-Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của dân, do dân và vì dân. Nhà nước pháp quyền thể hiện trực tiếp sưc mạnh
của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. Đây là nhà nước đại diện
cho quyền lực chân chính của nhân dân, một nhà nước dựa trên nền dân chủ, vì dân
chủ, vì công lý. Theo điều 2 Hiến pháp 1992, “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do -nhân dân, vì
nhân dân. ”
-Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa là nhà nước pháp quyền đảm bảo quyền lực nhà
nước thống nhất từ trung ương tới địa phương, đảm bảo tam quyền phân lập: lập
pháp, hành pháp và tư pháp. Theo điều 2 Hiến pháp 1992, “Quyền lực nhà nước là
thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực
hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp."
-Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa phải đảm bảo tất cả quyền lực thuộc về tay nhân
dân, lấy liên minh giai cấp công nhân và nông dân làm và đội ngũ trí thức làm nền
tảng.
-Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa là nhà nước thống nhất của các dân tộc. Quốc gia
Việt Nam bao gồm 54 dân tộc anh em sinh sống trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, đa số
là dân tộc kinh bên cạnh còn nhiều dân tộc khác như Mông, Dao, Khơ-me, Tày,
nghĩa pháp lý quan trọng, là sự tôn trọng Hiến pháp và pháp luật.
-Quốc hiệu còn thể hiện chủ quyền của đất nước Việt Nam, theo thể chế chính trị độc
lập, dân chủ, khẳng định với các nước trên thế giới nền chính trị và thể chế của Việt
Nam theo chủ nghĩa xã hội.
-Nước cộng hào xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập tự chủ, có chủ quyền
thông nhất toàn vẹn lãnh thổ.
4. Về ngoại giao
-Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đảm bảo cho việc hòa bình hợp tác cùng phát triển
với các nước bạn. Theo điề 14 Hiến pháp “Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
thực hiện chính sách hoà bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả các
nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị và xã hội khác nhau, trên cơ sở
tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công
việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi; tăng cường tình đoàn kết hữu
nghị và quan hệ hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng; tích
cực ủng hộ và góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình,
độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.”
-Với mục đích là dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh thì chúng ta
cần sự giúp đỡ của anh em bạn bè thế giới.
5. Về tính thẩm mỹ
Bắt buộc trong các văn bản cần phải cần phải có Quốc hiệu thiếu quốc hiệu,
văn bản không chỉ thiếu tính trang trọng mà đối với những văn bản quản lý nhà nước
còn trở thành bất hợp pháp.
Quốc hiệu trên văn bản hành chính nhà nước
Hiện nay có nhiều ý kiến cho rằng nên đổi lại quốc hiệu Việt Nam thành Việt
Nam dân chủ cộng hòa cho phù hợp với Việt Nam nhưng cũng có nhiều ý kiến cho
rằng giữa nguyên tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tại Đại hội XIII
của Đảng năm 2013 đã đề cập đến vấn đề này.