PHÂN TÍCH VAI TRÒ, MỤC TIÊU, CẤU TRÚC TỔ CHỨC CỦA CÁC NHTW: RBA, ECB, BOK - Pdf 22

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT


-
MÔN NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU
PHÂN TÍCH VAI TRÒ, MỤC TIÊU, CẤU TRÚC TỔ
CHỨC CỦA CÁC NHTW: RBA, ECB, BOK
TP. Hồ Chí Minh, tháng 05 năm 2014
MỞ ĐẦU
1. Tóm tắt:
Bài nghiên cứu gồm 3 phần chính:
- Phân tích vai trò của các ngân hàng RBA, ECB, BOK và so sánh, nhân xét.
- Phân tích mục tiêu của các ngân hàng RBA, ECB, BOK và so sánh, nhân xét.
- Phân tích cấu trúc tổ chức của ngân hàng trung ương RBA, ECB, BOK và so sánh,
nhân xét.
2. Giới thiệu:
Ngân hàng trung ương không phải xuất hiện ngay khi có các hoạt động ngân hàng.
Trong giai đoạn đầu của hoạt động ngân hàng thì có rất nhiều ngân hàng phá sản, các
cuộc khủng hoảng kinh tế, tiền tệ,… Tiến trình hình thành ngân hàng trung ương diễn ra
qua hai giai đoạn: giai đoạn ngân hàng phát hành và giai đoạn biến ngân hàng này thành
ngân hàng trung ương. Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 đã buộc chính phủ các nước
phải tăng cường hơn nữa hiệu lực quản lý điều tiết vĩ mô trong nền kinh tế. Đây có thể
coi là một trong những nguyên nhân chính hình thành nên các ngân hàng trung ương từ
các ngân hàng phát hành. Việc hình thành ngân hàng trung ương không chỉ là sự thay đổi
về mặt tên gọi mà còn bao hàm cả chức năng hoạt động, vai trò, mục tiêu và cấu trúc tổ

trong việc đảm bảo ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát và sự an toàn của hệ
thống ngân hàng.
1.3. Mục tiêu của ngân hàng Trung ương:
NHTW là tổ chức chính sách công với mục tiêu chính là đảm bảo ổn định tiền tệ
và thúc đẩy sự ổn định hệ thống tài chính. Qua đây, có thể thấy có một sự đồng nhất
trong vai trò và mục tiêu chính của các ngân hàng trung ương nói chung.
1.4. Mô hình cấu trúc tổ chức:
Tùy theo điều kiện kinh tế – xã hội mỗi nước mà NHTW sẽ tổ chức theo những
mô hình khác nhau, có vị trí khác nhau trong bộ máy nhà nước, có mối quan hệ khác
nhau với Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác. Trên thực tế
đã tồn tại 3 mô hình NHTW: NHTW trực thuộc Quốc hội và độc lập với Chính phủ,
NHTW trực thuộc Chính phủ, NHTW trực thuộc Bộ Tài chính.
2. Nội dung nghiên cứu:
2.1. Phân tích vai trò của ngân hàng trung ương RBA, ECB, BOK:
 Ngân hàng dự trữ Úc (The Reserve Bank of Australia):
Ngân hàng Dự trữ Úc là ngân hàng trung ương của Úc, có trụ sở tại Sidney. Ngân hàng
được thành lập vào cuối năm 1959 cùng với Luật Ngân hàng Dự trữ, có hiệu lực vào ngày
19/01/1960. Ngân hàng Commonwealth của Úc được thành lập vào năm 1911 với chức
năng thông thường của ngân hàng thương mại và tiết kiệm. Khi mới thành lập,
Commonwealth chưa được trao chức năng ngân hàng trung ương cũng như phát hành
tiền. Năm 1924, luật ngân hàng Commmonwealth được điều chỉnh, trao trách nhiệm phát
hành tiền cho ngân hàng Commmonwealth. Từ thời điểm 1924-1945 một số điều chỉnh
tiếp theo được diễn ra, theo đó ngân hàng Commmonwealth dần tham gia các hoạt động
của một ngân hàng trung ương, hoạt động kiểm soát ngoại hối, hoạt động kiểm soát hệ
thống ngân hàng (có quyền qui định về cấp tín dụng, chính sách lãi suất, yêu cầu ngân
hàng tư nhân mở và gửi tiền đảm bảo ở tài khoản đặc biệt tại ngân hàng
Commmonwealth). Luật ngân hàng Commmonwealth và Luật ngân hàng năm 1945 đã
qui định về quyền năng của ngân hàng Commmonwealth trong điều hành chính sách tiền
tệ, ngân hàng và quản lý ngoại hối. Luật năm 1951 đưa ra một số thay đổi, thành lập hội
đồng gồm 10 thành viên, bao gồm thống đốc ngân hàng, thực hiện điều hành ngân hàng

ngân hàng cho vay (WSJ), ECB bắt đầu một hoạt động tái cấp vốn dài hạn (LTRO) vào
cuối tháng 12/2011, cung cấp $ 640.000.000.000 các khoản vay ba năm không lãi đến
523 ngân hàng EU. ECB đã ban hành chương trình LTRO để cho vay vào cuối tháng
2/2012 bằng cách cung cấp 712.000.000.000 $ đến 800 ngân hàng.
Như vậy có thể thấy, trong cuộc khủng hoảng nợ khu vực đồng Euro, ECB đã thể
hiện rõ vai trò của một ngân hàng trung ương châu Âu trong việc thực hiện các gói cứu
trợ nhằm giúp các nước trong liên minh châu Âu vượt qua khủng hoảng và phát triển bền
vững.
 Ngân hàng trung ương Hàn Quốc ( Bank of Korea):
Sau khi giải phóng Hàn Quốc 15/08/1945, nền kinh tế Hàn Quốc có nhiều xáo
trộn. Để thực hiện công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa theo mô hình Nhật Bản,
cùng với việc thúc đẩy kinh tế phát triển, hệ thống ngân hàng Hàn Quốc cũng được thành
lập. Trong đó có ngân hàng trung ương Hàn Quốc được thành lập năm 1950 và luật ngân
hàng Hàn Quốc. Ngân hàng Hàn Quốc đã được thành lập với số vốn 1,5 tỷ won thuộc
nguồn vốn chính phủ. Luật Ngân hàng của Hàn Quốc sửa đổi vào năm 1962 quy định
Ngân hàng là một pháp nhân đặc biệt không có vốn .
Mục đích chính của Ngân hàng là theo đuổi sự ổn định giá cả. Ngân hàng đặt mục
tiêu ổn định giá cả trình Chính phủ và rút ra và đưa ra các chính sách bao gồm cả chính
sách tiền tệ.
Để đảm bảo điều này, ngân hàng thực hiện các chức năng điển hình của một ngân
hàng trung ương: phát hành tiền giấy và tiền xu, xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ
và tín dụng, phục vụ như ngân hàng của các ngân hàng và ngân hàng của chính phủ.
Ngoài ra, Ngân hàng Hàn Quốc cam kết các hoạt động và giám sát các hệ thống thanh
toán, quyết toán và quản lý dự trữ ngoại hối của quốc gia. Nó cũng tiến hành chức năng
giám sát cho các tổ chức tài chính theo quy định của luật ngân hàng Hàn Quốc.
Vai trò của ngân hàng trung ương Hàn Quốc được thể hiện rõ trong cuộc khủng
hoảng tài chính 1997-1998. Khi Hàn Quốc phải gánh một khoản nợ nước ngoài khổng lồ.
BOK tập trung vào chính sách tiền tệ mà tâm điểm là chính sách lãi suất và tỷ giá. Với
chiến dịch huy động vàng, chính phủ đã nhận được 227 tấn vàng trị giá 2.2 tỷ USD từ 3.5
triệu người dân Hàn Quốc. Chính sách tiền tệ với việc bơm 3.6 tỷ USD vào hệ thống

Quốc, mục tiêu hàng đầu của ngân hàng này là theo đuổi việc ổn định giá cả nhằm
hướng đến phát triển bền vững nền kinh tế quốc gia. Với mục tiêu là ổn định giá cả, BOK
định hướng kiểm soát lạm phát với mục tiêu giữ lạm phát ở mức thấp dao động ở 3%.
Bên cạnh đó, Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc cũng theo đuổi mục tiêu ổn định
hệ thống tài chính thông qua thực hiện các chức năng cơ bản của ngân hàng trung ương
như phát hành tiền, kiểm soát chính sách tín dụng, vận hành và quản lý hệ thông thanh
khoản, quản lý ngoại tệ, người cho vay cuối cùng và giám sát các ngân hàng trong hệ
thống.
Ngân hàng dự trữ Australia (RBA) được thành lập vào năm 1959, trong cùng giai
đoạn với BOK. Trong giai đoạn này, giá trị của đồng đô la Úc được gắn liền với đồng
bảng Anh, do đó tình trạng lạm phát ở Úc gia tăng cao do bị ảnh hưởng bởi việc lạm
phát ở Anh xảy ra sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Dự
trữ được thành lập và đảm nhận chức năng ngân hàng trung ương Úc và coi việc ổn định
giá trị tiền tệ là mục tiêu chính.
Bên cạnh đó, RBA cũng đảm nhận vai trò điều tiết hệ thống tài chính. Tuy nhiên,
từ những năm 1970, hệ thống tài chính Úc bắt đầu chịu ảnh hưởng của những khó khăn
lớn. Công ty chứng khoán Mineral phá sản năm 1971, đánh dấu sự hoảng loạn nghiêm
trọng nhất trong lịch sử nước Úc từ năm 1893. Năm 1974 tổ chức tín dụng Cambridge và
Mainline phá sản. Năm 1977 đột biến rút tiền và hoảng loạn xẩy ra ở Hiệp hội xây dựng
tại miền Nam Úc, Queensland và một số trường hợp nghiêm trọng khác (Trevor, 1998).
Vì vậy, nghị quyết của Ủy ban Wallis, có hiệu lực năm 1998, quyết định chuyển điều tiết
hoạt động ngân hàng từ Ngân hàng dự trữ sang Tổ chức điều tiết thận trọng Úc (APRA)
(RBA, 2011). Đây là điểm khác biệt của mô hình ngân hàng trung ương tại Australia với
mô hình trung ương tại các nước khác khi mục tiêu điểu tiết để ổn định hệ thống tài chính
được giao cho một cơ quan khác. Và cũng với đặc thù này, ngân hàng dự trữ Úc cũng
thực hiện các mục tiêu khác liên quan với mục tiêu ổn định giá cả là tạo việc làm, tăng
trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội.
Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) được thành lập ngày 1/06/1998, có tư cách
pháp nhân và hưởng quyền độc lập hoàn toàn đối với các thể chế quốc gia cũng như cộng
đồng chung. Theo Hiệp ước Maastricht thì mục tiêu chính của ECB là ổn định giá cả

Hình 1: Cấu trúc tổ chức của NHTW Hàn Quốc
Nguồn: Website NHTW Hàn Quốc:
Tóm lại, điểm đặc trưng của bộ máy hoạt động BOK là quyền lực được tập trung
vào Ủy ban chính sách tiền tệ. Tất cả hoạt động chính yếu đều được quyết định sau cuộc
họp của Ủy ban này. Hơn nữa, ủy ban không những bao gồm những quan chức thuộc
quản trị tài chính mà còn đại diện cho nhiều nhóm khác nhau của nền kinh tế như đại
diện của Bộ tài chính, Phòng thương mại và công nghiệp, Hiệp hội ngân hàng Hàn
Quốc, Điều này không những tạo sự khác biệt trong cấu trúc tổ chức của BOK so với
các quốc gia khác mà còn là bước đệm cho những chính sách tiền tệ phù hợp với tổng thể
nền kinh tế quốc gia trên phương diện của các thành phần kinh tế khác.
 Cấu trúc tổ chức của NH dự trữ Úc (RBA)
Ngân hàng này có sự phân biệt rõ ràng giữa cấu trúc quản lý và cấu trúc hoạt
động để duy trì những mục tiêu và nhiệm vụ đã đề ra. Về cấu trúc quản lý khá chặt chẽ
với bốn Hội đồng và nhiều Ủy ban hỗ trợ với sự phân quyền rõ ràng giữa nhiệm vụ của
mỗi Hội đồng, Ủy ban, cụ thể là:
 Hội đồng quản trị ngân hàng Dự trữ
Hội đồng quản trị Ngân hàng Dự trữ chịu trách nhiệm về chính sách tiền tệ và
chính sách ngân hàng, ngoại trừ chính sách về hệ thống thanh toán của mình. Thống
đốc vừa là giám đốc điều hành của Ngân hàng Dự trữ vừa là chủ tịch hội đồng này.
 Hội đồng hệ thống thanh toán
Chịu trách nhiệm đối với chính sách hệ thống thanh toán. Thống đốc cũng là
Chủ tịch. Trợ lý Thống đốc là Phó Chủ tịch .
 Ủy ban kiểm toán
Ủy ban Kiểm toán là một ủy ban của Hội đồng quản trị Ngân hàng Dự trữ .
Thành viên của nó bao gồm hai thành viên không điều hành của Hội đồng quản trị Ngân
hàng Dự trữ và hai thành viên bên ngoài.
 Ban chấp hành
Ban chấp hành là Ủy ban ra quyết định quan trọng của Ngân hàng về các vấn đề
có tính chất hành chính và quản lý có chiến lược. Vai trò của nó là để hỗ trợ và hỗ trợ của
Thống đốc trong việc thực hiện trách nhiệm của mình theo Đạo Luật Ngân hàng Dự trữ

Hiệp ước.
Hình 2: Cấu trúc tổ chức của NHTW Châu Âu (ECB)
Nguồn: Website NHTW châu Âu
Các lĩnh vực kinh doanh cốt lõi được thể hiện trong cấu trúc hoạt động của ECB,
bao gồm các lĩnh vực được phân quyền rõ ràng cho các bộ phận như bộ phận quản lý tiền
giấy, bộ phận đảm nhiệm việc quản lý rủi ro, hay bộ phận duy trì mối quan hệ giữa các
quốc gia trong khối EU và với các quốc gia ngoài khối, … Điểm đặc trưng trong cấu trúc
hoạt động của ECB là nhiệm vụ của ban chấp hành chỉ là quản lý chung và đảm bảo thực
thi chính sách tiền tệ của khối EU. Do đó, các phòng ban phân theo lĩnh vực cung cấp
dịch vụ chính là những bộ phận độc lập xử lý các nghiệp vụ và đảm bảo hoạt động cho
toàn bộ ECB.
3. Kết quả và đề nghị:
Bài nghiên cứu đã đạt được tất cả các mục tiêu đề ra. Nhóm phân tích đã dựa trên
cơ sở lý thuyết để làm rõ, phân tích vai trò, mục tiêu và cấu trúc tổ chức của các ngân
hàng trung ương RBA, ECB, BOK.

KẾT LUẬN
Vai trò, chức năng, mục tiêu cũng như cấu trúc tổ chức của một ngân hàng trung
ương ở một quốc gia hoặc tổ chức có ảnh hưởng rất lớn đến việc đưa ra các chính sách
tiền tệ, tài chính, ngoại hối, lãi suất,… của quốc gia, tổ chức đó. Ngân hàng trung ương
có vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường và kinh tế thế giới.
Trên cơ sở đó, bài nghiên cứu tập trung đi sâu vào phân tích vai trò, mục tiêu, cấu
trúc tổ chức của các ngân hàng trung ương RBA, ECB, BOK có thể thấy được tầm quan
trọng của ngân hàng trung ương trong hệ thống ngân hàng cũng như trong nền kinh tế
của Australia, Hàn Quốc và EU và nêu ra một số kiến nghị. Có thế thấy, vai trò của ngân
hàng trung ương là rất to lớn trong các cuộc khủng hoảng tiền tệ tại Hàn Quốc hay cuộc
khủng hoảng nợ trong khối đồng tiền chung châu Âu. Mục tiêu của ngân hàng trung ương
sẽ giúp chính phủ và các quốc gia có định hướng đúng đắn trong việc đưa ra các chính
sách và phương hướng phát triển kinh tế.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status