1
PHÂN TÍCH VAI TRÒ, MỤC TIÊU, CẤU TRÚC TỔ CHỨC CỦA CÁC NGÂN
HÀNG TRUNG ƯƠNG: FED, BOC, BOJ
Tóm tắt
Ngân hàng trung ương có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động kinh tế của các nước
trên thế giới. Hoạt động của Ngân hàng trung ương ảnh hưởng tới lãi suất, các khoản
tín dụng và việc cung cấp tiền tệ, tất cả không chỉ tác động trực tiếp đến thị trường tài
chính mà còn tác động đến tổng sản lượng quốc gia, lạm phát. Trong bài tiểu luận của
nhóm, nhóm sẽ phân tích vai trò, mục tiêu, chức năng và cấu trúc tổ chức của ba ngân
hàng là: ngân hàng trung ương của Mỹ (FED), ngân hàng trung ương Canada (BOC),
ngân hàng trung ương Nhật Bản (BOJ). Kết hợp với việc phân tích mỗi ngân hàng,
nhóm sẽ so sánh để đưa ra kết luận về sự cần thiết của ngân hàng trung ương.
Mục đích nghiên cứu
Ở bất kỳ quốc gia nào thì vai trò của ngân hàng trung ương đều rất quan trọng trong
việc đảm bảo ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát và giữ sự an toàn của hệ
thống ngân hàng. Thông qua cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, chúng ta đã thấy
được vai trò của ngân hàng trung ương đối với hệ thống ngân hàng và nền kinh tế của
các quốc gia trên thế giới. Nhờ có ngân hàng trung ương với quyền hạn và chức năng
đặc biệt của mình trong việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ mà các ngân hàng
thương mại có thể được giải cứu khỏi tình trạng phá sản hay để các ngân hàng thương
mại phá sản nếu hoạt động của nó không còn hiệu quả nữa, nhằm duy trì được tính
thanh khoản cho toàn bộ hệ thống tài chính. Do đó, việc nghiên cứu về ngân hàng trung
ương ở các nước, đưa ra các điểm giống và khác nhau để có thể đưa ra những nhận định
về hệ thống ngân hàng trung ương thế giới, cách thức hoạt động của các ngân hàng
trung ương.
Câu hỏi nghiên cứu
- Vai trò của FED, BOC, BOJ là gì đối với nền kinh tế của mỗi nước?
- Mục tiêu, chức năng của FED, BOC, BOJ là gì?
- Để hiểu về vai trò, mục tiêu, chức năng của các ngân hàng trung ương trong hệ thống
tài chính và toàn bộ nền kinh tế thì cần phải hiểu về cấu trúc hoạt động của nó. Ai là
người kiểm soát và quyết định hoạt động của FED, BOC, BOJ? Ai là người thực hiện
- Làm ngân hàng cho các ngân hàng thương mại,
- Thống kê và phân tích tình hình kinh tế, tài chính, tiền tệ,
- Chức năng phát triển,
- Một số chức năng khác: NHTW còn chịu trách nhiệm in và phát hành đồng
tiền quốc gia, cung cấp dịch vụ thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng thương mại, cung
cấp dịch vụ thanh toán cho Chính phủ
1.3 Cấu trúc tổ chức của NHTW
1.3.1 Mô hình tổ chức của NHTW
- Khi nói tới mô hình tổ chức của NHTW ở các quốc gia thì cần phải vị trí pháp
lý của tổ chức này trong bộ máy công quyền. Tùy theo điều kiện kinh tế- xã hội mỗi nước
mà NHTW sẽ tổ chức theo những mô hình khác nhau, có vị trí khác nhau trong bộ máy
3
nhà nước, có mối quan hệ khác nhau trong Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền khác.
- Hiện nay, trên thế giới đang tồn tại ba mô hình NHTW: NHTW độc lập với
Chính phủ, NHTW trực thuộc Chính phủ, NHTW trực thuộc Bộ tài chính. Nếu xét theo
nguồn vốn thì có các NHTW: NHTW do tư nhân làm chủ không có vốn nhà nước,
NHTW trong đó có cả vốn của nhà nước và tư nhân, NHTW thuộc sở hữu của nhà nước
100%.
1.3.2 Hoạt động của NHTW
- Dù NHTW thuộc mô hình tổ chức nào thì hoạt động của chúng đều có điểm
giống nhau đó là quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng và hoạt động nhằm ổn định
giá, đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng và tăng trưởng kinh tế thông qua các hoạt
động: phát hành tiền, xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ quốc gia, giám sát hoạt động
của các ngân hàng thương mại. Các hoạt động này đều có vai trò quan trọng quyết định
với sự ổn định và an toàn của hệ thống ngân hàng trong một quốc gia.
- Mức độ độc lập trong hoạt động của NHTW được xác định tùy thuộc vào mô
hình tổ chức của NHTW và trình độ phát triển nền kinh tế thị trường ở mỗi quốc gia.
-Mức độ độc lập được phân thành bốn cấp độ:
+ Cấp độ 1: độc lập, tự chủ trong việc thiết lập mục tiêu hoạt động
rút tiền ra khỏi Ngân hàng và giữ tiền mặt ngay tại nhà. Cảm nhận được viễn cảnh sụp
đổ, nhiều Ngân hàng tuyên bố nghỉ khẩn cấp, những ngân hàng còn hoạt động thì hạn chế
rút tiền. Lãi suất tăng vọt lên tới 125%.
Nước Mỹ thành lập một hội đồng có tên Ủy ban tiền tệ quốc gia (NMC) có nhiệm
vụ thảo luận về cách vận hành thị trường tiền tệ Mỹ. Sau 4 năm kiểm nghiệm các bằng
chứng từ khắp thế giới để tìm ra cách tái định hình thị trường tiền tệ tối ưu nhất. NMC
đưa ra kết luận ngân hàng đóng vai trò là người cho vay cuối cùng là điều cần thiết. Kết
quả là năm 1913, FED ra đời.
BOJ
Nhật Bản thời kỳ Tokugawa mặc dù là một nước nông nghiệp song lại có nền kinh
tế hàng hóa phát triển tương đối rộng khắp. Thay vì một nền nông nghiệp để sống thuần
túy, việc sản xuất cho thị truờng đã dần dần trở thành tiêu chuẩn cho dân chúng làm nông
nghiệp. Các thuơng nhân không chỉ buôn bán mà còn tiến hành các dịch vụ tài chính như
tín dụng và các hoạt động đầu tư sản xuất. Sự tích lũy tư bản tăng lên nhanh chóng, hoạt
động tiền tệ, tín dụng phát triển mạnh. Những hình thức sơ khai của Ngân hàng đã ra đời.
Năm 1868, sau chiến tranh Boshin, Thiên Hoàng Minh Trị tiến hành cuộc Minh Trị Duy
Tân, mở ra kỷ nguyên hiện đại hóa đất nước. Cuộc khôi phục hoàng quyền vào thời Minh
Trị là một cuộc thay đổi chính trị rất lớn trong lịch sử Nhật Bản; đưa đất nước từ hình
thái bế quan tỏa cảng thời Mạc phủ Togukawa tiếp cận với những tư tuởng tiến bộ của
phương Tây. Chính phủ coi công nghiệp là một trong những trụ cột của một quốc gia
hiện đại và vì vậy đã đề ra nhiều chính sách phát triển công nghiệp. Năm 1882 Ngân
hàng Trung ương Nhật Bản được thành lập theo mô hình của Ngân hàng quốc gia Bỉ là
5
một công ty cổ phần mà vốn nhà nước ban đầu chỉ là 55 triệu yên. Với vai trò phát hành
tiền và kiểm soát tiền tệ.
BOC
Năm 1817, Ngân hàng Montreal được thành lập, trở thành Ngân hàng đầu tiên của
Canada. Đến năm 1867, có 28 Ngân hàng hoạt động ở Canada. Hiến pháp năm 1867
(hiến pháp năm 1867 tuyên bố Canada là một nước tự trị) đã đưa Chính phủ tự trị mới có
được mức kiểm soát cao hơn đối với ngân hàng và tiền tệ. Hơn thế nữa, việc thành lập
dự trữ liên bang Mỹ; FED có nhiệm vụ thực thi chính sách tiền tệ quốc gia để duy trì mức
việc làm, giá cả ổn định và lãi suất trung bình; giám sát và quản lý các thể chế ngân hàng
để đảm bảo đó là những nơi an toàn để gởi tiền và để bảo vệ quyền lợi tín dụng của nguời
dân; duy trì sự ổn định của nền kinh tế và kiềm chế các rủi ro hệ thống có thể phát sinh
trên thị trường tài chính; cung cấp các dịch vụ tài chính cho các tổ chức quản lý tài sản có
giá trị, các tổ chức chính thức nước ngoài và chính phủ Hoa Kỳ, đóng vai trò chủ chốt
trong vận hành hệ thống chi trả quốc gia.
Đối với BOJ, mục tiêu chính của nó đầu tiên là để duy trì ổn định giá cả trong hành
vi của chính sách tiền tệ; thứ hai là để đảm bảo cho hoạt động của hệ thống Ngân hàng
diễn ra trơn tru, ổn định và giải quyết thông qua các biện pháp như là người cho vay cuối
cùng. Từ các mục tiêu đó, luật BOJ quy định về nhiệm vụ và hoạt động mà Ngân hàng
cần phải tiến hành: Đảm bảo và quản lý tiền tệ; Quản lý chính sách tiền tệ; Cung cấp các
dịch vụ thanh toán và đảm bảo sự ổn định của hệ thống tài chính; Đảm bảo các hoạt động
cho Chính phủ và kho bạc; Lập dữ liệu, nghiên cứu và phân tích các hoạt động kinh tế.
Về phía BOC, nhiệm vụ của Ngân hàng Canada được xác định trong Luật Ngân
hàng với nội dung: Mong muốn thiết lập một Ngân hàng trung ương ở Canada để điều
chỉnh tín dụng, tiền tệ nhằm đem đến lợi ích tốt nhất cho đời sống kinh tế của đất nước;
để kiểm soát và bảo vệ giá trị đồng tiền, để giảm thiểu sự tác động của nó đến sản xuất,
giá cả và việc làm; để thúc đẩy phúc lợi về kinh tế tài chính của Canada. Dựa trên những
tuyên bố đó; BOC tập trung thực hiện mục tiêu duy trì một tỷ lệ lạm phát thấp, ổn định và
dự đoán được; ổn định tỉ giá và một hệ thống tài chính ổn định hiệu quả.
FED, BOJ, BOC tuy theo đuổi những mục tiêu với thứ tự ưu tiên khác nhau nhưng
tựu chung lại, những mục tiêu trên đều hướng đến một điều là mang lại sự ổn định trong
giá cả và đảm bảo an toàn cho hệ thống tài chính.
Chính sách tiền tệ qua các giai đoạn
FED
Trước khi diễn ra đại suy thoái; mùa hè năm 1927 FED thực hiện chính sách tiền tệ
nới lỏng mà cụ thể là FED đã mua vào 80 triệu đô la trái phiếu Mỹ trong vòng 8 tháng;
7
cục dự trữ liên bang Mỹ hạ lãi suất chiết khấu từ 4 xuống 3,5%, cho các Ngân hàng thành
nghiệp gia tăng đáng kể tại Canada.
Năm 2013, phần lớn kinh tế Canada đã ổn định, song
8
quốc gia vẫn gặp khó khăn do tăng trưởng thấp, tính nhạy cảm với cuộc khủng hoảng
Eurozone và tỷ lệ thất nghiệp cao hơn bình thường. Thống đốc Ngân hàng trung ương
Canada cho biết việc duy trì một mức lãi suất thấp là cần thiết để giúp ngăn chặn nguy cơ
giảm phát, nhân tố có thể gây ra một hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế Canada.
Thống đốc BOC Stephen Poloz cho hay chính sách tiền tệ hiện nay của ngân hàng này là
nhằm mục đích chống lại nguy cơ lạm phát giảm hơn nữa so với mục tiêu. Theo ông
Poloz, tình trạng giảm phát có thể sẽ tiếp tục kéo dài trong vài năm nữa, trước khi quay
trở lại mục tiêu 2% do BOC đặt ra và một chính sách tiền tệ phù hợp là rất cần thiết.
Trong đánh giá chính sách tiền tệ mới nhất của BOC, ngân hàng này dự báo nền kinh tế
của Canada sẽ đạt mức tăng trưởng 2,3% trong năm nay (2014) và 2,6% trong năm 2015.
Lạm phát có thể sẽ được kiểm soát và quay trở lại với mục tiêu 2% vào cuối năm 2015.
Qua cách phản ứng của Ngân hàng trung ương các nước đối với các giai đoạn ta có
thể nhận thấy vai trò rất quan trọng trong việc điều hành kinh tế của nó. Nếu NHTW thực
hiện các chính sách nhằm thực hiện các mục tiêu cá nhân (khủng hoảng 1930 nổ ra ở Mỹ)
hay các chính sách không hiệu quả (Thập kỷ mất mát ở Nhật Bản) sẽ đưa nền kinh tế rơi
vào tình trạng khủng hoảng. Mặt khác, nếu có được chính sách hợp lý, thận trọng (chính
sách tiền tệ của Canada) sẽ giúp cho nền kinh tế dẫn phục hồi và lấy lại mục tiêu tăng
trưởng.
2.3 Cấu trúc tổ chức
Mô hình hoạt động của FED, BOC, BOJ
FED
9
Hình 1: Mô hình hoạt động của FED
BOC
Hội đồng quản trị
đầu ngân
hàng
trung
ương
- Tại FED là Hội đồng
thống đốc bao gồm 7
thành viên do Tổng
thống bổ nhiệm và
Thương viện phê
chuẩn.
- Tại BOC là hội đồng
quản trị gồm 14 thành
viên và được sự chấp
thuận bởi Chính phủ.
Tuy nhiên Bộ trưởng
bộ tài chính không có
quyền bỏ phiếu cho các
thành viên trong hội
đồng
- Tại BOJ là Hội đồng
chính sách bao gồm 9
thành viên được bổ nhiệm
nội các, phụ thuộc vào sự
chấp nhận của Thượng
viện và Hạ viện
11
Nhiệm
kỳ của
hội đồng
- Mỗi thành viên có
- Nhiệm kỳ của Thống
đốc và phó Thống đốc
là 7 năm.
- Các giám đốc được
bổ nhiệm bởi bộ trường
bộ tài chính với sự
chấp thuận của nội các,
nhiệm kỳ 3 năm.
- Các thành viên hội đồng
sẽ có nhiệm kỳ là 5 năm.
12
Tổ chức
hoạt
động
- Có thể nói cấu trúc
của Fed rất khác biệt so
với các NHTW khác. Ở
Fed tồn tại 4 cấp: Hội
đồng Thống đốc, Ủy
ban Thị trường mờ
(FOMC), 12 ngân hàng
chi nhánh và các ngân
hàng thành viên khác
nhỏ hơn.
- Hội đồng Thống đốc
là bộ phận chịu trách
nhiệm về phần lớn các
chính sách tiền tệ.
- Cấp tiếp theo là
FOMC. FOMC thực
ra quyết định cuối cùng
13
Vị thế
chính trị
và vị thế
pháp lý
- FED có vị thế chính
trị rất cao tại Mỹ. Cùng
với thời gian, FED đã
tích lũy được một tài
sản vô giá đối với việc
điểu hành kinh tế vĩ
mô, đó là niềm tin thị
trường. Vì vậy mỗi lời
phát biểu của FED đều
có tác động to lớn tới
nền kinh tế vĩ mô và thị
trường tài chính tới gần
như mọi mặt của đời
sống kinh tế Mỹ. -
Vị thế pháp lý thì FED
là một ngân hàng tư
nhân và không thành
lập dựa trên đạo luật
nào của Mỹ.
- BOC có vị thế chính
trị thấp hơn so với FED
vì Bộ trưởng bộ tài
chinh vẫn có thể ban
hành chỉ thị cho BOC
55% vốn nhà nước và còn
lại là tư nhân góp vào.
Bộ phận
ra quyết
định
chính
sách tiền
tệ
- Ủy ban thị trường mở
liên bang
- FOMC, bao gồm 12
thành viên: 7 thành
viên của Hội đồng
thống đốc, Chủ tịch
Ngân hàng dự trữ liên
bang tại NewYork, và 4
chủ tịch luân phiên của
11 Ngân hàng Dự trữ
liên bang còn lại
- Hội đồng cấp cao, nó
bao gồm Thống đốc,
Phó Thống đốc, và 4
giám đốc độc lập. Nó
có vai trò tương đương
với FOMC trong việc
ra các quyết định về
chính sách tiền tệ.
- Hội đồng chính sách
14
Trách
hàng về các chính sách
tiền tệ, hệ thống tài
chính. BOC còn cung
cấp các mục tiêu và
định hướng chính sách
của ngân hàng trong
một vài năm kế tiếp.
- Thông báo ngay lập tức
sau khi cuộc họp về chính
sách tiền tệ
- Tổ chức họp báo (lịch
trình vào lúc 3h30 chiều)
- Sau đó là công bố rộng
rãi tới công chúng (thông
thường là trong 1 tháng
sau đó, kể từ 3 ngày sau
cuộc họp về chính sách
tiền tệ)
- Công bố báo cáo hàng
tháng của Hội đồng chính
sách - Báo cáo
thường kỳ nửa năm 1 lần
cho quốc hội
Thực thi
các
chính
sách tiền
tệ
- Tập trung (tổ chức
thực hiện bởi FED)
đưa ra mục tiêu độc lập
cho BOJ. Trong các cuộc
họp, chính phủ có thể cử
hai đại diện của mình tới
tham dự nhưng họ không
có quyền biểu quyết, mặc
dù họ có quyền yêu cầu
trì hoãn các quyết định về
chính sách tiền tệ.
- Bộ Tài chính cũng mất
đi quyền lực của mình
trong việc giám sát nhiều
hoạt động của BOJ, đặc
biệt là việc từ bỏ các quan
chức cấp cao.
- Tuy nhiên, Bộ tài chính
vẫn có thể kiểm soát một
phần ngân sách của Ngân
hàng mà không liên quan
đến chính sách tiền tệ,
điều này làm giới hạn sự
độc lập của BOJ ở một
mức độ nào đó.
- BOJ còn có sự độc lập
về nhân sự khi mà các
nhân viên trong văn
phòng hội đồng đều do
Thống đốc và Phó thống
đốc tuyển chọn
16