tăng cường hiệu quả hoạt động thu BHXH ở thành phố Hải Dương - Pdf 22

LI M U
BHXH là một chính sách xã hội lớn của mỗi quốc gia, bất kể quốc gia đó có
thể chế chính trị nh thế nào và theo định hớng gì (thị trờng hay kế hoạch). Chính sách
BHXH đợc xây dựng nhằm bảo vệ, trớc hết cho một lực lợng lao động đông đảo trong
xã hội, đó là những ngời làm công ăn lơng, trớc những sự kiện, những rủi ro xã hội,
dẫn đến làm giảm hoặc mất thu nhập từ nghề nghiệp. Tiếp đến là sự mở rộng phạm vi
áp dụng cho những nhóm đối tợng khác, khi điều kiện kinh tế-xã hội cho phép và đa
số các nớc đang thực hiện theo xu hớng này. Đây chính là tính nhân văn khách quan
của BHXH, là nền tảng cho sự ổn định và phát triển xã hội. Kinh tế của mỗi quốc gia
chỉ có thể tăng trởng một cách bền vững khi ngời dân đợc phân phối công bằng, khi
ngời dân đợc thụ hởng các thành quả của kinh tế. BHXH chính là một kênh quan
trọng tạo ra sự công bằng này.
Một trong những công tác quan trọng đảm bảo tài chính cho quỹ BHXH là vấn
đề thu BHXH. Xuất phát từ nhận thức trên nên trong quá trình thực tập tại BHXH TP
Hải Dơng em đã chọn đề tài: Thu bảo hiểm xã hội và một số giải pháp nhằm
tăng cờng hiệu quả hoạt động thu BHXH thành phố Hải Dơng.
Bài viết của em gồm 3 chơng:
Chơng I: Tổng quan về BHXH và vai trò của công tác thu BHXH
Chơng II: Thực trạng công tác thu BHXH thành phố Hải Dơng
Chơng III: Một số giải pháp nhằm tăng cờng hiệu quả hoạt động thu BHXH
thành phố Hải Dơng.
1
CHƯƠNG i
TổNG QUAN Về BHXH Và CÔNG TáC THU BHXH
I. TổNG QUAN Về BHXH.
1. Sự ra đời và phát triển của BHXH.
1.1 Sự ra đời và phát triển của BHXH trên thế giới.
Bảo hiểm xã hội đã có lịch sử hàng trăm năm mà hình thức sơ khai của nó là bắt
nguồn từ Nam Âu vào thế kỷ thứ XIII khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hoá đã bắt
đầu phát triển. Tuy nhiên hệ thống BHXH thực sự đầu tiên ra đời tại Cộng hoà liên
bang Đức (1850) bằng việc thủ tớng Đức Bismark đã ban hành đạo luật BHXH đầu

Căn cứ vào kinh nghiệm thực hiện nghị định 43/CP từ trớc đến nay, cơ chế
BHXH đã đợc chế định thành một chơng trong Bộ Luật lao động thông qua ngày
23/06/1994. Đợc cụ thể hoá trong Điều lệ BHXH mới kèm theo Nghị định 12/CP
ngày 26/01/1995 và Nghị định 19/CP ngày 16/02/1995 về việc thành lập BHXH Việt
Nam.
2. Đối tợng tham gia BHXH
Đối tợng áp dụng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại khoản 1. Điều 1
nghị định số 01/2003/NĐ-CP (NĐ số 01/CP bổ xung 1 số điều của NĐ số 12/CP ngày
26/01/1995) gồm:
* Ngời lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở
lên và hợp đồng lao động không xác định thời hạn trong các doanh nghiệp, cơ quan,
tổ chức sau:
- Doanh nghiệp thành lập hoạt động theo luật doanh nghiệp nhà nớc, bao gồm:
doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp hoạt động công ích;
doanh nghiệp thuộc lực lợng vũ trang;
- Doanh nghiệp thành lập hoạt động theo luật doanh nghiệp, bao gồm: công ty
trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp t nhân;
- Doanh nghiệp thành lập hoạt động theo Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam, bao
gồm: doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu t nớc ngoài;
3
- Doanh nghiệp thuộc các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;
- Hộ sản xuất, kinh doanh cá thể, tổ hợp tác;
- Các cơ quan hành chính, sự nghiệp, tổ chức xã hội khác, lực lợng vũ trang; kể cả
các tổ chức, đơn vị đợc phép hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thuộc cơ quan
hành chính, sự nghiệp, Đảng, đoàn thể. Các hội quần chúng tự trang trải về tài chính;
- Cơ sở bán công, dân lập, t nhân thuộc các ngành văn hoá, y tế, giáo dục, đào tạo,
khoa học, thể dục thể thao và các ngành sự nghiệp khác;
- Trạm y tế xã phờng, thị trấn;
- Cơ quan, tổ chức nớc ngoài hoặc tổ chức quốc tế tại Việt Nam, trừ trờng hợp
điều ớc quốc tế mà cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy

BHXH góp phần ổn định xã hội, tạo điều kiện phát triển kinh tế. Thực hiện BHXH sẽ
hình thành quỹ tiền tệ tập trung có thể đầu t một phần vào các hoạt động kinh tế để
sinh lời, tăng nguồn thu cho quỹ BHXH. Do việc chi trả không phải lúc nào cũng
diễn ra thờng xuyên, cho nên Nhà nớc có thể đầu t trở lại để bảo toàn quỹ. Mặt khác,
BHXH giúp cho Nhà nớc điều tiết và phân phối lại thu nhập giữa những ngời tham
gia BHXH. Nh vậy tổ chức thực hiện bảo hiểm xã hội đa lại lợi ích cho cả ba bên:
Ngời lao động, chủ sử dụng lao động, Nhà nớc và xã hội.
Cùng với sự phát triển xã hội, BHXH ngày càng trở thành một nhu cầu thờng
xuyên, tự nhiên, chính đáng của ngời lao động. Nó cần phải đợc đáp ứng hàng loạt
nhu cầu thiết yếu khác của con ngời. Là một bộ phận cấu thành trong hệ thống chính
sách kinh tế xã hội mà còn mang ý nghĩa kinh tế - chính trị to lớn. Tính kinh tế thể
hiện BHXH phải cân đối đợc nguồn Thu - Chi một cách hợp lý và phải bảo tồn và
phát triển đợc nguồn quỹ. Bảo hiểm xã hội có ý nghĩa chính trị bởi thông qua đó tính
u việt, trình độ văn minh của một thể chế chính trị của một quốc gia, của một Nhà n-
ớc đợc thể hiện. Ngoài ra BHXH còn mang tính nhân đạo, tính nhân văn cao cả, tính
cộng đồng, nó thực hiện theo quy luật lấy số đông bù cho số ít, tức là lấy sự đóng
góp nhỏ của số đông chu cấp cho số ít mà vì lý do nào đó ( bị ốm đau, tai nạn lao
5
động, bệnh nghề nghiệp...) mà họ bị giảm đi hoặc mất 1 phần thu nhập hay gặp rủi ro
trong cuộc sống bình thờng.
Vai trò của BHXH trong nền kinh tế còn đợc thể hiện:
- Đối với ngời lao động tạo tâm lý ổn định, yên tâm hơn trong sản xuất, làm cho
năng suất lao động của cá nhân và xã hội không ngừng tăng lên.
- Đối với giới chủ mạnh dạn mở rộng quy mô sản xuất, thuê mớn nhân công từ đó
làm cho sản xuất của họ phát triển...
- Bảo hiểm xã hội góp phần phát triển và tăng trởng kinh tế cho đất nớc, do quỹ
BHXH khi ở thời kỳ nhàn rỗi đầu t lại cho sản xuất, góp phần đáng kể cho việc phát
triển nền kinh tế của Nhà nớc.
4. Phân biệt BHXH với BH thơng mại.
Điểm giống nhau:

Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 9 khoá XI (từ ngày 16/05 29/06/2009) gắn với
5 chế độ BHXH. Phạm vi BHTM gắn với các hệ thống quy tắc trong từng nghiệp vụ.
- Phí bảo hiểm: Phí BHXH đợc xác định bằng nguyên tắc dựa trên cơ sở tiền lơng,
tiền công và quỹ lơng. Phí BHTM đợc xác định chính xác bằng số tuyệt đối dựa trên
cơ sở số tiền bảo hiểm, giá trị bảo hiểm, hạn mức trách nhiệm.
- Cơ sở quản lý và tổ chức thực hiện: BHXH cơ quan quản lý Nhà nớc là Bộ Lao
động và Thơng binh xã hội, quản lý sự nghiệp là Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Đối với
BHTM cơ quan quản lý Nhà nớc là Bộ tài chính, đơn vị thực hiện là bản thân các
công ty bảo hiểm.
II. MộT Số VấN Đề Về Quỹ BHXH
1. Khái niệm quỹ BHXH
Trong đời sống kinh tế-xã hội, ngời ta thờng nói đến nhiều loại quỹ khác nhau
nh: quỹ tiêu dùng, quỹ sản xuất, quỹ dự phòng, quỹ tiền lơng, quỹ tiền thởng, quỹ
phúc lợi, quỹ tiết kiệm...Tất cả các loại quỹ này đều có một điểm chung là tập hợp
các phơng tiện tài chính hay vật chất khác cho những hoạt động nào đó theo mục tiêu
định trớc với những quy định/quy chế nhất định. Quỹ lớn hay nhỏ biểu thị khả năng
về mặt phơng tiện và vật chất để thực hiện mục tiêu đề ra.
7
Tất cả các loại quỹ đều không tồn tại với chỉ một khối lợng tĩnh tại một thời điểm
mà còn luôn luôn biến động theo hớng tăng lên ở các đầu vào với các nguồn thu và
giảm đi ở đầu ra với các khoản chi nh một dòng chảy liên tục. Có thể hình dung quỹ
nh một bể chứa nớc, trong đó đầu vào có nớc luôn chảy để nớc trong bể luôn chảy để
nớc trong bể ngày càng nhiều lên còn đầu ra là quá trình sử dụng nớc làm cho nớc
trong bể vơi dần đi. Để bảo đảm cho đầu ra ổn định, ngời ta thiết lập một lợng dự trữ.
Tơng tự nh với bể nớc, đầu vào phải có nhiều hơn đầu ra thì trong bể mới luôn luôn
có nớc. Bởi vậy, để quản lý và điều hành đợc một quỹ nào đó thì không phải chỉ quản
lý đợc khối lợng tĩnh của nó tại một thời điểm, mà quan trọng hơn là phải quản lý đợc
lu lợng của nó trong một khoảng thời gian nhất định. Tơng tự nh vậy, quỹ BHXH
cũng đợc hình thành từ các nguồn thu khác nhau và đợc sử dụng để chi trả các chế độ
BHXH cho ngời thụ hởng và các chi phí quản lý khác theo quy định của pháp luật. Vì

Đa số các nớc có nền kinh tế thị trờng, quỹ BHXH đợc hình thành trên cơ sở có
sự đóng góp của ngời lao động và ngời sử dụng lao động. Ngời lao động khi tham gia
BHXH phải đóng góp một khoản trên cơ sở tiền lơng/thu nhập của mình. Lu ý rằng
khoản đóng góp BHXH của ngời lao động khác với đóng thuế ở chỗ đóng góp BHXH
để tăng phúc lợi của bản thân ngời lao động. Ngời sử dụng cũng có nghĩa vụ đóng
góp BHXH cho ngời lao động mà mình thuê mớn hoặc sử dụng. Khoản đóng góp của
ngời sử dụng lao động thờng đợc tính trên cơ sở bằng một tỷ lệ nào đó trên tổng quỹ
lơng của đơn vị và đợc tính vào chi phí trong giá thành sản phẩm.
Một hệ thống BHXH trong đó quỹ BHXH chủ yếu sử dụng đóng góp của ngời
lao động và ngời sử dụng lao động, không có sự đóng góp hoặc hỗ trợ từ ngân sách
Nhà nớc đợc gọi là hệ thống tự trang trải. Các khoản đóng góp của ngời lao động và
ngời sử dụng lao động có thể là tỷ lệ nào đó theo thu nhập hoặc bằng một tỷ lệ theo
một mức cố định (mức cố định có thể là mức lơng tối thiểu hoặc mức lơng trung bình
xã hội). ở nhiều nớc, nếu các mức đóng dựa theo thu nhập cá nhân thị trờng có quy
định mức giới hạn thu nhập (sàn và trần). Ngời có thu nhập dới mức sàn thì không
tham gia BHXH mà do Nhà nớc hỗ trợ (theo hệ thống trợ giúp xã hội của an sinh xã
hội). Ngời có thu nhập cao hơn mức trần cũng chỉ tham gia BHXH theo mức trần đó
9
hoặc không tham gia BHXH mà tham gia vào bảo hiểm thơng mại (bảo hiểm nhân
thọ).
Có những nớc, ngoài hệ thống chung còn có hệ thống BHXH chỉ có ngời lao
động đóng góp theo quy định của pháp luật (thờng là hệ thống BHXH tự nguyện). Hệ
thống này áp dụng cho những đối tợng cha tham gia BHXH theo quy định chung (th-
ờng ở những nơi không có quan hệ chủ - thợ); cũng có nớc áp dụng cho cả những ng-
ời đã tham gia vào hệ thống chung, nhng có nhu cầu thoả mãn cao hơn.
Nh vậy, xét về mặt bản chất, dù có thực hiện theo nhiều mô hình khác nhau,
chỉ có hai cách tạo nguồn BHXH là không phải đóng góp (Nhà nớc tài trợ thông qua
thuế) và đóng góp (của ngời lao động và/hoặc của ngời sử dụng lao động).
Cả hai cách thức tạo nguồn quỹ BHXH (thuế và đóng thuế) đều đợc đa vào
tiêu chuẩn lao động của tổ chức lao động quốc tế (ILO). Trong công ớc số 102 về các

NN
: sự đóng góp/hỗ trợ của Nhà nớc trong một số trờng hợp;
T
NP
: khoản nộp phạt của các doanh nghiệp/đơn vị chậm nộp BHXH;
L
ĐT
:khoản lãi do đầu t phần nhàn rỗi của quỹ BHXH;
T
k
: các nguồn thu hợp pháp khác của quỹ BHXH;
10
Một đặc điểm rất cơ bản của BHXH trong cơ chế thị trờng là sự đóng góp của
ngời lao động diễn ra trong thời gian khá dài (20 đến 30 năm đối với các chế độ
BHXH dài hạn) và thời gian thụ hởng của họ cũng rất lâu (từ 10 - 15 hoặc 20 năm
sau). Vì vậy, các khoản đóng góp của ngời lao động, ngời sử dụng lao động (các
nguồn cơ bản hình thành quỹ BHXH) phải đợc tính toán, điều chỉnh cho phù hợp, có
tính đến các yếu tố lạm phát, đầu t và sự thay đổi mức sống của dân c. Hơn nữa, cũng
phải tính đến mức hởng của ngời nghỉ hu sau 15-20 năm, khi mức sống chung của
dân c đã thay đổi rất nhiều (nâng lên). Đây là những tính toán cơ bản của quá trình
cân đối quỹ BHXH theo mô hình quỹ có sự đóng góp của các bên tham gia BHXH.
Quỹ BHXH hình thành và hoạt động đã tạo ra khả năng giải quyết những rủi
ro của tất cả những ngời tham gia với tổng dự trữ ít nhất, giúp cho việc dàn trải rủi ro
đợc thực hiện theo cả hai chiều không gian và thời gian, đồng thời giúp giảm tối thiểu
thiệt hại kinh tế cho ngời sử dụng lao động, tiết kiệm cho cả ngân sách Nhà nớc và
ngân sách gia đình
3. Nội dung chi của quỹ BHXH.
Chi trả các chế độ BHXH theo công ớc 102 năm 1952 bao gồm 9 chế độ BHXH.
Hiện nay ở Việt Nam đang thực hiện 5 chế độ BHXH là: ốm đau, thai sản, tai nạn lao
động và bệnh nghề nghiệp, hu trí và tử tuất.

QL
: Chi quản lý
C
K
: Chi khác
4. Các nguyên tắc đầu t tăng trởng quỹ BHXH
Do quỹ BHXH có những đặc trng, khác hẳn với những tổ chức tài chính khác,
nên việc đầu t tăng trởng quỹ BHXH phải trên cơ sở những nguyên tắc nhất định:
Nguyên tắc thứ nhất:phải đảm bảo an toàn khi đầu t
Mục tiêu hình thành quỹ BHXH là để góp phần đảm bảo an toàn thu nhập cho
ngời lao động và sâu xa hơn là đảm bảo an sinh xã hội cho nhân dân. Vì vậy, an toàn
là nguyên tắc hàng đầu trong việc đầu t quỹ BHXH. Quỹ BHXH đợc bảo toàn và tăng
trởng tốt sẽ đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng cao của ngời lao động tham gia
BHXH và góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội của đất nớc, góp phần vào
ổn định và phát triển đất nớc. Ngợc lại, nếu quỹ BHXH không đợc sử dụng đúng,
không đảm bảo đợc giá trị, mất an toàn (thâm hụt) thì đời sống của ngời tham gia và
thụ hởng sẽ bị ảnh hởng đầu tiên; hậu quả là sẽ dẫn đến rối loạn xã hội nghiêm trọng.
Nhiều Chính phủ đã phải sụp đổ do những vấn đề có liên quan đến lợi ích của ngời
tham gia BHXH.
Để thực hiện đợc nguyên tắc này, Nhà nớc cần có những định hớng đầu t và ở
những chừng mực nào đó Nhà nớc phải bảo hộ cho đầu t của quỹ BHXH sao cho ít
rủi ro nhất.
Việc đầu t tăng trởng của quỹ BHXH cần chú ý đến 3 yếu tố sau:
+ Xác định xác suất rủi ro có thể xảy ra trong quá trình đầu t.
+ Tính toán chặt chẽ khả năng sinh lời.
+ Xác định lợi ích xã hội của việc đầu t.
Nguyên tắc thứ hai: Phải có sinh lời.
12
Trong bất kỳ hoạt động kinh doanh nào, nếu không sinh lời (không có lợi
nhuận) thì không nhà đầu t nào bỏ tiền ra để đầu t. Do đó xét trên giác độ kinh tế,

Công tác thu BHXH có vai trò rất quan trọng trong hoạt động của ngành BHXH,
đây là công tác trọng tâm của hoạt động BHXH.
1. Vai trò của công tác thu BHXH trong việc tạo lập quỹ.
Công tác thu đợc triển khai và tiến hành tạo ra một quỹ tài chính đấy là quỹ
BHXH. Quỹ này tạo ra để đảm bảo khả năng tài chính chi trả BHXH. Công tác thu
đợc tiến hành đều đặn hàng tháng (theo quyết định số 902/QĐ-BHXH ngày
26/06/2007 của tổng giám đốc BHXH ra quyết định ban hành quy định về quản lý
thu BHXH, BHYT bắt buộc) đối với tất cả các ngành, các đơn vị có sử dụng lao động
sẽ giúp Nhà nớc trong việc giảm chi từ ngân sách Nhà nớc trong việc chi trả các chế
độ BHXH. Do vậy công tác thu có vai trò rất lớn đối với nền kinh tế nớc nhà. Vì hàng
năm khoản chi này từ ngân sách Nhà nớc là rất lớn. Mặt khác, thu nhanh, thu đủ đã
tạo ra một khoản tiền lớn tạm thời nhàn rỗi cha sử dụng đến, đây cũng là một trong
những nguồn tiền cho vay rất có ích đối với đất nớc trong sự nghiệp phát triển kinh tế.
Bởi nhiều công trình, hạng mục của đất nớc muốn đợc thi công thì phải có vốn mà
ngay lập tức Nhà nớc cha thể cung cấp kịp thời.
2. Công tác thu trong việc tạo lập mối quan hệ giữa các bên trong BHXH.
Sự nghiệp BHXH, bớc đầu đợc luật pháp hoá trong chơng XII Bộ luật Lao động
và đợc cụ thể hoá bằng điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị định 12/CP ngày
26/01/1995 của Chính phủ và đặc biệt công tác BHXH đã đợc ban hành thành luật
BHXH số 71/2006/QH 11.
Điều luật có quy định việc thực hiện các chế độ hởng BHXH phải dựa trên cơ sở
đóng và thời gian đóng BHXH của từng ngời. Vì vậy thu BHXH đòi hỏi phải đợc theo
dõi, ghi chép kết quả đóng của từng ngời trong cơ quan đơn vị, để làm cơ sở cho việc
tính mức hởng BHXH theo quy định.
14

Trích đoạn Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về bảo hiểm xã hội.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status