bài 4 đạo đức TRONG TUYỂN DỤNG LAO ĐỘNG - Pdf 22

Môn: Đạo đức kinh doanh GVHD: Phạm Văn Thắng
LỜI MỞ ĐẦU
Thực tiễn đổi mới kinh tế sau 20 năm ở Việt Nam đã cho thấy rằng, bên
cạnh những thành tựu kinh tế quan trọng đã đạt được trong nền kinh tế thị
trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng
ta đang gặp phải một số khó khăn tồn tại do những thất bại vốn có của kinh
tế thị trường sơ khai gây ra và do những yếu kém của chúng ta trong quá
trình thực hiện. Một trong những khó khăn đó là những sai lệch trong đạo
đức kinh doanh của một số doanh nghiệp, một số nhà kinh doanh, một số cơ
quan quản lý và người lao động Thực tiễn thành công của các nhà kinh
doanh thế giới và ở Việt Nam đã cho phép chúng ta có thể khẳng định rằng
kinh doanh theo đúng chuẩn mực đạo đức kinh doanh là yếu tố quyết định
sự thành công bền vững trong kinh doanh. Chính vì vậy, đạo đức trong kinh
doanh là một vấn đề được nhiều người quan tâm trong nền kinh tế Việt Nam
ngày nay. Hầu hết các doanh nghiệp đều công nhận đạo đức trong kinh
doanh là một vấn đề quan trọng nhưng nhiều doanh nghiệp lại tỏ ra lúng
túng không biết phải làm thế nào để đưa vấn đề này vào trong các hoạt động
của mình. Do đó, hơn lúc nào hết, vấn đề đạo đức kinh doanh đang là vấn đề
cấp thiết đối với nền kinh tế Việt Nam. Yếu tố không thể thiếu góp phần
hoàn thiện Đạo đức trong các doanh nghiệp đó là: Đạo đức trong tuyển dụng
lao động. Con người là nhân tố quyết định nên sự thành bại của doanh
nghiệp . Vì vậy tôi chọn đề tài: “ Đạo đức trong tuyển dụng lao động” làm
đề tài nghiên cứu để hiểu rõ hơn đạo đức trong tuyển dụng nguồn lực chủ
chốt cho sự hình thành và pháp triển của các doanh nghiệp.
Trong quá trình làm bài không tránh gặp phải những sai sót, rất mông
được sự góp ý của Thầy và các bạn trong lớp cho bài tiểu luận của em được
hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
SVTH:…………………
Môn: Đạo đức kinh doanh GVHD: Phạm Văn Thắng
NỘI DUNG

Chung) viết nội dung tổng quan về quản trị nhân sự đã đưa ra hai khái niệm
thể hiện quan điểm cho việc quản trị nhân sự như sau:
Quan điểm thứ nhất: “Quản trị nhân sự là sự tổ hợp của toàn bộ mục tiêu,
chiến lược và công cụ mà qua đó, các nhà quản trị và nhân viên trong doanh
nghiệp làm nền tảng cho cung cách ứng xử để phát triển doanh nghiệp”.
Quan điểm thứ hai: “Quản trị nhân sự là tất cả các hoạt động, chính sách
và các quyết định quản lý liên quan và cả ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa
doanh nghiệp và cán bộ công nhân viên của nó. Quản trị nhân sự đòi hỏi
phải có tầm nhìn chiến lược và gắn với chiến lược hoạt động của công ty”.
+ phương pháp số liệu.
Theo dự báo của Bộ LĐ-TB&XH, dân số Việt Nam đến năm 2020 sẽ ở
mức trên 96,2 triệu người, số người tham gia lực lượng LĐ là trên 63 triệu
người. Như vậy, sẽ có thêm khoảng 9,5 triệu người tham gia lực lượng LĐ.
Cùng với 1,3 triệu LĐ đang thất nghiệp và trên 4,5 triệu LĐ đang thiếu việc
làm hoặc có việc làm nhưng vẫn nghèo hiện nay, thì sẽ có tới 15,3 triệu
người cần phải giải quyết việc làm trong 10 năm tới. Một thách thức không
kém phần quan trọng là các giải pháp nhằm tăng năng suất LĐ một cách bền
vững, xây dựng chế độ tiền lương phù hợp với năng suất, cải thiện quan hệ
LĐ, giải quyết sự mất cân đối giữa cung - cầu, thúc đẩy sự chuyển dịch LĐ
từ phi chính thức sang chính thức còn yếu kém.
Hiện tại, chất lượng việc làm vẫn rất thấp. Cụ thể: việc làm giản đơn,
không cần kỹ năng chiếm gần 40% tổng việc làm của cả nước. Ở khu vực
thành thị tỷ lệ này là 18,1% nhưng khu vực nông thôn chiếm gần 50% tổng
việc làm. Chất lượng việc làm thấp kéo theo thất nghiệp thành thị gia tăng.
Theo Bộ LĐ-TB&XH thì tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam khá thấp: năm
2010 là 2,88%, năm 2011 khoảng 2,6% nhưng tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi
LĐ khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn: thành thị là 3,96%; nông
thôn 2,02%. Chất lượng LĐ thấp kéo theo LĐ phi chính thức gia tăng do di
cư từ nông thôn ra thành phố. Lực lượng này phần lớn là thời vụ. Một hạn
chế khác là thiếu định hướng đào tạo đáp ứng nhu cầu thị trường. Bởi vậy,

- Chương 1 Tổng quan về vấn đề cần nghiên cứu
- Chương 2 Cơ sở lý luận
- Chương 3 Phương pháp nghiên cứu
- Chương 4 Thực trạng và giải pháp
- Chương 5 Kiến nghị
SVTH:…………………
Môn: Đạo đức kinh doanh GVHD: Phạm Văn Thắng
Chương II. Cơ sở lý luận
1.Khái niệm đạo đức trong kinh doanh
+ Đạo đức kinh doanh là một tập hợp các nguyên tắc, chuẩn mực có tác
dụng điều chỉnh, đánh giá, hướng dẫn và kiểm soát hành vi của các chủ thể
kinh doanh.
+ Đạo đức kinh doanh chính là phạm trù đạo đức được vận dụng vào trong
hoạt động kinh doanh.
+ Đạo đức kinh doanh là một dạng đạo đức nghề nghiệp
+ Đạo đức kinh doanh có tính đặc thù của hoạt động kinh doanh - do kinh
doanh là hoạt động gắn liền với các lợi ích kinh tế, do vậy khía cạnh thể hiện
trong ứng xử về đạo đức không hoàn toàn giống các hoạt động khác: Tính
thực dụng, sự coi trọng hiệu quả kinh tế là những đức tính tốt của giới kinh
doanh nhưng nếu áp dụng sang các lĩnh vực khác như giáo dục, y tế hoặc
sang các quan hệ xã hội khác như vợ chồng, cha mẹ con cái thì đó lại là
những thói xấu bị xã hội phê phán. Song cần lưu ý rằng đạo đức kinh doanh
SVTH:…………………
Môn: Đạo đức kinh doanh GVHD: Phạm Văn Thắng
vẫn luôn phải chịu sự chi phối bởi một hệ giá trị và chuẩn mực đạo đức xã
hội chung.
2.Các nguyên tắc và chẩn mức của đạo đức trong kinh doanh.
+ Tính trung thực: Không dùng các thủ đoạn gian dối, xảo trá để kiếm
lời. Giữ lời hứa, giữ chữ tín trong kinh doanh. Nhất quán trong nói và làm.
Trung thực trong chấp hành luật pháp của nhà nước, không làm ăn phi pháp

đều xuất phát từ lợi ích kinh tế của bản thân, đều có tâm lý muốn mua rẻ và
được phục vụ chu đáo. Tâm lý này không khác tâm lý thích "mua rẻ, bán
đắt" của giới doanh nhân, do vậy cũng cần phải có sự định hướng của đạo
đức kinh doanh. Tránh tình trạng khách hàng lợi dụng vị thế "Thượng đế" để
xâm phạm danh dự, nhân phẩm của doanh nhân, làm xói mòn các chuẩn
mực đạo đức. Khẩu hiệu "Bán cái thị trường cần chứ không phải bán cái
mình có" chưa hẳn đúng!!
Phạm vi áp dụng của đạo đức kinh doanh
Đó là tất cả những thể chế xã hội, những tổ chức, những người liên quan,
tác động đến hoạt động kinh doanh: thể chế chính trị, chính phủ, công đoàn,
nhà cung ứng, khách hàng, cổ đông, chủ doanh nghiệp, người làm công,…
3.Các khía cạnh của đạo đức trong kinh doanh.
Trong hoạt động tuyển dụng và bổ nhiệm nhân sự sẽ xuất hiện một vấn đề
đạo đức khá nan giải, đó là tình trạng phân biệt đối xử.
Phân biệt đối xử là việc không cho phép của một người nào đó được
hưởng những lợi ích nhất định xuất phát từ định kiến về phân biệt. Biểu hiện
ở phân biệt chủng tộc, giới tính, tôn giáo, địa phương, vùng văn hoá, tuổi
tác
Có những trường hợp cụ thể, sự phân biệt đối xử lại là cần thiết và không
hoàn toàn sai. Chẳng hạn như một người quản lý không bao giờ để tôn giáo
trở thành một cơ sở để phân biệt đối xử khi tuyển chọn nhân sự. Tuy nhiên,
trong trường hợp phải chọn nhân sự cho Nhà thờ đạo Tin lành thì việc để tôn
giáo là một cơ sở để lựa chọn là hoàn toàn hợp lý. Tương tự vậy, một nhà
quản lý kiên quyết chỉ phỏng vấn những phụ nữ để tuyển người cho vị trí
giám đốc chương trình giáo dục phụ nữ hoặc một người gốc Phi cho chương
trình giáo dục người Mỹ gốc Phi là hợp lý.
Tuy nhiên, cũng có những trường hợp người quản lý dựa trên cơ sở phân
biệt đối xử để tuyển dụng và bổ nhiệm nhân sự. Quyết định của họ dựa trên
SVTH:…………………
Môn: Đạo đức kinh doanh GVHD: Phạm Văn Thắng

SVTH:…………………
Môn: Đạo đức kinh doanh GVHD: Phạm Văn Thắng
Đây là một hình thức bóc lột lao động để gia tăng lợi nhuận tiêu cực. Lợi
nhuận của một công ty luôn có tương quan với sự đóng góp của người lao
động. Công ty kinh doanh muốn gia tăng lợi nhuận thì nhất định phải quan
tâm đến lợi ích của người lao động trực tiếp làm ra của cải vật chất. Quan hệ
chủ thợ sẽ tốt đẹp nếu chủ nhân quan tâm tới lợi ích công nhân, ngược lại
công nhân luôn lao động tích cực và tìm cách gia tăng lợi nhuận cho doanh
nghiệp. Đó là 2 vế tương hỗ của một bài toán kinh tế, cần được xử lý một
cách lành mạnh, phù hợp với lợi ích của đôi bên.
4.Một số ví dụ tại doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Ví dụ: tiêu chuẩn trong tuyển dụng lao động công ty cổ phần DẠ LAN
Điều 2. Tiêu chuẩn về sức khỏe
Có sức khỏe tốt, không có bệnh truyền nhiễm, không có bệnh ngoài da và
các bệnh về đường hô hấp, chịu được áp lực công việc liên tục trong 4 giờ.
Điều 3. Tiêu chuẩn về ngoại hình
- Chiều cao và cân nặng quy định cụ thể tại Điều 5 của Quy chế này;
- Dáng: Cân đối; khỏe mạnh;
- Nước da: Trắng (hoặc da ngăm đen) không có rỗ, chàm, tàn nhang, mụn
cóc;
- Khuôn mặt: Tươi, ưa nhìn, không dị tật, khuyết tật;
- Tóc: Nam cắt ngắn, không để tóc mai, không nhuộm màu sặc sỡ;
Nữ: tóc không quá ngắn, gọn gàng.
- Ngôn ngữ: Nói tiếng phổ thông, rõ lời, lưu loát, giọng truyền cảm;
- Có khả năng giao tiếp tốt;
- Tác phong: Nhanh nhẹn, hoạt bát, khoa học;
- Trí nhớ: có trí nhớ tốt;
- Có khả năng quan sát.
Điều 4. Tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức
1. Có phẩm chất đạo đức tốt, lối sống lành mạnh, trung thực, nhiệt tình;

- Chiều cao: Nam 1,65m trở lên, Nữ 1,60m trở lên;
- Cân nặng: Nam 55kg trở lên, Nữ 50kg trở lên;
- Kiến thức
Trình độ chuyên môn: Trung cấp kế toán trở lên
Trình độ tin học: sử dụng thành thạo máy vi tính, biết sử dụng các hàm số
toán học
4. Nhân viên dịch vụ
- Chiều cao1,65m trở lên, cân nặng 55kg trở lên.
- Kiến thức chuyên môn: Đã được đào tạo về điện lạnh, điện tử, điện dân
dụng, xây dựng ,cơ khí,có khả năng điều chỉnh và sử dụng âm thanh, ánh
sáng, ưu tiên những người có kinh nghiệm.
Chịu được áp lực cao trong công việc ngoài trời và làm việc xa nhà.
5. Nhân viên tạp vụ, giặt là
- Chiều cao: Nữ cao từ 1,55m trở lên, cân nặng từ 45kg trở lên.
- Trình độ: LĐPT, ưu tiên những người có kinh nghiệm trong nghề; Không
mặc cảm nghề nghiệp.
6. Chuyên viên văn phòng
- Chiều cao: Nam 1,65m trở lên, Nữ 1,60m trở lên;
- Cân nặng: Nam 55kg trở lên, Nữ 50kg trở lên;
SVTH:…………………
Môn: Đạo đức kinh doanh GVHD: Phạm Văn Thắng
- Kiến thức
Trình độ chuyên môn: Tốt nghiệp Đại học các chuyên ngành du lịch; Quản
trị kinh doanh; Công nghệ thông tin; Kế toán; Thiết kế đồ họa; Nghệ thuật
Trình độ tin học: sử dụng thành thạo máy vi tính (Word, Excell, Power
Point ).
Trình độ ngoại ngữ: Tiếng Anh giao tiếp (hoặc ngoại ngữ khác).
Có kỹ năng giao tiếp thuyết trình, đàm phám, thuyết phục, làm việc nhóm.
7. Nhân viên An ninh Công ty
- Chiều cao: 1,7m trở lên; Cân nặng 60kg trở lên.

Lan quan tâm đó là ngay từ khi tuyển dụng lao động phải là yếu tố rất quan
trọng, làm việc của phòng nhân sự phải thực sự minh bạch, công khai phỏng
vấn trực tiếp đối tượng lao động tùy ở những vị trí khác nhau mà ưu cầu cho
từng đối tượng các nhau tuy nhên để kiểm tra được tư cách đạo đức ngay từ
khâu đầu vào cũng là điều khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải:
+ Đạo đức trong đánh giá người lao động tại Dạ Lan.
Hành vi hợp đạo đức của người quản lý trong đánh giá người lao động là
người quản lý không được đánh giá người lao động trên cơ sở định kiến.
Nghĩa là đánh giá người lao động trên cơ sở họ thuộc một nhóm người nào
đó hơn là đặc điểm của cá nhân đó, người quản lý dùng ấn tượng của mình
SVTH:…………………
Môn: Đạo đức kinh doanh GVHD: Phạm Văn Thắng
về đặc điểm của nhóm người đó để xử sự và đánh giá người lao động thuộc
về nhóm đó. Các nhân tố như quyền lực, ganh ghét, thất vọng, tội lỗi và sợ
hãi là những điều kiện duy trì và phát triển sự định kiến.
Để đánh giá người lao động làm việc có hiệu quả không, có lạm dụng của
công không, người quản lý phải sử dụng các phương tiện kỹ thuật để giám
sát và đánh giá. Như quan sát các cuộc điện thoại hoặc sử dụng máy ghi âm
ghi lại những cuộc đàm thoại riêng tư, kiểm soát các thông tin sử dụng tại
máy tính cá nhân ở công sở, đọc thư điện tử và tin nhắn trên điện thoại,
Nếu việc giám sát này nhằm đánh giá đúng, khách quan, công bằng về hiệu
suất và năng lực làm việc của người lao động, nhằm đảm bảo bí mật thông
tin của công ty, nhằm phòng ngừa hay sửa chữa những hành động do người
lao động đi ngược lại lợi ích của công ty thì nó hoàn toàn hợp đạo lý.
Tuy nhiên, những thông tin lấy được từ giám sát phải là những thông tin
phục vụ cho công việc của công ty, nếu sự giám sát nhằm vào những thông
tin hết sức riêng tư, hoặc những thông tin phục vụ mục đích thanh trường,
trù dập thì không thể chấp nhận được về mặt đạo đức. Hơn nữa, sự giám
sát nếu thực hiện không cẩn trọng và tế nhị thì có thể gây áp lực tâm lý bất
lợi, như căng thẳng, thiếu tự tin và không tin tưởng ở người lao động.

lời tán tỉnh không mong muốn, những lời gạ gẫm quan hệ tình dục và các
hành vi, cử chỉ, lời nói mang bản chất tình dục ở công sở, làm ảnh hưởng
một phần hoặc hoàn toàn đến công việc của một cá nhân và gây ra một môi
trường làm việc đáng sợ, thù địch hoặc xúc phạm. Kẻ quấy rối có thể là cấp
trên của nạn nhân, đại diện của cấp trên, giám sát viên trong một lĩnh vực
khác hoặc là một đồng nghiệp.
Dưới đây là các bước mà nhà quản lý cần tiến hành tuần tự để khống chế
và loại trừ tệ nạn quấy rối tình dục:
SVTH:…………………
Môn: Đạo đức kinh doanh GVHD: Phạm Văn Thắng
. Xây dựng một văn bản chính sách mô tả rõ ràng những gì cấu thành tội
quấy rối tình dục và nói rõ rằng nó bị nghiêm cấm.
• Xây dựng những chương trình huấn luyện cho tất cả các công nhân
viên chức.
• Xây dựng một quy trình rõ ràng cho việc lập hồ sơ và điều tra các đơn
kiện về tệ nạn quấy rối tình dục.
• Điều tra thật tỷ mỷ, ngay tức thì đơn kiện về quấy rối tình dục.
• Thi hành biện pháp chấn chỉnh.
• Theo dõi biện pháp chẩn chỉnh để xác định xem nó có tác dụng không
và đảm bảo chắc chắn rằng không có hiện tượng trả đũa
Chương IV. Thực trang và giải pháp
1.Thực trạng
SVTH:…………………
Môn: Đạo đức kinh doanh GVHD: Phạm Văn Thắng
• Tỷ lệ thất nghiệp năm 2011 đã giảm xuống 2,27%, từ mức 2,88%
năm 2010, thấp nhất trong 4 năm gần đây.

• Theo Tổng cục Thống kê, dân số trung bình cả nước năm 2011 ước
tính 87,84 triệu người, tăng 1,04% so với năm 2010.
• Trong đó, dân số nam là 43,47 triệu người, chiếm 49,5% tổng dân số

thời gian tuy nhìn khi lao động nộp hồ sơ dự tuyển trong thời gian tuyển thì
bị trả lại vì đẫ tuyển được lao đông rồi.
2. Giải pháp
Xây dựng bộ quy tắc đạo đức thống nhất
Phạm trù đạo đức thường rất rộng và trừu tượng, nhiều khi còn mang
tính chủ quan. Do đó, để cụ thể hóa việc thực hiện các vấn đề đạo đức, mỗi
doanh nghiệp nên xây dựng và áp dụng một bộ những quy tắc đạo đức thống
nhất. Bộ quy tắc này được xem là một cẩm nang hướng dẫn cho nhân viên
và là cơ sở để giải quyết các vấn đề liên quan đến đạo đức trong doanh
nghiệp. Nội dung của bộ quy tắc đạo đức nên bao gồm bốn phần chính: 1.
Sự ủng hộ và yêu cầu thực hiện đạo đức của lãnh đạo doanh nghiệp; 2. Cam
kết và trách nhiệm của doanh nghiệp với nhân viên; 3. Các giá trị đạo đức và
trách nhiệm mà nhân viên phải thực hiện đối với đồng nghiệp, lãnh đạo,
khách hàng, chính quyền và cộng đồng; 4. Các phương thức thông tin và
cách giải quyết các vướng mắc liên quan đến đạo đức. Như vậy, trong bộ
quy tắc đạo đức thì trách nhiệm của doanh nghiệp và lãnh đạo được nêu ra
trước, sau đó mới đề cập đến trách nhiệm của nhân viên. Trong thực tế, các
công ty ở Mỹ và Canada thường có những bộ quy tắc không dài quá hai
trang, được trình bày đẹp, sinh động, ngắn gọn và dễ hiểu để phát cho mọi
nhân viên. Doanh nghiệp không nên sao chép rập khuôn các quy tắc đạo đức
chung chung hoặc thuê công ty tư vấn viết thay, mà nên tổ chức cho tất cả
nhân viên cùng đóng góp xây dựng các quy tắc, tự đề ra trách nhiệm và
hướng giải quyết khi xảy ra các vấn đề liên quan đến đạo đức. Các quy tắc
cũng cần được cập nhật, điều chỉnh định kỳ cho phù hợp với tình hình thực
tế và nguyện vọng của nhân viên. Khi được đóng góp ý kiến thì các nhân
viên sẽ coi bộ quy tắc này là của chính mình nên sẽ tự giác thực hiện nó. Khi
đó đạo đức trong kinh doanh không phải là những nội quy cứng nhắc trên
giấy mà sẽ trở thành một nét văn hóa sống động trong công ty.
Các chương trình Huấn luyện về đạo đức
SVTH:…………………

một số kiến nghị cho đề tài: “ đạo đức trong tuyển dụng lao động”
+ Đưa đạo đức và văn hóa doanh nghiệp lồng ghép vào chương trình
giảng dạy của sinh viên.
+ Đưa đạo đức về cách sống và ứng xử cho các học sinh.
+ Thường xuyên tổ chức các hoạt động ngoại khóa cho các sinh viên tiếp
cận với môi trường làm việc.
+ Trong công ty nên hình thành môi trường làm việc thân thiện tránh việc
ghen ghét trong công việc gây mâu thuẫn nội bộ.
+ Đưa ra các buổi tọa đàm về tạo đức trong các ngày lễ hoặc tổ chức liên
hoàn tạo không khí hòa nhã, vui vẻ, khi mà nhân viên phải chịu nhiều áp lực
trong công việc
+ Đưa ra mô hình làm việc mở tạo nên sự cạnh tranh làm việc công bằng.
+ Quy định rõ về mức thưởng pháp và chế độ ưu đãi mà lao đông được
hưởng.
+ Không phân biệt đối xử về dân tộc của mỗi người lao động….
SVTH:…………………
Môn: Đạo đức kinh doanh GVHD: Phạm Văn Thắng
KẾT LUẬN
Đạo đức trong cách sống, cách ứng xử giữa con người với con người là
hình ảnh tốt đẹp nhất mà chúng ta hướng tới trong cuộc sống, có một câu
danh ngôn đã nói: “ Người có đức mà không có tài thì sẽ không được trọng
dụng, Có tài mà không có đức sẽ khó thành công trên con đường sự nghiệp”
như vậy chúng ta vừa phải là người có đức và có tài trên con đường sự
nghiệp và cuộc sống sẽ được mọi người chấp nhận, để làm được điều đó
ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường em phải không ngừng học hỏi và
có đạo đức lành mạnh, đó là nền tảng cho công việc sau này, đạo đức không
chỉ là giữa con người với con người mà đạo đức trong kinh doanh mang lị
niềm tin giữa doanh ngiệp và khách hang, để tạo được lòng tin đó trước hết
mỗi nhân viên trong chúng ta phải hình thành tư tưởng đạo đức từ ngay bắt
đầu trong quá trình tuyển dụng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status