Chiến lược marketing sản phẩm bột giặt OMO của unilever - Pdf 22

Chiến lược Marketing sản phẩm bột giặt OMO của Unileve
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và đặc biệt khi Việt
Nam đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO thì việc
mua bán, trao đổi hàng hoá ngày càng được chú trọng và quan tâm. Người tiêu dùng
ngày càng có nhiều sự lựa chọn, nhiều cơ hội để tìm cho mình một loại sản phẩm phù
hợp nhất và giá cả lại phải chăng, nhu cầu về vật chất và tinh thần ngày càng được
nâng cao. Các sản phẩm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày dần được nâng cao chất
lượng, công việc nội trợ ngày càng được phụ nữ quan tâm, nhất là công việc quần áo
chiếm nhiều thời gian. Đánh vào nhu cầu thiết yếu này, công ty Unilever đã tung ra rất
nhiều loại bột giặt, đặc biệt là sản phẩm bột giặt OMO.
Ta cũng biết rằng khi một thương hiệu đã chiếm được khối óc của người tiêu
dùng thì đích đến cho nó là chiếm trái tim của họ. Điều này đúng với OMO- thương
hiệu bột giặt dẫn đầu tại thị trường Việt Nam. Đây là loại bột giặt đang được rất nhiều
gia đình ưa chuộng và sử dụng và có chỗ đứng trên thị trường. Vì vậy , chúng em xin
chọn đề tài “Chiến lược Marketing sản phẩm bột giặt OMO của Unilever” làm đề
tài nghiên cứu. Qua đây chúng em xin được gửi lời cảm ơn tới thầy …………… đã
hướng dẫn chúng em hoàn thành đề tài này. Trong quá trình nghiên cứu cón có nhiều
thiếu sót mong được sự góp ý của thầy và các bạn.Thực hiện: Lớp: Trang 1

Chiến lược Marketing sản phẩm bột giặt OMO của Unileve
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.Khái niệm Quản Trị
Quản trị là một hiện tượng xã hội xuất hiện cùng với quá trình tồn tại và phát
triển của xã hội loài người, tập hợp những người là thành viên lại với nhau, có mục
đích riêng biệt và một cơ cấu có tính hệ thống.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản trị, nhưng nhìn chung thì có thể hiểu:

định
- Nhóm sản phẩm phi vật phẩm: đó là các dịch vụ. Dịch vụ là “kết quả tạo ra do
các hoạt động tiếp xúc giữa người cung ứng và khách hàng và các hoạt động nội bộ
của người cung ứng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng”. (Quản lý chất lượng và đảm
Thực hiện: Lớp: Trang 2

Chiến lược Marketing sản phẩm bột giặt OMO của Unileve
bảo chất lượng- Thuật ngữ và định nghĩa- TCVN 5814-1994). Hoạt động dịch vụ phát
triển theo trình độ phát triển kinh tế và xã hội. Ở các nước phát triển thu nhập qua dịch
vụ có thể đạt tới 60-70% tổng thu nhập xã hội.
1.3.Khái niệm về Marketing và chiến lược Marketing
1.3.1.Định nghĩa mang tính xã hội về marketing
- Marketing là một hoạt động mang tính xã hội của con người nhằm thoả mãn nhu
cầu thông qua trao đổi.
- Theo hiệp hội Marketing của Mỹ: “Marketing là thực hiện các hoạt động kinh
doanh nhằm hướng vào dòng vận chuyển hàng hoá và dịch vụ từ người sản xuất tới
người tiêu thụ hoặc người sử dụng”.
- Theo Philip Kotler: “Marketing là một dạng hoạt động của con người nhằm
thoảmãn những nhu cầu và mong muốn của họ thông qua trao đổi”.
1.3.2.Định nghĩa mang tính quản trị về marketing
Marketing là những hoạt động mang tính quản trị đối với việc thiết kế sản phẩm,
định giá bán, phân phối và xúc tiến bán tới những
Nói 1 cách đơn giản, Marketing là nhằm thỏa mãn nhu cầu - mong muốn của khách
hàng mục tiêu bằng giá trị thông qua san phẩm được tạo ra
Bao gồm các khâu như: Nhận biết nhu cầu, nghiên cứu thị trường, Phân khúc thị
trường mục tiêu, Lập kế hoạch Marketing: 4P: Chiến lược sản phẩm - CHiến lược giá -
Chiến lược phân phối - Chiến lược xúc tiến.
Chiến lược marketing về mặt cơ bản giải quyết những vấn đề sau:
- Thị trường mà doanh nghiệp sẽ cạnh tranh là gì (xác định thị trường).
- Khách hàng của công ty là ai (xác định khách hàng trọng tâm).

vi toàn cầu. Những tên tuổi lớn trên thế giới như Lipton's (Mỹ và Canada), Brooke
Bond (Anh), Pepsodent (Mỹ), Bachelors (Anh), Chesebrough-Pond's (Mỹ)…đã lần
lượt “rơi” vào tay Unilever. Ngoài mặt hàng chủ yếu buổi ban đầu là xà phòng,
Unilever đã mở rộng nhiều chủng loại sản phẩm như trà, kchúng em, dầu gội đầu,
kchúng em đánh răng, nước giải khát, phụ gia thực phẩm…với các nhãn hiệu được “cả
thế giới tin dùng” như Lipton, Hellman’s, Ragu, Rama, Magnum, Bertolli, Knorr,
Bird’Eyes, Slim-Fast, Dove, Pond, Signal, Close-up, Surf và Omo. Và đó cũng chỉ là
một con số nhỏ trong tổng số các nhãn hiệu của tập đoàn.Và bằng tầm nhìn, khả năng
chèo lái con tàu doanh nghiệp trước sóng to gió cả trên thương trường, bằng việc tổ
chức các khóa đào tạo, các chương trình hỗ trợ nhân viên, các nhà quản lý của
Unilever đã mang lại sự thành công vượt ngoài sự mong đợi cho tập đoàn này.
Unilever Việt Nam được thành lập năm 1995 cũng là một bước đi trong chiến lược
tổng thể của Unilever. Unilever Việt Nam thực chất là tập hợp của ba công ty riêng
biệt : Liên doanh Lever Việt Nam có trụ sở tại Hà Nội, Elida P/S tại Thành phố Hồ chí
Minh và Công ty Best Food cũng đặt tại thành phố Hồ Chí Minh. Từ năm 1995 đến
nay Unilever đã đầu tư khoảng 120 tiệu USD trong 3 doanh nghiệp này.Unilever Việt
Nam hiện nay có 5 nhà máy tại Hà Nội, Củ chi, Thủ Đức và khu công nghiệp Biên
Hoà. Công ty hiện tại có hệ thống phân phối bán hàng trên toàn quốc thông qua hơn
350 nhà phân phối lớn và hơn 150.000 cửa hàng bán lẻ. Ngay sau khi đi vào hoạt động
năm 1995, các sản phẩm nổi tiếng của Unilever nhưOmo, Sunsilk, Clear, Dove,
Pond’s, Close-up, Cornetto, Paddle Pop, Lipton, Knorr cùng các nhãn hàng truyền
thống của Việt Nam là Viso, và P/S đã được giới thiệu rộng rãi và với ưu thế về chất
lượng hoàn hảo và giá cả hợp lý phù hợp với túi tiền của người tiêu dùng Việt Nam
cho nên các nhãn hàng này đã nhanh chóng trở thành những hàng hoá được tiêu dùng
nhiều nhất tại thị trường Việt Nam và cùng với nó công ty Unilever đã nhanh chóng có
lãi và thu được lợi nhuận không nhỏ trên thị trường Việt Nam
2.2. Các sản phẩm chính của Unilever Việt Nam
Unilever Việt Nam hiện có tổng cộng 22 nhãn hàng, được chia thành 4 loại chính:
 Thực phẩm: Knorr, Lipton, Wall’s
 Sản phẩm chăm sóc gia đình: Comfort, Omo, Surf, Vim, Viso, Sunlight, CIF

vẫn là sản phẩm OMO. Để cạnh tranh với những tên tuổi này quả thật là một bài
toán khó Ngày nay, đời sống người dân ngày càng nâng cao, trình độ khoa học kỹ
thuật phát triển thì công việc giặt giũ không còn là vấn đề quá nặng nề đối với chị
chúng em nội trợ. Tất cả đã có chiếc máy giặt hỗ trợ hoàn toàn tự động. Công việc chị
chúng em là chọn loại bột giặt đáng tin cậy, bỏ vào nhấn nút và chỉ có việc phơi khô là
xong. Chuyện máy giặt cũng chỉ liên quan đến những gia đình khá giả. Phần đông
người dân mình vẫn giặt bằng tay, nên nhãn hiệu bột giặt OMO vẫn có cơ hội chiếm
được niềm tin của người tiêu dùng không phải bằng quảng cáo mà bằng chất lượng và
giá cả hợp với thu nhập người dân. Vì thế tại thị trường nội địa nhãn hiệu bột giặt
OMO vẫn là sự lựa chọn hàng đầu của nhiều người dân vì giá cả hợp lý, chất lượng
đảm bảo.
3.1.2.Về sản phẩm
Sản phẩm của OMO đa dạnh và phong phú từ những sản phẩm giặt tay đến những
sản phẩm dùng cho máy giặt. Có đầy đủ các kích cỡ có những gói lớn phù hợp với
việc sử dụng trong gia đình , và những gói nhỏ Giá thành thấp phù hợp với túi tiền
người tiêu dùng đặc biệt là sinh viên.
Bao bì sản phẩm đẹp bắt mắt. thể hiện đầy đủ những thông tin về sản phẩm
Kiêu dáng sản phẩm đa dạng phong phú và đặc biệt chất lượng sản phẩm rất tốt
được người tiêu dùng bình chọn
3.2. Cơ hội Marketing của OMO
3.2.1. Môi trường vi mô:
3.2.1.1. Các trung gian marketing của OMO:
Trung gian phân phối: Omo là sản phẩm thiết yếu, cần cho tất cả mọi người, mọi
gia đình. Để Omo được phân phối rộng rãi và rộng khắp thì cần có một hệ thống cung
cấp dịch vụ sản phẩm phù hợp: siêu thị, đại lý, cơ sở sỉ và lẻ…trong đó bán lẻ là thích
hợp và số lượng là đông nhất, tuy nhiên cần linh hoạt đối với từng vị trí, vùng…có
phân phối riêng. Sản phẩm Omo cần có nhiều loại sản phẩm để đáp ứng đầy đủ nhất
nhu cầu của khách hàng.
Tổ chức cung cấp dịch vụ và lưu thông sản phẩm để cung cấp, phân phối sản phẩm
Omo đến tay người tiêu dùng mà chất lượng sản phẩm tốt nhất thì cần có tổ chức này

bá thương hiệu do vậy để đạt được mục đích Unilever phải không ngừng quan tâm
cũng như có hoạt động đẩy mạnh uy tín thương hiệu;
3.2.2. Môi trường vĩ mô
3.2.2.1.Kinh tế :
tác động đến khả năng tiêu dùng của khách hàng và tạo ra những biến thể của sản
phẩm Omo đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng: tiện dụng, chất lượng, thẩm mỹ…
Omo của Unilever đã phần nào đáp ứng được nhu cầu đó:
+Tính tẩy trắng Omo
+Đa dạng mẫu mã, trọng lượng : 100g, 800g, 3kg
Cùng tình hình hiện nay thu nhập dân chúng tăng lên, thời gian hạn hẹp do đó
cần sản phẩm tiện dụng giúp tiết kiệm chi phí, thời gian, nhưng hiệu quả cao dẫn đến
sự ra đời của Omo hương ngàn hoa giúp bà nội trợ tiết kiệm thời gian cho việc mua
sắm, phù hợp chi tiêu của họ.
3.2.2.2.Tự nhiên :
Là nguồn đầu vào cần thiết cho doanh nghiệp và tác động đến hoạt động
marketing của doanh nghiệp. Ngày nay nguồn tài nguyên cung cấp cho việc sản xuất
ngày càng cạn kiệt do đó ảnh hương lớn đến sản xuất sản phẩm Omo như chi phí tăng
dẫn đến giá tăng. Để khắc phục tình trang này Omo liền thay đổi hình ảnh của mình để
Thực hiện: Lớp: Trang 7

Chiến lược Marketing sản phẩm bột giặt OMO của Unileve
hấp dẫn khách hàng như màu truyền thống của Omo là đỏ trắng và xanh dương đậm
thì xuất hiện màu xanh lá cây và cam tươi tuy nhiên một số sản phẩm đã giảm tiêu thụ
do giá tăng.
3.2.2.3. Công nghệ:
Giúp doanh nghiệp tạo ra nhiều dòng sản phẩm và tăng tính cạnh tranh vì vậy
Unilever Việt nam luôn chú trọng áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động bán
hàng; sản xuất sản phẩm làm cho Omo ngày càng đa dạng, giá thành lại không cao,
thông tin sản phẩm ngày càng nhiều trên báo chí, truyền hình, internet do vậy Omo
ngày càng gần gũi hơn với người tiêu dùng.

hàng tốt nhất, đáp ứng mọi nhu cầu tiêu dùng, nhãn hàng Omo có rất nhiều kích cỡ:
400g, 800g, 1.5kg, 3kg, 4.5kg, 5hộp/ thùng
Thực hiện: Lớp: Trang 8

Chiến lược Marketing sản phẩm bột giặt OMO của Unileve
3.3.1.2. Giá và chiến lược định giá.
Giá là thành phần không kém phần quan trọng trong Marketing mix bao gồm giá
bán sỉ, giá bán lẻ, chiết khấu, giảm giá, tín dụng. Giá phải tương xứng với giá trị nhận
được của khách hàng và có khả năng cạnh tranh. Nhận biết 80% người tiêu dùng Việt
Nam sống ở vùng nông thôn có thu nhập thấp, Unilever Việt Nam đã đề ra mục tiêu
giảm giá thành sản xuất nhằm đchúng em lại mức giá cả hợp lý cho người tiêu dùng.
Công ty đã dựa vào các doanh nghiệp nhỏ địa phương để tìm các nguyên liệu tại chỗ
thay thế một số loại phải nhập khẩu; điều này vừa giảm được chi phí mua hàng vừa
đóng thuế nhập khẩu ít hơn. Ngoài ra, công ty cũng phân bố việc sản xuất, đóng gói
cho các vệ tinh tại các khu vực Bắc, Trung , Nam để giảm chi phí vận chuyển và kho
bãi. Unilever cũng đã thực hiện chính sách hỗ trợ tài chính giúp các doanh nghiệp địa
phương có thể nâng cấp trang thiết bị sản xuất, chuyển giao kỹ thuật, tổ chức các
chương trình huấn luyện sản xuất. Thực tế thì ở Việt Nam sản phẩm nổi tiếng thế giới
Omo do người Việt Nam sản xuất. Omo đã đánh đúng nhu cầu người tiêu dùng ở thời
điểm đó: Người tiêu dùng cần một loại bột giặt chất lượng tốt , đặc biệt khả năng giặt
tẩy rất tốt, và giá vừa phải.
Omo đã sử dụng chiến lược giá thâm nhập thị trường . Trong khoảng 5 năm đầu,
công ty vẫn giữ giá bán và chất lượng không thay đổi dù giá các loại sản phẩm khác
cùng loại tăng do ảnh hưởng của giá nguyên liệu, giá xăng dầu tăng. Các biện pháp
này giúp Omo dần dần giành lấy thị phần cao. Bột giặt Omo và Tide chiếm lĩnh thị
trường và cạnh tranh gay gắt . Kinh nghiệm của Unilever trong môi trường cạnh tranh
với đối thủ truyền kiếp P&G: “nếu 2 đối thủ cạnh tranh có thị phần gần ngang bằng
nhau, đối thủ nào tăng thị phần có thể giành sự khác biệt cả về doanh số và chi phí và
do đó đưa đến lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ”. Không có lý do gì để bị mất thị phần. Vì
việc mất thị phần luôn đi kèm với giảm lợi thế cạnh tranh, giảm lợi nhuận, chi phí cao

nhằm mục đích nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường. Khi giá giảm đến mức sàn, nhắm
không gồng nổi nữa họ bèn rủ nhau tăng giá. Lúc này người tiêu dùng đã quen thuộc
với thương hiệu Omo nên dù có tăng giá đôi chút họ vẫn sẵn sàng móc hầu bao ra trả,
Omo bảo vệ được thị phần.
Omo lúc này tự định vị mình là trắng sạch với slogan: Omo – chuyên gia giặt tẩy
vết bẩn. Chiến lược định vị này trất thành công vì khi nghĩ đến Omo. người ta nghĩ
ngay đến đặc tính “trắng sạch”.
Ngoài chiến lược quảng cáo “dội bom” trên truyền hình, báo chí, Omo còn kết hợp
với hàng loạt hoạt động marketing khác để quảng bá thương hiệu. Năm 2002 đánh dấu
sự ra đời của một chương trình PR thành công của Omo, được dân trong nghề đánh giá
cao là chương trình “Omo áo trắng ngời sáng tương lai”. Chương trình cũ xì này vẫn
được duy trì đế tận bây giờ vì nó vẫn tiếp tục đchúng em lại hiệu quả marketing lớn.
Từ cuối năm 2005 chúng ta được chứng kiến một bước chuyển mình mới của Omo
với chiến lược marketing hướng về cộng đồng. OMO thực sự định vị trên một tầm cao
mới. Bà Nguyễn Thị Mai, brand manager của Omo cho chúng ta biết: “Omo đựơc định
vị dựa trên việc khai thác sự trải nghiệm và phát triển của trẻ chúng em. Tất cả mọi
hoạt động của Omo đều hướng đến mục tiêu định vị này”.
Thật vậy, Omo đã qua thời quảng bá thương hiệu với tính năng của sản phẩm, họ
đã tạo được “brand awareness” tức sự nhận biết thương hiệu đối với khách hàng. Và
đây là lúc họ bước vào thời kỳ “cao cấp” hơn: củng cố thương hiệu và xây dựng tình
cảm của khách hàng đối với thương hiệu.
Hàng loạt chương trình ra đời đều hướng đến mục tiêu nhất quán này: tổ chức các
chương trình hướng về cộng đồng như “ngày hội những chiếc túi tài năng”, “OMO áo
trắng ngời sáng tương lai, ngày hội “Triệu tấm lòng vàng”, “Tết làm điều phúc sung
túc cả năm”, khuyến mãi “Vạn tim vàng cho triệu tấm lòng vàng”, chương trình sơn
trường học tại 6 tỉnh vùng sâu vùng xa, hỗ trợ 3000 sinh viên về quê ăn tết… Các
chương trình đã thực sự mang lại lợi ích thiết thực cho xã hội và Omo nhanh chóng
“ghi điểm” trong mắt với khách hàng.
3.3.3. Truyền thông (PR)
Chúng ta có thể thấy thập thò bóng dáng của PR trong tất cả các hoạt động gần đây

công ty, mỗi doanh nghiệp cần xác định được cho mình một thị trường mục tiêu và
làm thế nào xây dựng được vị thế trong tâm trí khách hàng mục tiêu, thỏa mãn được
nhu cầu của họ. Để làm được điều đó, doanh nghiệp cần xây dựng cho mình chiến
lược phù hợp và triển khai có hiệu quả. Marketing coi định vị thị trường là chiến lược
chung nhất, chi phối mọi chương trình marketing được áp dụng ở thị trường mục tiêu.
Chiến lược định vị thị trường được xchúng em là tất yếu. OMO không phải là một
ngoại lệ
Thị trường bột giặt ở Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ luôn có sự cạnh tranh gay
gắt. Trên thị trường Việt Nam hiện có nhiều loại bột giặt: Omo, Tide, Viso, Vì dân…
Omo bây giờ với vị thế dẫn đầu đang có sự cạnh tranh của nhiều đối thủ giành giật vị
trí: Tide – đối thủ sừng sỏ, Vì dân – “một ngôi sao đang lên”…Vì vậy việc xây dựng
một chiến lược định vị hiệu quả để có thể định vị được vị trí trong tâm trí khách hàng
mục tiêu là vô cùng quan trọng. OMO đã chon thị trường mục tiêu của mình là các sản
phẩm bọt giặt cho gia đình và cho học sinh sinh viên với chương trình “ OMO áo
trắng ngời sang tương lai”
Khúc Thị trường Omo lựa chọn:
-Omo tẩy trắng hướng đến những đối tượng tiếp xúc môi trường nhiều chất bẩn.
-Omo hương ngàn hoa hướng đến người thích khẳng định mình, và các đối tượng
muốn tiếp kiệm phần nước xả vải.
-Omo matic dùng cho các đối tượng khách hàng sử dụng máy giặt
Quy mô đô thị & Mật độ: Omo chủ yếu tấn công vào các thành phố, thị trấn lớn
trong cả nước. Vì đây là thị trường hấp dẫn và khả năng sinh lời cao. Mật độ dân số ở
các vùng này là tương đối lớn, nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm giặt tẩy cao.
Thực hiện: Lớp: Trang 11

Chiến lược Marketing sản phẩm bột giặt OMO của Unileve
Giới tính: Bao gồm cả nam và nữ. Tuy nhiên, đối tượng nhắm tới chủ yếu là các
bà nội trợ, là người quyết định chính trong việc lựa chọn nhãn hiệu các sản phẩm tiêu
dùng cho gia đình. Cụ thể là khi lựa chọn nhãn hiệu bột giặt cho gia đình, yếu tố họ
quan tâm tới là khả năng giặt tẩy, do đó Omo chọn chức năng chính của mình là khả

3.4.4. Promoto - Xúc tiến hỗn hợp
OMO có Các hoạt động quảng cáo của ICP rất lớn ,trên tất cả các phương tiện
thông tin đại chúng .Cho thấy sự chuyên nghiệp trong hoạt động Marketingcủa họ
Bên cạnh đó, có thể thấy rất nhiều bài báo nói về OMO như một thương hiệu thành
công (hàng Việt Nam chất lượng cao)
Thực hiện: Lớp: Trang 12

Chiến lược Marketing sản phẩm bột giặt OMO của Unileve
3.5. Chiến lược xúc tiến hỗn hợp
Xúc tiến là một loạt hỗn hợp các hoạt động : Quảng cáo, khuyến mãi, quan hệ công
chúng, bán hàng trực tiếp và marketing trực tiếp. Thông thường thì doanh nghiệp đã
chiếm lĩnh được thị phần cao thì không cần tốn nhiều chi phí cho các hoạt động xúc
tiến nhưng vẫn bán được hàng. Tuy nhiên, Unilever là công ty hàng tiêu dung – một
mặt hàng gần gũi và cần thiết hàng ngày đối với người tiêu dùng. Khi cần một sản
phẩm họ không chờ quá lâu để tìm hiểu hoặc tìm đến với sản phẩm ưa thích. Họ cần
sự tiện lợi rất nhiều và vì thế nếu xchúng em nhẹ các hoạt động xúc tiến thì khách
hàng sẽ bỏ quên nhãn hiệu đó. Bên cạnh là sự cạnh tranh lớn của các đối thủ đặc biệt
là kỳ phùng địch thủ P&G luôn có những sản phẩm ngang tầm với Unilever, chỉ hơn
nhau là sự quảng bá sản phẩm. Khi mới xâm nhập vào thị trường Việt Nam, nhãn hàng
Omo của Unilever đã kết hợp tất cả các hoạt động xúc tiến đặc biệt là quảng cáo và
bán hàng trực tiếp.Nhãn hiệu Omo đã “nằm lòng” trong người tiêu dùng Việt Nam.
Omo mở đầu bằng những mẩu quảng cáo nêu bật tính năng giặt tẩy vượt trội của mình.
Đặc trưng nhất là phỏng vấn người tiêu dùng về những trải nghiệm của họ khi dùng
bột giặt Omo. Ngoài ra thì công ty tổ chức các hoạt động bán hàng cá nhân, với việc là
tuyển đội ngũ nhân viên có khả năng tiếp thị bán hàng đến các hộ gia đình để bán và
giới thiệu sản phẩm, giải đáp các thắc mắc một cách trực tiếp và tiếp nhận những phản
ánh của người tiêu dùng về sản phẩm,chú trọng đến đối tượng là các bà nội trợ. Đến
những nơi cộng cộng để phát miễn phí các gói bột giặt Omo loại nhỏ để khách hàng
dùng thử. Đặc biệt là công ty còn đưa người về các địa phương, các vùng nông thôn là
những nơi ít có điều kiện tiếp xúc với quảng cáo để bán hàng trực tiếp, và hướng dẫn,

Lê Văn Tám để tạo ra điểm nhấn, theo đó là các chương trình phỏng vấn các chuyên
gia, các bài bàn luận của độc giả tạo ra dư luận có lợi Đối thủ cạnh tranh khốc liệt của
Unilever là P&G. Tại Việt Nam, họ cũng có những sản phẩm trực tiếp đối đầu với
nhau trong đó có tide và Omo.Do P&G chưa làm mạnh các khâu quảng cáo nên sản
phẩm của họ có vẻ lép vế hơn so với Unilever. Chứng tỏ một điều Unilever đã làm tốt
các hoạt động xúc tiến, đưa nhãn hiệu sản phẩm đến với người tiêu dùng.
3.6. Hệ thống phân phối
Năm 1995, Unilever vào Việt Nam và quyết định tạo ra một hệ thống tiếp thị và
phân phối trên toàn quốc, bao quát hơn là 100.000 địa điểm. Unilever đã đưa khái
niệm tiêu thụ bán lẻ trực tuyến, sử dụng nhân viên bán hàng đến từng cửa hàng bán lẻ
theo tuyến, những nhân viên này có nhiệm vụ chào các đơn đặt hàng mới, giao hàng
và cấp tín dụng cho các đơn hàng tiếp theo. Các điểm bán lẻ được cấp tủ trưng bày
hàng năm sử dụng tối đa không gian cho cửa hàng của họ và tính bắt mắt của sản
phẩm. Ngoài ra, công ty còn giúp đỡ các hãng phân phối dàn xếp các khoản cho vay
phương tiện đi lại, đào tạo quản lý và tổ chức bán hàng.
Hiện nay, khi nền kinh tế Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ, đánh
dấu bằng vệc gia nhập WTO, tạo điều kiện cho việc phân nhóm thị trường, các công ty
tăng dần chất lượng phân phối. Công ty Unilever Việt Nam bắt đầu phân nhóm thị
truờng không đơn thuần là phân ra 7 khu vực bán hàng như Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc
Miền Trung, Nam Miền Trung, Miền Đông, TPHCM, và đồng bằng Sông Cửu Long,
mà phân ra cấp độ ưu tiên. Unilever đã phân các thành phố lớn vào 1 nhóm, nhóm
kênh phân phối truyền thông 2 (GT2) bao gồm TPHCM và Hà Nội, nhóm GT4 bao
gồm GT2 và Đà Nẵng, Cần Thơ; nhóm GT 8 gồm GT4 và Hải Phòng, Vinh, Nha
Trang, Biên Hòa. Do vậy, ta càng thấy rõ sự phát triển mạnh mẽ của các kênh phân
phối, tạo điều kiện cho công ty bán được nhiều hàng và thu lợi nhuận lớn Omo là hàng
hóa tiêu dùng cá nhân, do vậy kênh phân phối cũng có sự khác biệt so với các mặt
hàng khác.
Thứ nhất, là một kênh trực tiếp từ người sản xuất bán trực tiếp cho người tiêu
dùng cuối cùng.
Người tiêu dùng hiện nay đã có lòng tin nhất định vào sự giới thiệu của các

Đây được gọi là kênh 2cấp. Với kênh phân phối này, sản phẩm Omo được bán
tại các trung tâm thương mại phân phối lớn như Metro Bình Phú tại TPHCM hay tại
các hệ thống Metro khác trên 5 thành phố lớn của Việt Nam . Tại đây, sản phẩm bột
giặt Omo của Unilever được cung cấp với số lượng lớn cho các nhà bán lẻ như các
doanh nghiệp, các khách hàng mua bán chuyên nghiệp, những chi nhánh khác kinh
doanh bán lẻ cho người tiêu dùng rồi mới đưa đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Với
kênh phân phối này, dòng sản phẩm của Omo chủ yếu hướng đến các nhà bán lẻ với số
lượng lớn.
Nhà sản xuất => đại lý => nhà bán buôn => nhà bán lẻ => người tiêu dùng.
Đây còn được gọi là kênh 3 cấp. Sản phẩm sau quá trình sản xuất được đưa đến
các đại lý đại diện cho công ty để thực hiện giao dịch với khách hàng.Hệ thống đại lí
độc quyền trong một vùng nhất định mà công ty nước ngoài áp dụng như Unilever.
Hiện nay, công ty Unilever Việt Nam có một trung tâm phân phối hàng hóa được
xchúng em là lớn và hiện đại nhất tại Việt Nam . Trung tâm phân phối này đươc đặt tại
Bình Dương với trang thiết bị và cách bố trí điều hành hết sức khoa học và hiện đại.
Hàng hóa sau khi sản xuất tại nhà máy sẽ tập kết về trung tâm này, tiếp đó được vận
chuyển đến các đại lí ở Miền Trung (từ Nha Trang trở vào) và khu vực miền Nam,
miền tây, đồng thời đây cũng là điểm trung chuyển hàng hóa từ TPHCM ra 2 trung
tâm phân phối của Unilever tại Hà Nội và Đà Nẵng.
Như vậy, chiến lược phân phối là mở rộng thị trường, mở rộng các đại lí, tăng
dần về số lượng và chất lượng các kênh phân phối.
Thực hiện: Lớp: Trang 15

Chiến lược Marketing sản phẩm bột giặt OMO của Unileve
CHƯƠNG 4: ĐỊNH VỊ TRONG THỊ TRƯỜNG
Định vị là một trong những khâu mà Unilever làm tốt nhất. Với Omo, không
một ngừơi tiêu dùng nào mà lại không biết sản phẩm này. Bằng những chiến lược
định vị của công ty, Omo đã tạo ra những sự khác biệt đối với đối thủ cạnh tranh. Bột
giặt Omo được định vị bằng những slogan sau:
- Omo_Đánh bật ngay vết bẩn đã khô

được như vậy việc hoạch định ra các chiến lược, phân tích cặn kẽ môi trường, các yếu
tố tác động là vô cùng quan trọng. Unilever, một trong những công ty nước ngoài phát
triển bậc nhất ở Việt Nam thông qua việc tìm hiểu từ chính trị, luật pháp, phong tục
của người Việt Nam đã đưa ra các chiến lược phù hợp, đạt được hiệu quả cao trong thị
trường Việt Nam. Để đạt được những thành công ấy là sự nỗ lực không ngừng, tìm
hiểu không ngừng và kiểm tra thực hiện các chiến lược ấy.
Ngày nay tất cả các công ty luôn phải hoạt động trong môi trường cạnh tranh khốc
liệt và các đối thủ cạnh tranh liên tục thay đổi chính sách nhằm thu hút khách hàng về
phía mình. Mỗi loại hàng hoá, người tiêu dùng đứng trước rất nhiều sự lựa chọn khác
nhau về chủng loại và nhãn hiệu hàng hoá. Đồng thời nhu cầu của khách hàng cũng
ngày càng phong phú đa dạng. Do đó khách hàng có quyền lựa chọn những hàng hoá
có sức hấp dẫn nhất thoả mãn tối đa nhu cầu và lợi ích của mình.
Với những chiến lược marketing đã nêu, Omo ngày càng định vị thương hiệu của
mình đối với người tiêu dùng và có vị trí dẫn đầu trong thị trường tiêu dùng bột giặt
Việt Nam.
Tại thị trường nội địa nhãn hiệu bột giặt OMO vẫn là sự lựa chọn hàng đầu của
nhiều người dân vì giá cả hợp lý, chất lượng đảm bảo. Chính vì thế OMO ngày càng
lớn mạnh cùng tên tuổi của Unilever.
Thực hiện: Lớp: Trang 17

Chiến lược Marketing sản phẩm bột giặt OMO của Unileve
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáotrình Quản Trị Học (trường đại học CN TP.HCM)
2. Giáo trình Marketing Căn Bản
3. Tài liệu trên mạng
Thực hiện: Lớp: Trang 18

Chiến lược Marketing sản phẩm bột giặt OMO của Unileve
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1

3.4.1. Product - Sản phẩm 12
3. 4.2.Price - Giá 12
3.5. Chiến lược xúc tiến hỗn hợp 13
3.6. Hệ thống phân phối 14
CHƯƠNG 4: ĐỊNH VỊ TRONG THỊ TRƯỜNG 16
KẾT LUẬN 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Thực hiện: Lớp: Trang 20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status