TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
LỜI MỞ ĐẦU
Xuất phát từ quan niệm về bản chất của con người và về phương thức xác
định bản chất của sự "tồn tại người" của triết học Mác, chúng ta có thể đi tới
một kết luận rằng nếu tự nhiên là cái nôi đầu tiên của sự hình thành và phát
triển con người thì văn hóa là cái nôi thứ hai. Nếu tự nhiên là cái quy định sự
tồn tại của con người với tư cách là một thực thể sinh vật, thì văn hóa là
phương thức bộc lộ, phát huy những năng lực bản chất người gắn liền với các
hoạt động sống của con người. Nói cách khác, văn hóa là sự kết tinh năng lực
bản chất người trong thế giới các sản phẩm do chính hoạt động con người tạo
ra, là cái quy định bản chất con người với tư cách là một "sinh vật có tính
loài" - là "một thực thể xã hội".
Chúng ta đang sống trong thập kỷ thế giới về văn hóa và phát triển
do UNESCO phát động. Vấn đề văn hóa trở thành trung tâm chú ý của giới
nghiên cứu trên thế giới. Ở nước ta, mấy năm gần đây, đặc biệt là từ khi bước
vào thời kỳ đổi mới, vấn đề văn hóa cũng được tập trung đề cập. Mặc dù góc
độ nghiên cứu, phương pháp tiếp cận có thể khác nhau nhưng người ta đều
nhất trí rằng văn hóa là một cái gì đó giúp cho con người "không bị đứt đoạn
với quá khứ", "không bị hẫng hụt trước tương lai", và là sự chuẩn bị đầy đủ
"hành trang của con người để bước vào thế kỷ XXI. Với ý nghĩa đó, sẽ không
thỏ đáng nếu những người nghiên cứu mácxít chúng ta lại không hình thành
được cho mình một phương hướng nghiên cứu (tiếp cận) vấn đề văn hóa theo
quan điểm triết học Mác. Đây là vấn đề có ý nghĩa thời sự về lý luận và thực
tiễn. Dưới đây là sự trình bày một vài suy nghĩ của tác giả với mong muốn
góp một phần nhỏ vào mối quan tâm chung đó.
Chính vì tầm quan trọng của văn hóa trong xã hội hiện nay, chúng em
đã chọn đề tài “ quan điểm của Mác Lênin về văn hóa, vận dụng quan
điểm của Mac để xây dựng tư tưởng lối sống trong sinh viên”
GVHD: Đào Thị Phú Lớp: CDTH13TH
SVTH: Nguyễn Văn Tuấn MSSV: 11010703
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
giai cấp vô sản trở thành bị trị thì mâu thuẫn giữa vô sản với tư sản vốn mang
tính đối kháng phát triển trở thành những cuộc đấu tranh giai cấp. Cuộc khởi
nghĩa của thợ dệt ở thành phố Liông (Pháp) năm 1831 tuy bị đàn áp nhưng
lại bùng nổ tiếp vào năm 1834. Ở Anh có phong trào Hiến chương vào cuối
những năm 30 của thế kỷ XIX, là phong trào cách mạng to lớn có tính chất
quần chúng và có hình thức chính trị. Nước Đức nổi lên phong trào đấu tranh
của thợ dệt ở Xilêdi đã mang tính giai cấp.
Trong hoàn cảnh lịch sử đó, giai cấp tư sản không còn đóng vai trò là giai
cấp cách mạng. Ở Anh, Pháp giai cấp tư sản tuy nắm quyền thống trị, lại
hoảng sợ trước cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản nên không còn là vị trí tiên
phong trong quá trình cải tạo dân chủ như trước. Còn giai cấp tư sản Đức
đang lớn lên trong lòng xã hội phong kiến, vốn đã khiếp sợ bạo lực cách
mạng khi nhìn vào tấm gương Cách mạng tư sản Pháp 1789, nay lại thêm sợ
hãi trước sự phát triển của phong trào công nhân Đức. Vì vậy, giai cấp vô sản
xuất hiện trên vũ đài lịch sử với sứ mệnh xoá bỏ xã hội tư bản và trở thành
lực lượng tiên phong trong cuộc đấu tranh cho nền dân chủ và tiến bộ xã hội.
Như vậy, thực tiễn xã hội, nhất là thực tiễn của phong trào đấu tranh của
giai cấp vô sản đòi hỏi phải được soi sáng bởi một hệ thống lý luận, một học
thuyết triết học mới. Học thuyết đó phải xuất hiện để định hướng phong trào
đấu tranh nhanh chóng đạt được thắng lợi. Sự xuất hiện của giai cấp vô sản
trên vũ đài lịch sử và phong trào đấu tranh của họ đã tạo ra nguồn tư liệu quý
báu về thực tiễn xã hội để Các Mác và Ph. Ăngghen khái quát xây dựng
những quan điểm triết học.
-Nguồn gốc lí luận và tiền đề khoa học tự nhiên
Để xây dựng học thuyết của mình ngang tầm với trí tuệ nhân loại, Các
Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa những thành tựu trong lịch sử tư tưởng nhân
loại. Triết học Đức với hai nhà triết học tiêu biểu Hêghen và Phoiơbắc là
nguồn gốc trực tiếp của triết học Mác. Các Mác và Ph.Ăngghen đã từng là
những người theo học triết học Hêghen và nghiên cứu triết học Phoiơbắc.
GVHD: Đào Thị Phú Lớp: CDTH13TH
phải giải quyết vấn đề cơ bản của triết học là vấn đề "mối quan hệ giữa tư
GVHD: Đào Thị Phú Lớp: CDTH13TH
SVTH: Nguyễn Văn Tuấn MSSV: 11010703
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
duy và tồn tại". Điều đó cũng có nghĩa là bất kỳ triết học nào cũng đều phải
trả lời bằng cách này hay bằng cách khác câu hỏi tổng quát về vai trò của con
người đối với thế giới. Triết học Mác cũng xuất phát từ con người và trở lại
với con người. Con người trong triết học Mác là "cái xã hội". Con người
trước hết phải là một "thực thể tự nhiên", là con người "sinh học" với tư cách
là một bộ phận của giới tự nhiên, gắn bó chặt chẽ với tự nhiên và chịu sự quy
định của những quy luật tự nhiên. Mác nói "tự nhiên là thân thể vô cơ của
con người". Nhưng cái quy định bản chất của con người, cái tạo nên sự khác
biệt về chất có "tính tộc loại" để phân biệt con người với tư cách là một "thực
thể xã hội". Trong "Luận cương về Phoiơbắc (1845) Mác viết: " bản chất
con người không phải là cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong
tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội".
Trong nhiều tác phẩm của mình, Mác đã bàn đến "tính xã hội" của con người
(của bản chất con người) trong các hoạt động sống của họ như là những tiền
đề đầu tiên của sự tồn tại và sáng tạo. Như vậy, cái làm nên bản chất người,
cái tạo nên sự khác biệt giữa con người với bất kỳ giống loài nào của tự
nhiên, không có gì khác chính là những "hoạt động sống" của con người.
Trong "Bản thảo kinh tế - triết học" (1844) Mác viết: "Súc vật cố nhiên cũng
sản xuất nhưng súc vật chỉ sản xuất cái mà bản thân nó cần đến, sản xuất
một chiều; còn con người thì sản xuất một cách phổ biến; súc vật chỉ sản xuất
dưới sự thống trị của nhu cầu vật chất trực tiếp, trong khi đó con người sản
xuất ngay cả khi thoát khỏi nhu cầu vật chất, và chỉ khi thoát khỏi nhu cầu đó
thì mới sản xuất theo ý nghĩa chân chính của chữ đó; súc vật chỉ tái sản xuất
ra bản thân mình, còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộ tự nhiên". Như
vậy, nếu nói "hoạt động" thì con vật cũng hoạt động theo một nghĩa nào đó.
Nhưng sự khác biệt về chất giữa hoạt động của con người với hoạt
chất người gắn liền với các hoạt động sống của con người. Nói cách khác,
văn hóa là sự kết tinh năng lực bản chất người trong thế giới các sản phẩm do
chính hoạt động con người tạo ra, là cái quy định bản chất con người với tư
cách là một "sinh vật có tính loài" - là "một thực thể xã hội".
GVHD: Đào Thị Phú Lớp: CDTH13TH
SVTH: Nguyễn Văn Tuấn MSSV: 11010703
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
Như vậy, văn hóa là khái niệm phản ánh tổng thể sự thể hiện
ra và sự phát huy những năng lực bản chất người trong tất cả các dạng thứ
tồn tại hoạt động của con người và là sự phản ánh tổng thể các hệ thống giá
trị do con người sáng tạo ra trong quá trình thực tiễn - lịch sử - xã hội của
mình.
Khái niệm văn hóa được xác định trên hai phương diện:
- Phương diện thứ nhất: Văn hóa gắn với sự biểu hiện của phương
thức tồn tại người, là sự thể hiện đầy đủ nhất bản chất con người trong tất cả
mọi dạng hoạt động của con người như hoạt động thực tiễn, hoạt động nhận
thức, hoạt động giao tiếp, và cả những hoạt động có tính chất thể chất của
con người, v.v Như vậy là văn hóa có mặt trong mọi lĩnh vực: kinh tế,
chính trị, xã hội, quan hệ giao tiếp, ứng xử, đạo đức, lối sống và cả ở trong
mọi khía cạnh, mọi sự tồn tại tinh thần vô cùng đa dạng, phong phú của lĩnh
vực tư duy của con người. Nếu văn hóa là cái gắn với phương thức của sự tồn
tại người thì có thể nói một cách bao quát: Tất cả những gì có quan hệ với
con người (con người với tư cách là con người cá nhân và xã hội) và mọi
cách thức tồn tại của nó đều có liên quan với văn hóa. Không thể có sự tồn tại
các khái niệm "văn hóa tiêu cực", "sản phẩm văn hóa độc hại", "giá trị văn
hóa tiêu cực", v.v Đó chỉ có thể là những hiện tượng giả núp dưới hình thức
những ấn phẩm văn hóa hay các hoạt động văn hóa. Về thực chất, chúng xa
lạ đối với con người, và do vậy cũng xa lạ đối với văn hóa. Chúng tồn tại như
là những phạm trù đối lập dùng để chỉ những hình thức "tha hóa" của văn
hóa, như là cái "phản văn hóa", "phản giá trị".
lý tưởng, v.v Về thực chất, sự phân chia đó chỉ có ý nghĩa tương đối. Cái
gọi là "văn hóa vật chất" thực ra cũng chỉ là sự "vật chất hóa" các giá trị tinh
thần và bản thân các giá trị tinh thần thì không phải bao giờ cũng tồn tại
thuần túy tinh thần mà thường được "vật thể hóa" trong các dạng tồn tại vật
chất. Đó là cha kể đến những giá trị văn hóa tinh thần tồn tại tiềm tàng dưới
dạng "phi vật thể" nhưng vẫn mang tính tồn tại vật chất khách quan như văn
hóa trong các lĩnh vực quan hệ đạo đức, giao tiếp, ứng xử, trong phong cách
lối sống, phong tục tập quán, v.v
GVHD: Đào Thị Phú Lớp: CDTH13TH
SVTH: Nguyễn Văn Tuấn MSSV: 11010703
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
Từ phương hướng tiếp cận vấn đề bản chất của văn hóa theo
quan điểm triết học Mác như đã trình bày ở trên, chúng ta có thể có cách xác
định rõ hơn về nhiều vấn đề khác trong lĩnh vực văn hóa, như các vấn đề:
chức năng của văn hóa; văn hóa và phát triển; giao tiếp văn hóa; và sự hình
thành nhân cách; tiêu chí của phân loại văn hóa; phân biệt khái niệm "văn
hóa" với khái niệm "văn minh"; những vấn đề về bảng giá trị, về bản sắc văn
hóa, v.v
Về chức năng của văn hóa: Trong nhiều tài liệu nghiên cứu văn
hóa ở nước ta hiện nay có nói đến "chức năng nhận thức", "chức năng giáo
dục", "chức năng thẩm mỹ", "chức năng dự báo", v.v của văn hóa. Cũng có
người có cách đề cập khác về chức năng của văn hóa, như đưa ra chức năng
"hành lang an toàn" (với nghĩa tạo môi trường văn hóa thuận lợi cho sự tồn
tại và hoạt động của con người), chức năng "kìm hãm" (của yếu tố nội sinh
đối với yếu tố ngoại sinh trong sự "giao thoa" giữa các nền văn hóa), hay
chức năng "kẻ báo thù" (với nghĩa văn hóa tồn tại trong mối quan hệ biện
chứng với con người. Phá vỡ văn hóa cũng có nghĩa là phá vỡ chính bản thân
con người)v.v Có thể còn có rất nhiều cách đề cập khác nhau, các tên gọi
khác nhau về chức năng của văn hóa. Nhưng xuất phát từ cơ sở lý luận về
bản chất văn hóa của Mác ta có thể nêu lên luận điểm có tính chất khái quát
luôn có sự thể hiện ra một cách khác nhau trong quá trình phát triển cụ thể.
Vì thế, sự thống nhất "Chân - Thiện - Mỹ" với tư cách là cơ sở cho sự thống
nhất biện chứng đó cũng luôn luôn có sự thay đổi. Giá trị là có tính khách
quan, nó là sự thống nhất giữa cái khách quan và cái chủ quan. Chính vì thế,
sự thay đổi hệ thống các chuẩn mực đánh giá giá trị là sự thay đổi hoàn toàn
phù hợp quy luật. Quan điểm của Mác đã giúp ta nhìn nhận một cách tỉnh táo
về vấn đề này và thật sự cần phải có sự nghiên cứu toàn diện, nghiêm túc về
sự thay đổi các thang bậc giá trị trong điều kiện những biến đổi về kinh tế -
xã hội trong thời kỳ đổi mới.
Suy cho cùng, nếu xét sự thống nhất "Chân - Thiện - Mỹ" với tư
cách là chuẩn mực của mọi hoạt động văn hóa (trong đó có hoạt động đánh
GVHD: Đào Thị Phú Lớp: CDTH13TH
SVTH: Nguyễn Văn Tuấn MSSV: 11010703
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
giá), thì về mặt ý nghĩa của nội dung là hoàn toàn phù hợp, đúng đắn. Nhưng
sự tồn tại của bản thân những phạm trù ấy vẫn không hoàn toàn thoát khỏi
"những trừu tượng chủ quan". Cái gốc (chuẩn mực) của sự đánh giá giá trị
văn hóa, dù được trình bày dưới các phạm trù nào, hay dưới hình thức nào,
thì nó vẫn phải được xác định bởi sự phù hợp của nó với những mục đích vì
con người, nhằm phát triển con người và vì tiến bộ xã hội trong mỗi một giai
đoạn và vì tiến bộ xã hội trong mỗi một giai đoạn phát triển lịch sử cụ thể.
Có thể hiểu vấn đề đó trong luận điểm của Mác" Mỗi con người đều mang
trong mình bản chất của một Raphaen Và bản chất của một Raphaen đó
"cần phải được tự do phát triển".
Tóm lại, văn hóa là một hiện tượng vô cùng phong phú và phức
tạp. Nó luôn mở ra một phạm vi rộng lớn và ở rất nhiều tầng bậc cho sự
nghiên cứu. Có thể nói như cách nói của một nhà triết học phương Tây hiện
đại (J. Đeriđa): "Văn hóa là bí ẩn tận cùng của con". Nắm vững được quan
điểm của Mác về bản chất của con người và xã hội, và do đó, tiếp cận được
quan điểm của Mác về vấn đề văn hóa sẽ cho ta chìa khóa khám phá thế giới
vững của đất nước. Kế thừa và phát triển những truyền thống văn hóa tốt
đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tích cực và chủ động tiếp thu tinh
hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội.
Xác định rõ những nhiệm vụ của văn hóa, toàn bộ các hoạt động văn hóa
phải tập trung vào xây dựng con người và môi trường văn hóa lành mạnh.
Nâng cao chất lượng cuộc sống của con người là trung tâm của chiến lược
phát triển kinh tế-xã hội. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền
con người với quyền và lợi ích của dân tộc, của nhân dân. Xây dựng con
người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có lý tưởng xã hội và trách nhiệm công
dân, có tri thức, thể lực, thẩm mỹ ngày càng cao, có kỹ năng lao động và đạo
đức nghề nghiệp, trung thực và sáng tạo, có ý chí và bản lĩnh trong xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc.
Phát huy vai trò của văn học, nghệ thuật trong việc bồi dưỡng tư tưởng
tình cảm và khát vọng vươn tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp của con người Việt
GVHD: Đào Thị Phú Lớp: CDTH13TH
SVTH: Nguyễn Văn Tuấn MSSV: 11010703
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập
quốc tế. Phấn đấu có nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng
và nghệ thuật cao, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ, có tác dụng giáo
dục xây dựng con người. Đấu tranh chống các hiện tượng phản văn hóa,
phản thẩm mỹ trên lĩnh vực văn học nghệ thuật.
Đảm bảo quyền được thông tin, quyền tự do sáng tạo của công dân. Phát
triển hệ thống thông tin đại chúng hiện đại, đồng bộ, đa dạng, đáp ứng nhu
cầu thông tin ngày càng cao của nhân dân. Phát triển đi đôi với quản lý tốt
hệ thống thông tin trên mạng.
Tiếp tục đầu tư cho việc bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa vật thể và
phi vật thể của đất nước ở các vùng, các miền, các dân tộc thiểu số, kết hợp
hài hoà việc bảo vệ và phát huy di sản với các hoạt động phát triển kinh tế,
Góp ý vào Báo cáo Chính trị Đại hội XI và Chiến lược phát triển kinh tế-
xã hội 10 năm 2011-2020, phó giáo sư-tiến sỹ Phạm Duy Đức đề nghị
những định hướng lớn về văn hóa cần được trình bày trong Báo cáo Chính
trị của Đại hội XI tập trung vào sáu vấn đề sau:
Thứ nhất, cần tập trung xây dựng con người Việt Nam phát triển về thể
lực, trí lực và tình cảm, có lý tưởng và nhiệt tình cách mạng, trung thành với
sự nghiệp đổi mới, có kỹ năng lao động và sáng tạo, có ý chí và bản lĩnh
trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đáp ứng được yêu cầu
của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế,
phấn đấu vì xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Các phẩm chất cơ bản của con người cần xây dựng là con người công
dân, con người khoa học và con người nhân văn. Đề cao việc xây dựng ý
thức công dân, tinh thần tôn trọng và làm theo Hiến pháp và pháp luật; nâng
cao trình độ khoa học, kỹ thuật và công nghệ; đề cao các giá trị nhân văn,
hướng tới cái đúng, cái tốt và cái đẹp trong hoạt động thực tiễn của mọi
người. Tăng cường giáo dục lý tưởng chính trị, đạo đức xã hội và bản lĩnh
văn hóa cho thanh niên, học sinh, sinh viên. Thực hiện tốt cuộc vận động
học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
GVHD: Đào Thị Phú Lớp: CDTH13TH
SVTH: Nguyễn Văn Tuấn MSSV: 11010703
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
Thứ hai, cần nâng cao chất lượng toàn diện của việc xây dựng đời sống
văn hóa và môi trường văn hóa thông qua đẩy mạnh phong trào thi đua yêu
nước và cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa. Đẩy
mạnh việc xây dựng môi trường văn hóa trong tổ chức đảng và cơ quan nhà
nước, các đoàn thể chính trị xã hội, trong các doanh nghiệp, trong gia đình
và trong cộng đồng dân cư Xây dựng nếp sống văn minh trong xã hội, nhất
là nơi công cộng.
Thứ ba, cần mở rộng và phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ văn
hóa, gắn kết chặt chẽ văn hóa với nhiệm vụ phát triển kinh tế, khai thác tài
công bằng và tiến bộ xã hội. Nâng cao chất lượng của việc xây dựng văn hóa
chính trị, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong tổ chức Đảng và cơ
quan nhà nước. Coi trọng văn hóa lãnh đạo và văn hóa quản lý. Đẩy mạnh
việc bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc. Tổ chức thực hiện tốt
luật sở hữu trí tuệ.
Phát triển mạnh mẽ các ngành nghề sáng tạo và sản xuất các sản phẩm
văn hóa. Đầu tư phát triển ngành công nghiệp văn hóa, nhất là điện ảnh, báo
chí, phát thanh và truyền hình, quảng cáo và trình diễn nghệ thuật Đẩy
mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa. Nâng cao sức cạnh tranh của các
sản phẩm văn hóa trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
Nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ văn nghệ sĩ ở các
trường văn hóa, nghệ thuật, khuyến khích tài năng, tăng cường công tác đào
tạo ở nước ngoài. Có chính sách thu hút và khuyến khích đội ngũ văn nghệ
sĩ tập trung sáng tạo về những chủ đề lớn có ý nghĩa tích cực trong việc xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đổi mới chính sách đãi ngộ và tôn vinh những trí
thức, văn nghệ sĩ tiêu biểu. Đẩy mạnh việc xuất bản, tái bản và quảng bá
những công trình văn hóa, lịch sử, nghệ thuật tiêu biểu của dân tộc. Khuyến
khích văn hóa đọc trong xã hội.
Nâng cao chất lượng toàn diện của các hoạt động thông tin, báo chí, phát
thanh và truyền hình, xuất bản và phát hành sách, tuyên truyền miệng ở tất
GVHD: Đào Thị Phú Lớp: CDTH13TH
SVTH: Nguyễn Văn Tuấn MSSV: 11010703
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
cả các vùng, các miền. Phát triển đi đôi với quản lý tốt mạng Internet. Đẩy
mạnh công tác thông tin và văn hóa đối ngoại.
Nâng cao chất lượng của phong trào thi đua yêu nước và cuộc vận động
toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, nhất là ở khu dân cư, ưu tiên
đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và chăm lo các hoạt động văn hóa ở vùng
đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi, vùng biên giới, hải đảo; xây dựng đời
sống văn hóa ở nông thôn và trong các khu công nghiệp, khu chế xuất tập
NỘI DUNG 1
I. Sự ra đời của chủ nghĩa Mac – Lenin 2
II. Quan điểm của Mac – Lenin về văn hóa 4
III. VẬN DỤNG XÂY DỰNG QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA
MÁC – LÊ NIN VÀO NỀN VĂN HOÁ TIÊN TIẾN ĐẬM ĐÀ BẢN
SẮC DÂN TỘC VIỆT NAM 11
KẾT LUẬN 18
GVHD: Đào Thị Phú Lớp: CDTH13TH
SVTH: Nguyễn Văn Tuấn MSSV: 11010703