Vận dụng tư tưởng của Hồ Chí Minh về văn hóa vào xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam hiện nay - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trần Thị Đào Vận dụng tư tưởng của Hồ Chí Minh về văn hóa vào
xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam hiện nay

Luận văn ThS. Triết học: 60.22.80

Nghd. : TS. Nguyễn Hàm Giá

1.1.3- Chức năng của văn hoá 23
1.2- Tầm quan trọng của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá
trong xây dựng nền văn hoá ở nước ta hiện nay 32
1.2.1- Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá 32
1.2.2- Khai thác giá trị tư tưởng của Hồ Chí Minh về văn hoá để phát triển
đất nước trong điều kiện hiện nay 41
Chương 2: Vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về văn hoá trong xây dựng
nền văn hoá Việt Nam giai đoạn hiện nay – Một số vấn đề đặt ra và giải
pháp 44
2.1- Một số vấn đề đặt ra trong xây dựng nền văn hoá nước ta hiện nay 44
2.1.1- Yêu cầu phát triển văn hoá đi đôi với phát triển kinh tế 44 2
2.1.2- Những biểu hiện tiêu cực của nền văn hoá Việt Nam hiện nay 50
2.2- Xây dựng nền văn hoá Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh 55
2.2.1- Những định hướng cơ bản của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh
về văn hoá 55
2.2.2- Một số giải pháp nhằm xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam
hiện nay 66
Kết luận 78
Danh mục tài liệu tham khảo 80

3
MỞ ĐẦU

1- TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

khỏi môi trường văn hoá thì nhất định sẽ xảy ra mất cân đối nghiêm trọng về cả
mặt kinh tế lẫn văn hoá và tiềm năng sáng tạo của nước ấy sẽ bị suy yếu rất
nhiều” [12,tr 45]. Còn tại Hội nghị liên chính phủ và chính sách văn hoá tại
Stốckhôm - Thụy Điển (1998), đã ghi nhận 12 điểm cam kết, trong đó điểm thứ
11 nói rõ: “Việc bảo vệ các nền văn hoá bản địa và khu vực bị đe doạ bởi quá
trình toàn cầu hoá, không được biến các nền văn hoá thành các di tích và làm
cho văn hoá bị tước đi sức sáng tạo của sự phát triển năng động của chính mình”
[57, tr46].
Do vậy, để chủ động hoà nhập và đóng góp tích cực vào xu thế toàn cầu
hoá, liên kết và hợp tác khu vực và quốc tế, để đẩy mạnh sự tăng trưởng đồng
thời với việc phát triển văn hoá nhằm phát triển bền vững theo định hướng xã
hội chủ nghĩa thì vấn đề xây dựng, phát triển nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản
sắc dân tộc là một vấn đề hết sức cấp bách và rất lâu dài trước sự đòi hỏi của cả
dân tộc và mỗi con người Việt Nam hiện nay.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người con nước Việt, là một nhà văn hoá
kiệt xuất, danh nhân văn hoá thế giới, lãnh tụ cách mạng Việt Nam. Di sản tư
tưởng của Người là hết sức to lớn, trong đó có tư tưởng về văn hoá, xây dựng
nền văn hoá mới… là cơ sở tinh thần của nền văn hoá Việt Nam hiện đại. Ngày
nay, tư tưởng văn hoá của Người vẫn còn nguyên giá trị định hướng xây dựng
nền văn hoá “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với đặc trưng “dân tộc, hiện đại,
nhân văn” vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh”. Do đó, vấn đề nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá và việc vận
dụng tư tưởng của Người vào xây dựng, phát triển nền văn hoá Việt Nam hiện
nay là hết sức cần thiết. Một mặt, nó góp phần giải quyết những vấn đề cấp bách
mà lý luận và thực tiễn đã đặt ra. Mặt khác, nó góp phần tìm hiểu chiều hướng
tiến triển của mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh kế và phát triển văn hoá, xã
hội, giữa hội nhập và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, với tư cách là hai mặt của

5
quá trình phát triển. Qua đó, nó gợi mở những vấn đề có tính phương pháp luận

văn hoá mới ở Việt Nam của Hồ Chí Minh. Một số bài bắt đầu đi vào khai thác,
nghiên cứu những khía cạnh cụ thể của tư tưởng đó và cũng đã nêu lên những ý
kiến đặc sắc. Chẳng hạn trong “ Về tư tưởng văn hoá Hồ Chí Minh”, GS Đặng
Xuân Kỳ cho rằng: “Tư tưởng văn hoá Hồ Chí Minh là một di sản vô cùng quý
giá, là những giá trị vĩnh cửu để lại cho dân tộc mình và cho nhân loại. Những tư
tưởng ấy không chỉ nằm trong những bài nói, bài viết, những tác phẩm của
Người, mà còn nằm trong toàn bộ hoạt động thực tiễn, trong cuộc sống, trong
con người Hồ Chí Minh và quan trọng hơn là trong phong trào cách mạng của cả
một dân tộc…”.
Thứ hai, về vấn đề mà luận văn nghiên cứu, các tác giả đều có chung một
nhận định rằng, Hồ Chí Minh là một tượng trưng cao đẹp của bản sắc văn hoá
Việt Nam, tư tưởng văn hóa của Người là tư tưởng của một nền văn hoá tương lai.
Song nhìn chung, các công trình nghiên cứu về việc vận dụng và học tập
tư tưởng của Người để xây dựng và phát triển nền văn hoá dân tộc trong giai
đoạn hiện nay chưa nhiều, còn thiếu những công trình quy mô, xứng đáng với
tầm vóc của vấn đề này trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.
Nhu cầu về lý luận và thực tiễn hiện nay đòi hỏi phải có những chuyên
khảo nhằm làm sâu sắc hơn, đầy đủ hơn tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá và
việc vận dụng tư tưởng đó trong sự nghiệp đổi mới đất nước.
Vì vậy, để đóng góp một phần nhỏ vào việc thực hiện mục tiêu trên, tác
giả chọn vấn đề: “ Vận dụng tư tưởng của Hồ Chí Minh về văn hoá vào xây
dựng, phát triển nền văn hoá Việt Nam hiện nay” làm đề tài tốt nghiệp cao học.
3- MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1- Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ tầm quan trọng của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh về văn hoá và những vấn đề thực tiễn đang đặt ra, luận văn đã đưa ra một
số định hướng, giải pháp cơ bản nhằm xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt
Nam hiện nay theo hướng tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

7

hợp, lôgíc- lịch sử, so sánh….
6- ĐÓNG GÓP MỚI VỀ KHOA HỌC CỦA LUẬN VĂN
Về lý luận: Trên cơ sở làm rõ các quan niệm, tư tưởng về văn hóa của Hồ
Chí Minh, luận văn phân tích, luận giải dưới góc độ triết học những giá trị của
quan niệm, tư tưởng ấy đối với nền văn hoá dân tộc Việt Nam trong quá trình
hội nhập quốc tế.
Về thực tiễn: Luận văn đề xuất phương hướng và giải pháp khả thi cho
vấn đề đặt ra.
7- Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Về lý luận: Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm tư tưởng văn hoá của Hồ
Chí Minh và luận giải sự cần thiết phải vận dụng tư tưởng ấy vào việc xây dựng
và phát triển nền văn hoá Việt Nam hiện nay.
Về thực tiễn: Luận văn nêu ra một số giải pháp chung nhằm vận dụng tư
tưởng của Người về văn hoá để xây dựng, phát triển nền văn hoá Việt Nam hiện
nay. Có thể làm tư liệu tham khảo cho giảng dạy, nghiên cứu sau này.
8- KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục và Danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn gồm 2 chương, 4 tiết. 9
Chương 1
TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HOÁ

1.1 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HOÁ
1.1.1 Khái niệm “ văn hoá” ở Hồ Chí Minh
Khái niệm văn hoá xuất hiện ở Đông Á rất sớm. Lưu Hưởng (khoảng năm

thể giải thích thế giới, phát triển các năng lực biểu hiện, giao lưu sáng tạo. Nội
dung của khái niệm thường được UNESCO xem xét qua bốn bộ phận hợp thành:
Hệ thống khái niệm (khái niệm, biểu tượng); hệ thống giá trị, chuẩn mực; hệ
thống biểu hiện văn hoá (nghệ thuật, văn học, khoa học…); hệ thống hành động và
ứng xử văn hoá.
Ở Việt nam truyền thống, ngoài việc tiếp thu cách tiếp cận văn hoá như là
một cách thức điều hành xã hội bằng “ văn trị” và “giáo hoá” của Trung Quốc
còn có hàm nghĩa “văn hiến” và “văn vật”. Các loại từ điển thường định nghĩa
văn hiến là “truyền thống lâu đời” còn văn vật là “truyền thống văn hoá biểu
hiện ở những nhân tài và di tích lịch sử”. Nói khác đi, văn hiến thiên về các biểu
tượng giá trị vật chất. Vì thế, có thể coi văn hiến và văn vật là các hàm nghĩa đặc
trưng của khái niệm văn hoá Việt Nam.
Từ đầu thế kỷ XX lại thêm hàm nghĩa “văn minh” chỉ tình trạng về vật
chất của loài người, là hình thái kinh tế của văn hoá. Theo cách phân chia của F.
Ănghen về các giai đoạn phát triển văn hoá nhân loại (mông muội, dã man và
văn minh) thì văn minh là nấc thang của văn hoá và thiên về các giá trị vật chất -
kinh tế.
Các hàm nghĩa “văn trị”,“văn hiến”,“ văn vật”và “văn minh” được nhận
thức trong hoặc bên cạnh khái niệm văn hoá đã khiến cho các cách tiếp cận và
cách hiểu về văn hoá ở nước ta rất đa dạng. Nhà sử học Đào Duy Anh coi văn
hoá là “sinh hoạt”. Nhà nghiên cứu Phan Ngọc xem văn hoá là “hoạt động”.
Trên cơ sở tán thành các cách tiếp cận văn hoá của UNESCO, các tác giả cuốn
“văn hoá xã hội con người” coi văn hoá là “tổng thể sống động các hoạt động

11
sáng tạo của cá nhân và cộng đồng trong quá khứ và hiện tại để phát huy những
năng lực bẩm sinh và bản chất nhằm vươn tới cái chân, thiện, mỹ”[43,tr32].
Trần Ngọc Thêm trong cuốn “Cơ sở văn hoá Việt Nam” định nghĩa: “Văn
hoá là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo
và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người

hoá. Văn hoá là sự tổng hợp mọi phương thức sinh hoạt cùng với những biểu
hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời
sống và đòi hỏi sự sinh tồn”[24, tr431].
Người còn dự định xây dựng nền văn hoá dân tộc với năm điểm lớn:
1- Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường
2- Xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng
3- Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân
dân trong xã hội.
4- Xây dựng chính trị: dân quyền.
5- Xây dựng kinh tế.
Như vậy, văn hoá được hiểu theo nghĩa rộng nhất. Đó là toàn bộ những
giá trị vật chất và những giá trị tinh thần mà loài người sáng tạo ra nhằm đáp
ứng lẽ sinh tồn, đồng thời cũng là mục đích cuộc sống của loài người. Và muốn
xây dựng nền văn hoá dân tộc thì phải xây dựng tất cả các mặt kinh tế, chính trị,
xã hội, tâm lý con người.
Từ sau cách mạng tháng Tám, văn hoá đã được Người xác định là đời
sống tinh thần của xã hội, là thuộc kiến trúc thượng tầng của xã hội. “Những cơ
sở hạ tầng của xã hội có kiến thiết rồi văn hoá mới kiến thiết được và đủ điều
kiện để phát triển được”[33, tr 345].
Đây là quan điểm của chủ nghĩa Mác về văn hoá được tiếp thu và truyền
bá theo phương thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khác với tất cả các quan niệm
về văn hoá trước kia của các nhà nho, các nhà tri thức tư sản đã tách văn hoá ra
khỏi đời sống kinh tế, chính trị, xã hội và coi lĩnh vực văn hóa gắn liền với
những cách sống cao thượng của tầng lớp trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng
định rằng:“ Văn hoá không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính

13
trị”. Văn hoá trong tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận hợp thành của toàn bộ
đời sống xã hội. Nó cùng với kinh tế, chính trị tạo nên đời sống của dân tộc ta.
Văn hoá bao giờ cũng gắn liền với các hoạt động sản xuất và đời sống: “ Văn

Chí Minh cho rằng, kinh tế có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của văn
hoá; mặt khác, Người còn coi trọng chế độ chính trị, hay các chế ước xã hội đã
làm nảy sinh tính đa dạng của văn hoá, nhưng sự tác động trở lại của văn hoá đã
góp phần thúc đẩy và nâng cao đời sống vui tươi, lành mạnh của xã hội.
Trong tư tưởng văn hoá, Hồ Chí Minh rất coi trọng đến trình độ phát triển
của sản xuất, về tính chất của các quan hệ kinh tế - xã hội vì nó là nền tảng của
văn hoá; song, trung tâm cần chú ý nhất ở Hồ Chí Minh là vấn đề bản chất, cái
tạo ra bản chất của mọi hiện tượng văn hoá của cá nhân và cộng đồng, là khả
năng sáng tạo của nhân dân lao động. Nhiều lần Hồ Chí Minh đã nói: lao động
là nguồn sống, nguồn vui, nguồn hạnh phúc của chúng ta. Phát triển và mở rộng
tư tưởng văn hoá phải gắn liền với lao động sản xuất, Hồ Chí Minh coi sự vận
động của văn hoá trong lịch sử là toàn bộ khả năng sáng tạo của quần chúng
nhân dân. Người viết rằng: “Quần chúng nhân dân là những người sáng tạo,
công nông là những người sáng tạo. Nhưng quần chúng nhân dân không phải chỉ
sáng tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Quần chúng nhân dân còn là người sáng
tác nữa”[28,tr 250]. “Những câu tục ngữ, những câu vè, ca dao là những sáng
tác của quần chúng. Các sáng tác ấy rất hay mà lại ngắn… Những sáng tác ấy là
những hòn ngọc quý”. Người nói rằng, phải gắn kinh tế với văn hoá, thông qua
văn hóa kinh tế sẽ được thực hiện tốt hơn. Khi kinh tế tốt hơn thì văn hoá sẽ có
điều kiện để thúc đẩy các quá trình xã hội. Hồ Chí Minh nói: “ Vì sao không nói
phát triển văn hoá và phát triển kinh tế ? Tục ngữ ta có câu: Có thực mới vực
được đạo, vì thế kinh tế phải đi trước. Nhưng phát triển để làm gì? Phát triển
kinh tế và văn hoá để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nước ta… Văn
hoá phải thiết thực phục vụ nhân dân, góp phần vào việc nâng cao đời sống tươi
vui, lành mạnh của quần chúng”[28, tr 59].
Trong tư tưởng văn hoá Hồ Chí Minh, văn hoá không chỉ gắn với kinh tế
vì cái này là điều kiện cho cái kia phát triển, mà hơn thế nữa cả kinh tế và văn
hoá đều hướng đến sự phát triển tổng thể hơn - phát triển xã hội. Giữa kinh tế và

15

16
nhân dân Nga lên trước, rồi sau mới làm cách mạng chính trị. Lênin đã trả lời: “
Tại sao không làm cách mạng chính trị trước để sau đó có điều kiện thuận lợi
nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân Nga? ”. Quan điểm của Lênin đã được
thực tiễn cách mạng tháng Mười Nga chứng minh là hoàn toàn đúng đắn. Lãnh
đạo nhân dân ta đi theo con đường cách mạng vô sản, Hồ Chí Minh đã vạch ra
một đường lối mới: Phải tiến hành cách mạng chính trị trước mà cụ thể ở Việt
Nam là tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc để giành chính quyền, để giải
phóng chính trị, giải phóng xã hội, từ đó giải phóng văn hoá, mở đường cho văn
hoá phát triển. Về vấn đề này Người đã viết: “…Xưa kia chính trị bị đàn áp, nền
văn hoá của ta vì thế không nảy sinh được”. “Xã hội thế nào, văn hoá thế ấy.
Văn nghệ của dân tộc ta vốn rất phong phú, nhưng dưới chế độ thực dân và
phong kiến nhân dân ta bị nô lệ, thì văn nghệ bị nô lệ, bị tồi tàn, không thể phát
triển được”.
Như vậy, văn hoá không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính
trị. Văn hoá phải phục vụ chính trị, thúc đẩy xây dựng và phát triển kinh tế.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Văn hoá
nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài mà phải ở trong
kinh tế và chính trị”[9,Tr368-369]. Quan niệm đó của Người đã định hướng cho
mọi hoạt động văn hóa, động viên giới văn hoá văn nghệ đi vào kháng chiến,
thực hiện khẩu hiệu “văn hoá hoá kháng chiến, kháng chiến hoá văn hoá”, đã
tạo nên một phong trào văn hóa kháng chiến sôi động chưa từng thấy trong
kháng chiến chống thực dân Pháp. Văn hóa không đứng ngoài mà đứng trong
cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Và cuộc kháng chiến đã trở thành cuộc
kháng chiến không thể thiếu văn hoá. Quan điểm trên đây của Hồ Chí Minh
cũng định hướng cho việc xây dựng và phát triển nền văn hoá mới của nước ta
trong suốt 20 năm chống Mỹ cứu nước, cũng như trong sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội hiện nay.
Văn hoá không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị, điều
đó có nghĩa là văn hóa phải phục vụ chính trị, thúc đẩy xây dựng và phát triển

18
1.1.2 Tính chất của nền văn hoá mới
Sau khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời, việc xây dựng một nền
văn hoá mới đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đặt ra như một nhiệm vụ
hàng đầu của cách mạng. Ngay sáng 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt ra
một loạt vấn đề về văn hoá, như giải quyết nạn dốt, giáo dục nhân dân tinh thần
cần, kiệm, liêm, chính, cấm hút thuốc phiện, tự do tín ngưỡng….Cùng ngày,
Người đã ra thông báo về việc tiếp đại biểu các đoàn thể, các tầng lớp nhân dân,
nêu ra một phong cách làm việc mới, một thứ văn hoá chính trị mới của người
đứng đầu Nhà nước, hoàn toàn khác với chế độ thực dân phong kiến trước kia.
Cũng trong ngày đầu tháng 9- 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho thành
lập Uỷ ban văn hoá lâm thời Bắc bộ. Trong buổi tiếp đại biểu của Uỷ ban này
ngày 7-9-1945. Người nói: “ Tôi mong rằng các ngài trong giới văn hoá nhận
thấy rõ nhiệm vụ của các ngài trong lúc này là củng cố nền độc lập của Việt
Nam, sửa soạn gây dựng cho đất nước một nền văn hóa mới. Bổn phận của các
ngài là lãnh đạo tư tưởng quốc dân, đấu tranh cho độc lập và kiến thiết một nền
văn hóa mới”.
Trong Báo cáo chính trị do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày tại Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ II Đảng Lao động Việt Nam có đoạn: “Xúc tiến công
tác văn hoá để đào tạo con người mới và cán bộ cho công cuộc kháng chiến kiến
quốc. Phải triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của văn
hoá đế quốc. Đồng thời phải phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hoá
dân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hoá tiến bộ thế giới để xây dựng một
nền văn hoá Việt Nam có tính dân tộc, khoa học, đại chúng”[26,Tr38-39].
Có thể nói đây là lần đầu tiên Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí
Minh, đã nêu lên tư tưởng văn hoá một cách ngắn gọn, súc tích, đầy đủ, đặc biệt
là về xây dựng một nền văn hoá Việt Nam có tính dân tộc, khoa học, đại chúng.
Từ việc nghiên cứu lịch sử văn hoá Việt Nam, kể cả thời kỳ văn hoá bị nô dịch
dưới chế độ thực dân và thời kỳ nền văn hóa dân chủ mới, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã sớm nhận thấy vai trò, sức mạnh của văn hóa. Xét đến cùng văn hoá là


20
hách trong thế kỷ XX, góp phần thanh toán thực dân, xoá đi vết nhơ trong lịch
sử và trong nền văn hoá nhân loại.
Trước hết, nền văn hoá mới mà Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng là nền
văn hoá có tính chất dân tộc. Chúng ta đều biết con đường và sự nghiệp cách
mạng của Hồ Chí Minh hoà quyện, gắn bó làm một với sự nghiệp văn hóa của
Người. Con đường đó đi từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác-Lênin. Sự
nghiệp đó làm cho đất nước được độc lập, dân tộc làm chủ, mọi người được ấm
no, hạnh phúc. Nền văn hoá có tính chất dân tộc trước hết phải duy trì, bảo vệ,
chấn hưng và phát triển bản sắc văn hoá dân tộc. Đó là nền văn hoá gắn với dân
tộc, có gốc rễ từ dân tộc. Biểu hiện của diện mạo dân tộc chính là bản sắc dân
tộc. Hay nói cách khác, bản sắc dân tộc thể hiện ở nền văn hoá dân tộc. Đó là
nền văn hoá biểu hiện nhân cách Việt Nam, những tinh hoa của cộng đồng các
dân tộc Việt Nam được hun đúc lên qua hàng ngàn năm lịch sử. Đó là lòng yêu
nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng
gắn kết cá nhân, gia đình, làng xã, Tổ quốc, lòng nhân ái, khoan dung, trọng
tình nghĩa, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; dũng cảm, thông
minh trong chiến đấu; sự tinh tế trong ứng xử; tính giản dị trong lịch sử; tình
nghĩa, thuỷ chung với người thân, bè bạn… Hồ Chí Minh thường nói: “Nhân
dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa”[29, tr 611]. Nhân cách Việt
Nam làm thành bản sắc của con người Việt Nam với tư cách là một thành viên
của cộng đồng dân tộc. Họ sớm ý thức được trách nhiệm và bổn phận của mình
trong mối quan hệ Nhà- Làng- Nước. Cái hồn của văn hoá dân tộc còn là tinh
thần trọng nghĩa phải, yêu cái đẹp. Hồ Chí Minh khẳng định rằng: “Xúc tiến
công tác văn hoá để đào tạo con người mới”. Người lại nói đến việc “trồng
người”, văn hoá trước hết là trau dồi nhân cách, tu dưỡng bản thân đúng theo
nghĩa giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn trong sáng và cao đẹp cho con người. Xây
dựng nền văn hoá mới có tính dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh chính là xây
dựng nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc theo cách diễn đạt hiện nay. Đó là nền

cả những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ”.

22
Bản sắc dân tộc của văn hoá không chỉ thể hiện ở nội dung, cốt cách, tâm
hồn dân tộc, mà còn thể hiện đậm nét trong các hình thức biểu hiện rất độc đáo
của dân tộc. Hồ Chí Minh đánh giá cao và rất tự hào về các hình thức biểu hiện
của văn hoá Việt Nam. Văn học, nghệ thuật là một bộ phận trọng yếu của nền
văn hoá dân tộc, thể hiện khát vọng của nội dung về Chân, Thiện, Mỹ. Người
nói: “nghệ thuật của cha ông ta hay lắm, tốt lắm”,“âm nhạc của dân tộc ta rất
độc đáo”,“tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân
tộc. Chúng ta phải giữ nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng
khắp”. Với những ý nghĩa này, xuyên suốt và nhất quán, Hồ Chí Minh luôn nhấn
mạnh đến cái “vốn”,“cốt cách và đặc tính” với tất cả tính chất độc đáo, chất liệu
riêng của nền văn nghệ dân tộc. Nghiên cứu nền văn nghệ dân tộc, đặc biệt thơ
văn của những nhà văn hoá lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du…Hồ Chí Minh
cho rằng: “Những người Cộng sản rất quý trọng cổ điển. Có nhiều dòng suối
tiến bộ chảy từ ngọn nguồn cổ điển đó. Càng thấm nhuần chủ nghĩa Mác- Lênin,
càng phải coi trọng những truyền thống tốt đẹp của cha ông”[47,tr 355]. Văn
hoá, nghệ thuật dân tộc phải là cái trước, cái cội rễ, là điều kiện để tiếp thu,
vươn tới và hội nhập với văn hoá nhân loại. Yếu tố dân tộc là yếu tố quyết định
nhất của nền văn hoá. Nó là quan hệ vĩnh hằng. Tính dân tộc được đặt lên hàng
đầu trong ba phạm trù “ dân tộc - khoa học - đại chúng” của tư tưởng Hồ Chí
Minh về xây dựng nền văn hoá mới Việt Nam có ý nghĩa rộng lớn và sâu xa.
Đương nhiên, nói đến giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc không
có nghĩa là rơi vào dân tộc hẹp hòi, đóng cửa, khép kín; trái lại, phải biết tiếp thu
những yếu tố tiên tiến của thời đại, những tinh hoa văn hoá thế giới. Ngay trong
việc kế thừa các giá trị truyền thống của dân tộc cũng phải gạn đục khơi trong,
phê phán loại bỏ tập tục lạc hậu, cổ hủ; nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân;
chống ảnh hưởng văn hoá nô dịch của đế quốc và phong kiến. Còn trong việc
học tập văn hoá tiên tiến của các nước thì cũng phải chọn lọc, có sáng tạo,

trong tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá. Nói hệ tư tưởng Mác-Lênin là nói tới
thành quả văn hoá vĩ đại của thế kỷ XIX ở phương Tây và là đỉnh cao của văn
hoá nhân loại. Nhưng tính chất khoa học, hiện đại không chỉ có thế, trong tư

24
tưởng và hành động của mình, Hồ Chí Minh thường đề cập đến việc “mở rộng
kiến thức của mình về văn hoá thế giới”. Người chỉ rằng, “Chúng ta có thể bắt
chước những cái hay của bất kỳ nước nào ở Âu - Mỹ” và “có cái gì tốt của Đông
phương hay Tây phương ta phải học lấy để tạo nên một nền văn hoá Việt
Nam”[38,tr 20]. Hồ Chí Minh đã tiếp thu và phát triển văn hoá nhân loại vào
văn hoá dân tộc Việt Nam. Người đã học tập Khổng Tử, Giêsu, Mác, Lênin, Tôn
Giật Tiên và nhiều nhà chính trị lỗi lạc khác. Người đã viết và đánh giá nhiều
nền văn hoá Đông Tây. Người ca ngợi Tônxtôi, Tago, Sêchxpia và Picatxo.
Người giải thích tính nhân loại trong tác phẩm của danh họa Tây Ban Nha -
Picátxô là ở chỗ ông “sôi nổi trong tâm hồn một tình yêu say mê cái Thiện, cái
Mỹ”[19,tr 20].
Thứ ba, nền văn hoá mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh là nền văn hoá có
tính đại chúng. Trước hết phải hiểu đó là một nền văn hóa của nhân dân lao
động. Văn hoá là những gì do con người và vì con người, vì vậy văn hoá là mục
tiêu của sự nghiệp cách mạng. Theo Hồ Chí Minh, văn hoá phải phục vụ nhân
dân, lấy hạnh phúc của nhân dân, của dân tộc làm mục tiêu. Độc lập, tự do phải
đi tới ấm no, hạnh phúc và sự phát triển, tức văn hoá phải nhằm mục tiêu phục
vụ và nâng cao đời sống con người. Quần chúng nhân dân phải được hưởng thụ
những thành quả văn hoá do mình làm ra. Quần chúng nhân dân phải được
hưởng thụ những giá trị văn hoá vì họ là mảnh đất màu mỡ nuôi dưỡng các
sáng tác, là người sáng tạo và kiểm nghiệm văn hoá. Hồ Chí Minh thường nói:
không có nhân dân thì không có Bác. Sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp văn hóa
của Người là sự nghiệp vì dân. Theo Người, suy nghĩ, hành động, sáng tác đều
xuất phát từ cái Tâm: vì nhân dân phục vụ. Những người làm công tác văn hoá
muốn tìm thấy sự thay đổi, sự đam mê thật “phải trở về với cuộc sống thực tại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status