Mô hình vận hành điều tiết thời gian thực thời kỳ mùa lũ hệ thống hồ chứa trên sông vu gia – thu bồn( thông tin công bố trên mạng ) - Pdf 22

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trên hệ thống sông Vu Gia – Thu Bồn đã, đang và sẽ xây dựng hiện
một loạt các hồ chứa trên thượng nguồn, khi này chế độ lũ và ngập
lụt hạ du sẽ bị ảnh hưởng điều tiết của các hồ chứa này. Các quy trình
vận hành hồ chứa đã ban hành là các quy trình cứng, chưa có các
phương án cảnh báo và dự báo lũ phục vụ vận hành theo thời gian
thực cho hệ thống hồ chứa nói trên. Ngoài ra hiện nay, nghiên cứu
chế độ vận hành hệ thống hồ chứa theo thời gian thực chưa được ứng
dụng nhiều, đặc biệt là các hồ chứa thuộc khu vực miền Trung. Do
vậy, việc nghiên cứu chế độ vận hành theo thời gian thực có sử dụng
mô hình cảnh báo, dự báo lũ đối với hệ thống hồ chứa trên sông Vu
Gia-Thu Bồn là rất cần thiết và có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Đây là vấn đề khoa học cần được nghiên cứu ứng dụng không phải
chỉ với các hồ chứa trên hệ thống sông Vu Gia-Thu Bồn mà còn cần
thiết với các hệ thống hồ chứa khác thuộc khu vực miền Trung.
Chính vì vậy, tôi đề xuất đề tài luận án nghiên cứu sinh “ Mô hình
hình vận hành theo thời gian thực thời kỳ mùa lũ hệ thống hồ chứa
trên sông Vu Gia-Thu Bồn”.
2. Mục tiêu nghiên cứu của luận án
Luận án nghiên cứu xây dựng mô hình vận hành hệ thống hồ chứa
theo thời gian thực thời kỳ mùa lũ và ứng dụng cho hệ thống hồ chứa
trên sông Vu Gia – Thu Bồn nhằm nâng cao hiệu quả giảm lũ và
không gây tác động tiêu cực cho vùng hạ du, trong khi vẫn đảm bảo
nhiệm vụ phát điện.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
(1) Phân tích, thiết lập bài toán vận hành hệ thống hồ chứa theo thời
gian thực.
2
(2) Nghiên cứu xây dựng một mô hình cảnh báo, dự báo lũ đến các

3
6. Phương pháp tiếp cận khoa học
(1) Trên cơ sở lý thuyết mô hình, xây dựng một mô hình mô phỏng
dự báo lũ từ mưa và vận hành hệ thống hồ chứa cho vùng thượng du.
Mô hình được kết nối với khu vực hạ du được mô phỏng bằng mô
hình có sẵn MIKE 11. Mô hình tính toán điều tiết lũ được liên kết
trong mô hình mô phỏng hệ thống theo thời gian thực.
(2) Trên cơ sở mô hình được thiết lập xem xét các kịch bản vận hành
hệ thống hồ chứa để khắc phục những hạn chế của quy trình vận
hành liên hồ chứa đã ban hành do hạn chế về dự báo lũ.
(3) Xây dựng một quy trình vận hành theo thời gian thực nhằm nâng
cao hiệu quả cắt giảm lũ, xả lũ an toàn và đảm bảo an toàn tích nước
cho nhiệm vụ phát điện và cấp nước hạ du.
7. Những đóng mới của luận án
(1) Thiết lập được chương trình tính cho mô hình mô phỏng
(MOPHONG-LU) tích hợp được ba mô hình : mô hình mưa dòng
chảy, mô hình vận hành hồ chứa và diễn toán lũ trong sông cho vùng
thượng du sông Vu Gia – Thu Bồn phục vụ cho dự báo lũ với thời
gian dự kiến từ 3 đến 5 ngày làm cơ sở cho việc xác định chế độ vận
hành hồ chứa theo thời gian thực.
(2) Lần đầu tiên xây dựng được phương pháp vận hành hồ chứa theo
thời gian thực cho hệ thống hồ chứa trên sông Vu Gia – Thu Bồn thời
kỳ mùa lũ một cách đầy đủ, có khả năng ứng dụng trong thực tế.
(3) Trên cơ sở nghiên cứu các phương án vận hành hệ thống hồ chứa
phòng lũ, đã đề xuất phương án tăng dung tích phòng lũ và chế độ
vận hành hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả cắt giảm lũ cho hạ du, là cơ
sở cho việc bổ sung quy trình liên hồ chứa đã được phê duyệt.
4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ VẬN
HÀNH HỆ THỐNG HỒ CHỨA THEO THỜI GIAN THỰC

o
55’ vĩ độ Bắc; 107
o
15’ -
108
o
24’ kinh độ Đông.
2.1.2. Đặc điểm địa hình
Nhìn chung địa hình của lưu vực biến đổi khá phức tạp và bị chia cắt
mạnh. Địa hình có xu hướng nghiêng dần từ Tây sang Đông
2.1.3. Đặc điểm sông ngòi
Lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn có độ dài của sông ngắn và độ dốc
lòng sông lớn.
2.1.4. Đặc điểm sự hình thành lũ trên hệ thống sông
2.1.4.1. Đặc điểm mưa gây lũ
Mưa lớn kết hợp với địa hình dốc là nguyên nhân chính gây nên lũ ở
Quảng Nam.
2.1.2.2. Đặc điểm chế độ lũ
Quảng Nam có địa hình phần lớn là đồi núi dốc nên khả năng tập
trung nước nhanh.
2.2. Hệ thống hồ chứa và nhiệm vụ điều tiết của hệ thống hồ chứa
2.2.1. Hệ thống hồ chứa phòng lũ trên sông Vu Gia-Thu Bồn
Trên dòng chính Vu Gia - Thu Bồn đã và sẽ xây dựng những hồ chứa
lớn. Có 5 hồ chứa có nhiệm vụ cắt giảm lũ cho hạ du: A Vương,
Sông Tranh 2, Sông Bung 2, Sông Bung 4 và Đakmi 4.
2.2.2. Nhiệm vụ điều tiết và quy trình vận hành liên hồ chứa thời
kỳ mùa lũ
6
Nhiệm vụ thiết kế của 5 hồ chứa được quy định như sau:
- Cấp nước cho hạ du thời


W
hi

10
6
m
3

Z
đl

W
fl

10
6
m
3

N
lm
Mw
1 Sông Bung 2 605 565 94,3 73,9 600(*) 13,45 100
2 Sông Bung 4 222,5 205 510,8 234,0 218(*) 68 156
3 A Vương 380 340 344 266,5 376 43,92 210
4 Đắk Mi 4 258 240 310,3 158 255 49,94 148
5 Sông Tranh 2 175 140 733,4 521,17 172 81,85 190
Tổng 1993 1253.6 257.2 804
Ghi chú: (*) : mực nước đón lũ do tác giả đề nghị giả định.

thời gian
thực cho bất
kỳ hệ thống
hồ chứa bao
gồm:
(1) hệ thống
thu thập dữ
liệu;
(2) ngân
hàng lưu trữ dữ liệu và hệ thống quản lý dữ liệu;
(3) chương trình phân tích kết quả;
(4) chương trình dự báo dòng chảy theo thời gian thực;
(5) chương trình mô phỏng hoạt động của hệ thống hồ chứa.
2.3.3. Mô tả bài toán và nguyên lý vận hành hệ thống hồ chứa
phòng lũ theo thời gian thực
* Tính toán dự báo mưa và dự báo lũ đến các nút hồ chứa và nhập
lưu của lưu vực sông.
* Mô hình mô phỏng với thông tin đầu vào bao gồm
* Quyết định vận hành hệ thống theo kết quả tính toán của mô hình
mô phỏng.
Vận hành hệ thống hồ chứa phòng lũ với dự báo mưa 3-5 ngày, thời
gian giữa các lần cập nhật dự báo và ra quyết định vận hành là ∆t
Quyết định vận hành tại thời điểm bất kỳ được thực hiện theo các
bước sau:
- Bước 1: Tại thời điểm bất kỳ trong giai đoạn vận hành, tiến hành dự
Hình 2.2 Sơ đồ liên kết giữa các thành phần của bà
i
toán vận hành hệ thống
8
báo mưa trên lưu vực.

Gồm 5 hồ chứa có nhiệm vụ phòng lũ hạ du, đó là các hồ A Vương,
Đakmi 4, Sông Tranh 2, Sông Bung 2 và Sông Bung 4.
2.4.2.2. Giới hạn bài toán
Luận án chỉ giải quyết một phần của bài toán vận hành hệ thống hồ
chứa theo thời gian thực, bao gồm:
- Phát triển mô hình mô phỏng phục vụ cho dự báo lũ từ mưa và vận
hành hồ chứa.
- Ứng dụng mô hình đã lập cho bài toán vận hành hệ thống theo kết
quả dự báo thủy văn.
- Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống kịch bản vận hành các hồ chứa
phòng lũ, đề xuất phương án vận hành hợp lý theo phương pháp dự
báo lũ đã xác định trong luận án.
2.4.3. Phương pháp tiếp cận
1. Xây dựng mô hình dự báo lũ thời gian dự kiến 3-5 ngày và được
cập nhật liên tục trong thời gian dự báo theo kết quả dự báo mưa.
2. Đối với khu vực thượng lưu, xây dựng chương trình
« MOPHONG-LU » tích hợp bởi 3 mô hình thành phần: mô hình dự
báo lũ đến hồ chứa và các nhập lưu, mô hình diễn toán lũ trong sông
và mô hình mô phỏng vận hành của hồ chứa. Đối với khu vực hạ du
sử dụng mô hình MIKE 11.
3. Khi xây dựng các kịch bản lũ.
2.4.4. Nội dung nghiên cứu
1. Phát triển mô hình mô phỏng hệ thống khu vực thượng nguồn sông
phục vụ dự báo lũ và vận hành hệ thống hồ chứa theo thời gian thực;
2. Ứng dụng mô hình mô phỏng tính toán xác định các kịch bản vận
hành hệ thống hồ chứa. Từ đó kiến nghị về quy trình vận hành theo
thời gian thực thời kỳ mùa lũ cho hệ thống hồ chứa trên sông Vu Gia
– Thu Bồn.
10
CHƯƠNG 3: THIẾT LẬP MÔ HÌNH MÔ PHỎNG PHỤC VỤ

3.2. Xây dựng mô hình mô phỏng diễn toán lũ trên hệ thống sông
MOPHONG_LU sử dụng trong quản lý vận hành hồ chứa phòng lũ
3.2.1. Cấu trúc mô hình
Tương tự như các mô hình trên, mô hình MOPHONG-LU mà tác giả
xây dựng cũng được cấu trúc gồm các khối mô phỏng.
(1) Môđuyn thiết lập lưu vực:
(3) Môđuyn mô phỏng:
(2) Môđuyn mạng lưới hồ:
3.2.2. Lựa chọn các mô hình thành phần trong mô hình
MOPHONG-LU
3.2.2.1. Lựa chọn phương pháp tính toán quá trình lưu lượng lũ
đến hồ và các nút nhập lưu
nghiên cứu này chúng tôi chọn hai phương pháp tính toán: Phương
pháp đường đơn vị tổng hợp SCS và phương pháp tính toán theo mô
hình NAM.
3.2.2.2. Lựa chọn phương pháp diễn toán lũ mạng sông
Diễn toán dòng chảy cho từng đoạn sông được mô phỏng theo
phương pháp Muskingum
3.2.2.3. Diễn toán lưu lượng qua hồ chứa
Lưu lượng xả qua các cửa xả được tính toán bằng cách hợp giải
phương trình cân bằng nước à khả năng xả qua công trình xả
3.2.2.4. Mô phỏng tích hợp mô hình
Sự tích hợp được các mô hình trong một mô hình mô phỏng: các nút
nhập lưu được mô tả nút nhập này sẽ nối với đoạn sông nào của hệ
thống; mỗi đoạn sông cũng được mô tả sự nối tiếp với đoạn trên và
đoạn dưới như thế nào (một đoạn sông có thể nối tiếp với nhiều đoạn
sông phía trên nó; cũng tương tự như vậy với các nút hồ chứa.
3.2.3. Lập chương trình tính toán cho mô hình MOPHONG-LU
12
Chương trình tính toán được xây dựng trên cơ sở thuật toán liên kết

MOPHONG-LU là sự mô phỏng mối liên kết trong tính toán giữa các
đoạn sông, các nút nhập lưu và các nút hồ chứa.
3.2.3.3. Hiệu chỉnh và kiểm định mô hình :Hiệu chỉnh mô hình
thực hiện theo phương pháp thử sai để xác định bộ tham số của
mô hình.
13
3.2.4. Ứng dụng mô hình MOPHONG-LU cho lưu vực sông Vu
Gia-Thu Bồn
Mô hình MOPHONG-LU được áp dụng cho thượng nguồn sông Vu
Gia – Thu Bồn. Ứng dụng mô hình gồm 2 nội dung : (1) Xác định bộ
thông số mô hình và (2) ứng dụng trong vận hành các hồ chứa theo
thời gian thực.
3.2.4.1. Đặc điểm hệ thống sông Vu Gia-Thu Bồn
Hệ thống sông Vu Gia-Thu Bồn gồm 2 sông Vu Gia và Thu Bồn.Khu
vực thượng du từ nguồn đến Hội Khách, đến Nông Sơn, nói chung
không có chảy tràn
trên. Khu vực hạ du
từ Nông Sơn và Hội
Khách đến cửa
sông, khi có lũ lớn
nước lũ chảy tràn
trên một diện rộng
của lưu vực sông hạ
lưu sông.
3.2.4.2. Đặc điểm
mạng lưới khí
tượng, thủy văn
Trên lưu vực
sông Vu Gia-
Thu Bồn có 18

sông và 5 nút
hồ chứa. Có 3
nút kiểm soát
tại các vị trí
trạm thủy văn
Nông Sơn,
Thành Mỹ và
Hội Khách

3.2.4.5. Hiệu
chỉnh, và kiểm
định mô hình
Lựa chọn số liệu mô phỏng và kiểm định mô hình
Chọn lũ năm 2009 để mô phỏng và kiểm định với năm 2007.
Kết quả hiệu chỉnh và kiểm định mô hình
a. Trường hợp nhập lưu tính theo mô hình đường đơn vị SCS :
Trường hợp này các tham số của đường đơn vị đã được xác định các
đặc trưng hình thái sông. Do vậy, chỉ phải xác định các tham số K và
X của 15 đoạn sông, tổng cộng có 30 tham số.
b. Trường hợp nhập lưu được tính theo mô hình NAM : Trường hợp
này, số tham số mô hình tăng lên đáng kể. Mỗi một lưu vực thành
phần tại nút nhập lưu có 9 tham số mô hình NAM, với 18 nhập lưu
và 15 đoạn sông thì tổng số tham số mô hình sẽ là 198.
Tính toán lưu lượng tại các nút nhập lưu xác định theo 2 phương
pháp trên thực hiện cho 2 trận lũ từ 25-9 đến 6-10 năm 2009 (mô
phỏng) và trận lũ ngày 8-11 đến ngày 14 tháng 11 năm 2007 (Kiểm
Hình 3.12: Sơ đồ hệ thống khu vực thượ
ng du
sông Vu Gia
-

Theo mô hình đường đơn vị
0,89 0,77 0,95 0,89
Hình 3.13: Kết quả hiệu chỉnh
trận lũ từ 25-9-> 6/ 10/ 2009 tại
tr

m th

y văn Nông Sơn

Hình 3.16: Kết quả kiểm định
trận lũ từ 8/11 đến 11/ 11/ 2007
tại trạm thủy văn Nông Sơn
Hình 3.14: Kết quả hiệu chỉnh
trận lũ từ 25-9-> 6/ 10/ 2009 tại
trạm thủy văn Thành Mỹ
Hình 3.17: Kết quả kiểm định
trận lũ từ 8/11 đến 11/ 11/ 2007
tại trạm thủy văn Thành Mỹ
16
Kết quả tính cho thấy, phương pháp đường đơn vị thường cho đỉnh
cao những dạng lũ gầy hơn so với mô hình NAM. Tuy nhiên, tổng
lượng lũ tính toán theo hai mô hình không chênh lệch nhau nhiều.
3.3. Mô phỏng lũ theo mô hình MIKE 11 cho khu vực hạ du sông
Vu Gia-Thu Bồn
3.3.1. Giới thiệu mô hình MIKE 11
3.3.2. Thiết lập sơ đồ tính toán thủy lực hệ thống sông.
Sơ đồ tính thủy lực cho hệ thống sông Vu Gia – Thu Bồn rất phức
tạp. Hệ thống sông có nhiều nhánh nối với nhau, khi có lũ lớn tràn về
mực nước các nhánh sông chảy qua vùng đồng bằng hạ du đều tràn

+ Sông Trà Kiên Flv= 123 km
2
, nhập vào sông Bà Rén tại 15615 m
+ Sông Ly Ly Flv= 279 km
2
, nhập vào sông Bà Rén tại 23145 m
+ Sông Trung Phước Flv=231 km
2
, nhập vào sông Thu Bồn tại
4860m
+ Khe Đá Mài Flv= 50 km
2
, nhập vào sông Thu Bồn (17840 m).
Quá trình lưu lượng tiêu của các ô ruộng từ mưa vào mạng sông tính
toán. Phân vùng tiêu trong hệ thống dựa vào bản đồ 1/10000. Diện
tích theo cao độ tại từng khu ruộng.
Để xác định bộ thông số cho mô hình, lựa chọn trận lũ hiệu chỉnh:
27/9 đến 3/10/2009. Trận lũ kiểm định: 8/11 đến 17/11/2007
Số liệu đầu vào mô hình: Biên trên và các biên nhập lưu lấy từ số liệu
ra từ mô hình MOPHONG LU
Biên dưới: Quá trình mực nước triều thực đo tại cửa Hàn, cửa Đại và
cửa Lở trong thời kỳ tính toán
Bảng 3.11. Đánh giá sai số
Trận lũ hiệu chỉnh: 8/11/2007 -
14/11/2007
Trận lũ kiểm định:
25/11/2009 – 2/11/2009
Vị trí
H
thực đo

0,070
3.20 3.17
0,03
Nhận xét kết quả
Qua kết quả đánh giá sai số và hình vẽ các đường quá trình mực nước
tính toán và thực đo tại các trạm, nhận thấy sự chênh lệch về đỉnh lũ
ở hầu hết các trạm là không đáng kể. Bộ thông số nhám thủy lực như
trên có thể được sử dụng trong mô phỏng các trận lũ khác.
18
CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN DUNG TÍCH PHÒNG
LŨ VÀ CHẾ ĐỘ ĐIỀU TIẾT CẮT GIẢM LŨ HẠ DU SÔNG VU
GIA-THU BỒN THEO HƯỚNG VẬN HÀNH HỆ THỐNG HỒ
CHỨA PHÒNG LŨ THEO THỜI GIAN THỰC
4.1. Thiết lập hệ thống kịch bản về các phương án dung tích phòng
lũ và chế độ điều tiết cắt lũ cho hệ thống hồ chứa trên sông Vu
Gia-Thu Bồn
4.1.1. Cơ sở thiết lập các kịch bản về dung tích phòng lũ và chế độ
vận hành cắt lũ hạ du
4.1.2. Xây dựng hệ thống kịch bản điều tiết hồ chứa cắt lũ theo
hướng “tạo mực nước đón lũ”
Phương án 1 (PA1-1): Vận hành theo quy trình liên hồ chứa
Phương án 2 (PA1-2): Đề nghị mức nước đón lũ thấp hơn quy trình
liên hồ chứa.
Phương án 3 (PA1-3): Xả lũ trước khi lũ về 48h-60h.
Phương án 4 (PA1-4): Phương án mực nước ban đầu thấp hơn mực
nước đón lũ
4.1.2. Xây dựng hệ thống kịch bản về phương án dung tích phòng
lũ theo hướng “tạo mực nước trước lũ cố định”
4.2. Tính toán vận hành theo các phương án
4.2.1. Kết quả tính toán theo các phương án mực nước đón lũ


171.0

49.9

253.0

43.9

375.0

13.5

600.0

68.0

218.0

PA2-2 Vpl = 30%Vhd 156.4

167.1

49.9

253 79.9

370.0

21.57


79.13

249.9

136.5

363.

33.9

591

117.6

214.6

PA2-5 Ngưỡng tràn 260.2

161.0

139.4

242.5

136.5

363.0

33.9

Hội Khách 200,8 8,0
Nông Sơn 193,4 11,0
Thành Mỹ 97,0 10,0
NL S.Bung+ A Vương 207,6 21,0
PA1-3
Hội Khách 300,3 12,0
Nông Sơn 215,1 13,0
Thành Mỹ 72,3 7,1
NL S.Bung+ A Vương 308,0 31,6
PA1-4
Hội Khách 390,0 16,1
Bảng 4.3: Mực nước lớn nhất tại các vị trí vùng hạ du theo các
phương án vận hành cắt giảm lũ hạ du. Trận lũ tháng 9 năm
2009.
Phương án vận hành tạo mực nước đón lũ
Vị trí
Chưa cắt lũ PA1-1 PA1-2 PA1-3 PA1-4
Hội Khách 19,08 17,96 18,87 17,45 17,69
Ái Nghĩa 10,90 10,27 10,24 9,97 10,09
Giao Thủy 9,74 8,83 8,81 8,61 8,57
Câu Lâu 5,38 4,72 4,68 4,49 4,39
Cẩm Lệ 3,55 3,18 3,14 2,96 2,66
Hội An 3,20 2,75 2,73 2,61 2,51
Bảng 4.4: Hiệu quả giảm mực nước hạ du theo hướng tạo dung
tích đón lũ trước khi lũ về - Trận lũ tháng 9 năm 2009.
Hiệu quả giảm mực nước tại các vị trí theo các phương án
Vị trí
Chưa cắt lũ PA1-1 PA1-2 PA1-3 PA1-4
Hội Khách 0 1,12 1,21 1,63 1,39
20

PA2-2
Hội Khách 224,8 9,3
Nông Sơn 229,0 13,4
Thành Mỹ 74,0 7,3
NL S.Bung+ A Vương 219,0 22,5
PA2-3
Hội Khách 292,0 12,0
Nông Sơn 265,0 15,5
Thành Mỹ 74,0 7,3
NL S.Bung+ A Vương 273,0 28,0
PA2-4
Hội Khách 347,6 14,3
Nông Sơn 250,0 14,7
Thành Mỹ 122,3 12,1
NL S.Bung+ A Vương 303,1 31,1
PA2-5
Hội Khách 426,1 17,6
Bảng 4.6: Mực nước lớn nhất tại các vị trí vùng hạ du theo các
phương án vận hành cắt giảm lũ hạ du. Trận lũ tháng 9 năm
2009.
21
Phương án vận hành tạo mực nước đón lũ
Vị trí
Chưa
cắt lũ
PA2-1 PA2-2 PA2-3 PA2-4
PA2-5
Hội Khách 19,08 18,20 18,03 17,61 17,36 17,10
Ái Nghĩa 10,90 10,42 10,30 10,06 9,92 9,79
Giao Thủy 9,74 9,25 8,99 8,80 8,73 8,67

22
nước hồ về cao trình thấp hơn mực nước đón lũ quy định cho đến khi
mực nước tại các trạm đo hạ du đạt mức báo động II. Khi mực nước
hạ du đạt mức báo động II, lưu lượng xả lũ không được vượt lưu
lượng đến hồ. Dung tích đón lũ chỉ được sử dụng để cắt lũ cho hạ du
khi dự báo trong khoảng 12h tới lũ đến các hồ chứa đạt đỉnh.
4.5. Kết quả thử nghiệm vận hành theo thời gian thực
4.5.1. Lựa chọn trận lũ thử nghiệm
Thử nghiệm với trận lũ lớn xảy ra tháng 9 năm 2009 theo tài liệu dự
báo mưa 3 ngày, bắt đầu từ ngày 23-9 đến ngày 29-9 năm 2009
4.5.2. Chế độ vận hành các hồ chứa và kết qủa tính toán vận hành
theo thời gian thực
Chế độ vận hành được hực hiện theo quy trình mà tác giả đã đề xuất
trên đây, thời gian bắt đầu vận hành từ ngày 26/9/2013. Theo số liệu
dự báo mưa được cập nhật liên tục từ ngày 26/9 đến 29/9. Theo kết
quả dự báo lưu lượng đến hồ, các quyết định vận hành được điều
chỉnh vào 7h hàng ngày theo quyết định vận hành các cửa xả lũ.
4.5.3. Nhận xét
Với khả năng dự báo trước lũ 3 ngày được cập nhật liên tục cho phép
dự kiến được chế độ xả lũ trước.
Do dự báo được cả quá trình lũ nên chủ động đưa ra phương án cắt
đúng đỉnh lũ và được điều chỉnh liên tục trong quá trình xả lũ. Nên
không những tăng hiệu quả cắt lũ cho hạ du mà còn đảm bảo an toàn
cho hồ chứa khi gặp lũ lớn.
Kết quả thử nghiệm cho thấy khả năng ứng dụng của mô hình do tác
giả xây dựng và có thể xem xét chỉnh sửa để ứng dụng trong thực tế.
Mặc dù kết quả dự báo mưa còn hạn chế, mức đảm bảo dự báo chưa
cao, nhưng với sự áp dụng mô hình MOPHONG_LU vẫn có thể chủ
động trong công tác vận hành, đảm bảo an toàn công trình và nâng
cao hiệu quả cắt giảm lũ cho hạ du./.

chứa phòng lũ theo thời gian thực với sự hỗ trợ của mô hình MIKE
11 để mô phỏng lũ khu vực hạ du.
4. Luận án đã nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả cắt giảm lũ
cho hạ du theo hai hướng: (1) Tăng dung tích đón lũ của các hồ chứa
24
so với quy trình vận hành liên hồ chứa trên cơ sở kéo dài thời gian dự
báo lũ đến hồ và các nút sông lên 3 đến 5 ngày; (2) Tăng dung tích
phòng lũ theo hướng xác định “mực nước trước lũ cố định”. Từ
những tính toán nghiên cứu cho thấy, hướng giải pháp tăng dung tích
đón lũ có ưu điểm hơn do vừa nâng cao được hiệu quả cắt lũ hạ du,
vừa tránh được rủi ro cho việc tích nước đầy hồ cuối mùa lũ và đảm
bảo yêu cầu phát điện của các hồ chứa.
5. Mô hình mô phỏng mà tác giả xây dựng cho vùng thượng du sông
Vu Gia-Thu Bồn được thiết lập theo hướng tổng quát. Do vậy, nếu
được hoàn thiện sẽ có thể ứng dụng cho các lưu vực khác ở Việt
Nam. Tuy nhiên, phải bổ sung các giao diện để thuận lợi cho người
sử dụng.
6. Kết quả ứng dụng mô hình mô phỏng cho vận hành hệ thống hồ
chứa trên sông Vu Gia-Thu Bồn còn những hạn chế nhất định do số
liệu đo mưa không đầy đủ, tài liệu địa hình lòng sông, đặc biệt là hạ
du sông chưa đảm bảo mức tin cậy cao.
KIẾN NGHỊ
7. Hướng nghiên cứu của luận án là tiếp cận với bài toán vận hành
theo thời gian thực và được giới hạn ở mức “xây dựng mô hình mô
phỏng phục vụ vận hành theo thời gian thực”. Để vận hành hệ thống
hồ chứa trên sông Vu Gia-Thu Bồn theo đúng nghĩa, cần thiết phải có
những nghiên cứu tiếp theo./.

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status