MỤC LỤC
1 Lời nói đầu 2
1 PHÒNG HÓA NGHIỆM CÔNG TY XĂNG DẦU KHU VỰC V: 3
2 KHO GAS 18
3 KHO NHỰA ĐƯỜNG 29
KẾT LUẬN 36
1 Lời nói đầu 2
1 PHÒNG HÓA NGHIỆM CÔNG TY XĂNG DẦU KHU VỰC V: 3
2 KHO GAS 18
3 KHO NHỰA ĐƯỜNG 29
KẾT LUẬN 36
1
1 Lời nói đầu
Thực tập công nhân là thời gian cần thiết cho mỗi sinh viên chúng em, giúp
chúng em nắm vững thêm kiến kiến thức từ công việc thực tế và có thời gian cọ sát
với công việc có liên quan tới ngành học. Dưới sự quan tâm giúp đỡ từ phía nhà
trường em được thực tập tại các địa điểm sau : Công ty xăng dầu khu vực V – Chi
nhánh Gas – Chi nhánh nhựa đường Đà Nẵng. Báo cáo này là toàn bộ những gì
em lĩnh hội được trong thời gian thực tập vừa qua. Báo cáo gồm 3 phần chính :
Phần I : Phòng hóa nghiệm công ty xăng dầu khu vực V
+ Kiểm tra chất lượng sản phẩm dầu mỏ.
Phần II : Kho gas LPG
+ Công nghệ nhập, bồn chứa, lưu trữ và xuất gas.
Phần III : Kho nhựa
+ Công nghệ nhập, bồn chứa, lưu trữ và xuất sản phẩm.
Với thời gian ngắn cùng với những hiểu biết có hạn, báo cáo này chắc
chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Nhưng cùng với sự giúp đỡ tận tình của
các thầy cô giáo trong khoa cũng như các cô chú, anh chị tại Công ty em sẽ cố
gắng hoàn thiện tốt báo cáo này.
Em xin chân thành cảm ơn tất cả thầy cô giáo, các cô chú, anh chị tại
Công ty xăng dầu khu vực V đã giúp đỡ em trong thời gian qua.
2. Đối với mẫu từng phần: được lấy khi trong bể nhập hàng có nhiều tỷ trọng
khác nhau.
1 PHÒNG HÓA NGHIỆM CÔNG TY XĂNG DẦU
KHU VỰC V:
3
• Vị trí lấy mẫu: ở bất cứ độ sâu nào trong bể chứa.
• Dụng cụ lấy mẫu: thả ống múc mẫu tại vị trí cần lấy mẫu, giật mạnh sợi
giây và chờ, mẫu được lấy 0,5l có thể được lấy trong khoảng 8 giây, 1l
sẽ mất 15 giây, mẫu được rót vào bình chứa.
3. Đối với mẫu đáy (hoặc mẫu sát đáy)
• Vị trí lấy mẫu: tại vị trí cách đáy cao nhất 30cm.
• Dụng cụ lấy mẫu đáy chuyên dùng
• Cách lấy mẫu: điều chỉnh thước đo từ 1cm đến 30cm, để thời gian
khoảng 1 phút cho mẫu vào đầy ống rồi kéo ống lên, rót mẫu vào bình
chứa mẫu.
4. Đối với mẫu xả đáy: mẫu lấy từ van xả nước.
1.1.2.2 Đối với mẫu tàu
Đối với tàu gồm nhiều hầm: tiến hành lấy mẫu tại ít nhất 2/3 số hầm tàu.
Trộn đều tất cả các mẫu lấy được làm mẫu chung cho cả lô hàng.
1.1.2.3 Yêu cầu
Đối với xăng thì thao tác phải nhanh nhẹn, thuần thục. Bình chứa mẫu phải
đảm bảo độ kín và được giữ lạnh trong thùng đá.
Tất cả các loại mẫu sau khi lấy xong phải được bảo quản nơi khô mát, không
có ánh sáng mặt trời chiếu vào.
1.2 Kiểm tra chất lượng nguyên liệu hàng nhập
1.2.1 Mục đích
Đảm bảo hàng hóa nhập vào kho đúng chủng loại, đảm bảo chất lượng.
Giúp phát hiện các trường hợp kém, mất phẩm chất. Từ đó có phương án
xử lý đúng như pha chế hay từ chối nhập toàn bộ lô hàng.
1.2.2 Nội dung:
Độ nhớt của một phân đoạn dầu mỏ là một đại lượng vật lý đặc trưng cho
trở lực do ma sát nội tại của nó sinh ra khi chuyển động.
Các loại độ nhớt:
• Độ nhớt động lực µ ( độ nhớt tuyệt đối) (Poa hay CentiPoise) là một đại
lượng đặc trưng cho trở lực nội tại sinh ra khi hai lớp phân tử có diện
tích 1 cm
2
(S) nằm cách nhau 1 cm(h) chịu tác dụng một lực là 1 dyn (F)
chuyển động tương đối với nhau với tốc độ 1 cm/s (u).
h
u
S
F
=
µ
• Độ nhớt động học ν là tỷ số giữa độ nhớt động lực và trọng lượng riêng
của chất lỏng, đơn vị Stoke (St) hay CentiStoke (cSt).
)/(
)(
)(
3
cmg
cP
cSt
ρ
µ
ν
=
1.4.2 Ý nghĩa
Nhờ vào độ nhớt của dầu mỏ, ta có thể đánh giá được khả năng vận
• Chọn nhớt kế xuôi cho chất lỏng trong suốt (dầu sáng)
• Chọn nhớt kế ngược cho chất lỏng đục (dầu tối)
1.4.6.3 Nạp mẫu
Mẫu được nạp vào nhớt kế đến vạch qui định cho mỗi loại nhớt kế
1.4.6.4 Tiến hành
Khi bình giữ nhiệt đã đạt đúng nhiệt độ qui định, lắp nhớt kế đã
được nạp mẫu vào giá đỡ rồi ngâm vào bồn giữ nhiệt trong ít nhất 10 phút
đối với phép thử ở 40
0
C và ngâm 15 phút đối với phép thử ở 100
0
C. Đối với
mẫu có độ nhớt cao tại nhiệt độ thí nghiệm cần thiết phải ngâm nhớt kế vào
bồn giữ nhiệt khoảng 30 phút.
Theo dõi sự ổn định nhiệt độ trong suốt quá trình tiến hành phép thử.
Biên độ dao động cho phép là ± 0,2
0
C.
Lưu ý: không rót thêm glycerin, không đặt thêm nhớt kế khác vào bồn
giữ nhiệt trong khi đang đo thời gian chảy của mẫu. Bất cứ biến đổi nào
làm thay đổi nhiệt độ phải tiến hành lại phép thử
Sau thời gian trên dùng đồng hồ bấm giây để đo thời gian chảy của
dầu trong khoảng hai vạch. Ghi lại giá trị thời gian này.
1.4.7 Tính toán và báo cáo kết quả
Độ nhớt động học được tính theo công thức:
ν = t . C
Trong đó: ν: độ nhớt động học, mm
2
/s (cSt)
C: hệ số kiểm định của nhớt kế, mm
liên quan đến phân đoạn nhẹ, nhẹ nhiều hay ít, khả năng chứa lưu huỳnh
cao hay thấp.
Đồng thời việc xác định tỷ trọng có thể xác định được xăng dầu có bị
biến chất hay không.
1.5.3 Phạm vi áp dụng
Áp dụng cho dầu thô và các sản phẩm dầu mỏ.
1.5.4 Tóm tắt phép thử
Mẫu được giữ trong môi trường nhiệt độ ổn định và được chuyển tới ống
đong hình trụ có cùng nhiệt độ. Một tỷ trọng kế thích hợp được đặt trong
lòng mẫu và cho phép chìm xuống. Sau khi đạt được sự cân bằng nhiệt độ,
đọc số chỉ trên tỷ trọng kế và ghi lại nhiệt độ của mẫu.
1.5.5 Dụng cụ, thiết bị
• Bộ các tỷ trọng kế và nhiệt kế
• Ống đong 500ml
• Khay cốc dùng để hứng dầu tràn
1.5.6 Cách tiến hành
Chọn tỷ trọng kế thích hợp cho mẫu cần đo như sau
• Đối với mẫu MO: chọn tỷ trọng kế 0,65 – 0,70; 0,70 – 0,75
• Đối với mẫu KO, Jet A1: chọn tỷ trọng kế 0,75 – 0,80
• Đối với mẫu DO: chọn tỷ trọng kế 0,80 – 0,85
• Đối với mẫu FO: chọn tỷ trọng kế 0,90 – 0,95; 0,95 – 1,00
Đặt khay trên bề mặt bằng phẳng và trong môi trường nhiệt độ ổn định, biên độ
dao động nhiệt độ là 2
0
C. đặt ống đong vào lòng khay rồi rót mẫu vào đầy ống
đong. Thả nhẹ tỷ trọng kế thích hợp vào ống đong mẫu theo phương thẳng
đứng đòng thời làm tan bọt khí trên bề mặt mẫu, để yên như thế trong 5 phút,
riêng đối với mẫu MO thì đọc kết quả sau 2 phút.
Quan sát vị trí các vạch chia trên nhiệt kế và tỷ trọng kế, đọc kết quả đo được.
Giá trị nhiệt độ đọc trong khoảng gần nhất là 0,25
1 Chuẩn bị ống sinh hàn và ống ngưng phải được làm sạch để đảm bảo
rằng nước hoàn toàn chảy xuống đáy ống ngưng. Nhét một miếng bông xốp
vào đầu ống sinh hàn hồi lưu để ngăn sự xâm nhập hơi ẩm từ bên môi
trường ngoài.
2. Chuyển 100ml mẫu vào bình cầu chưng cất, tráng sạch ống đong
dùng lấy mẫu 100ml xăng dung môi. Lắp bình cầu vào bộ chưng cất.
3. Cho nước lạnh chảy tuần hoàn trong vỏ bọc của ống hồi lưu. Gia
nhiệt cho bếp và điều chỉnh nhiệt sao cho phần cất ngưng tụ chảy xuống
ống ngưng với tốc độ từ 2÷5 giọt/1s. Cất liên tục cho đến khi không còn
nước bám ở bất kì phần nào của thiết bị, trừ ống ngưng và thể tích nước
trong ống ngưng không thay đổi trong 5 phút. Khi đó ngưng gia nhiệt, để
nguội hệ thống cất đến nhiệt độ phòng. Đọc thể tích nước ngưng tụ trong
ống ngưng.
1.6.6 Tính toán, báo cáo kết quả
Hàm lượng nước (%V) được tính theo công thức:
%nước = (V
n
/V
m
) . 100
V
n
: thể tích nước thu được trong ống ngưng
V
m
: thể tích mẫu dùng trong phép thử
9
Theo TCVN :đối với FO, %nước<=1%
1.7 Xác định điểm chớp cháy cốc kín (ASTM D93-96, qui trình
A)
Cấp nhiệt ngay từ đầu với tốc độ tăng nhiệt độ của mẫu từ 5÷6
0
C/phút.
Khuấy với tốc độ 90÷120 vòng/phút.
• Tiến hành châm ngọn lửa thử khi nhiệt độ thử cách điểm chớp cháy
dự đoán 23±5
0
C. Nếu điểm chớp cháy của sản phẩm trên 110
0
C thì cứ sau
10
mỗi lần tăng thêm 2
0
C thì tiến hành châm lửa một lần. Nếu điểm chớp cháy
của sản phẩm dự kiến ≤110
0
C thì cứ sau mỗi lần tăng thêm 1
0
C tiến hành
châm lửa một lần.
• Ghi lại nhiệt độ trên nhiệt kế là điểm chớp lửa quan sát được khi
ngọn lửa gây nên chớp lửa thực sự bên trong cốc.
1.7.7 Tính toán, báo cáo kết quả
Hiệu chỉnh về áp suất khí quyển bằng công thức:
C
h
= C
qsat
+ 0,25(101,3 – K)
K: áp suất môi trường tại thời điểm tiến hành phép thử
suất ổn định. Số chỉ trên áp kế là số chỉ áp suất hơi bão hòa Ried của mẫu.
1.8.5 Dụng cụ, thiết bị
- Bom Ried gồm khoang lỏng và khoang hơi được nối với nhau bằng ren vặn
kín khít ở đỉnh khoang nơi có ống dẫn hơi nối với đồng hồ đo áp lực.
- Áp kế dùng để đo áp lực.
11
- Bể ổn nhiệt có bộ phận khuấy tự động.
- Bộ phận gia nhiệt kèm rơle nhiệt tự động được cài đặt ở 37,8
o
C
- Nhiệt kế
- Bộ phận kiểm soát quá trình đo.
- Bộ phận làm lạnh mẫu.
1.8.6 Tiến hành
Mẫu đã được làm lạnh, rót vào khoang mẫu đã được tráng mẫu và làm lạnh.
Nối khoang lỏng và khoang hơi, đặt toàn bộ hệ thống đúng vị trí các khớp quay
trong bể ổn định nhiệt. Thao tác phải thực hiện nhanh.
Ấn nút để tiến hành phép đo. Khi kim đồng hồ không tăng trong vòng năm
phút thì ghi lại chỉ số này. Đây chính là áp suất hơi bão hòa Reid.
1.9 Xác định hàm lượng lưu huỳnh (ASTM D4294-90)
1.9.1 Tác hại của S trong nguyên liệu
Lưu huỳnh tồn tại trong nguyên liệu, dưới tác dụng của các tác nhân
oxy hóa sẽ chuyển thành SO
x
và kết hợp với nước tạo H
2
SO
4
, gây ăn mòn thiết
bị và khí SO
Nếu giá trị chuẩn của máy lớn hơn 5% thì phải chuẩn lại máy theo các bước
như trên cho đến khi đạt được giá trị nằm trong khoảng 0-5%. Trong quá trình
làm việc sẽ có sự tham gia của dòng khí Helium, dòng khí này sẽ là lớp đệm
giữa bề mặt mẫu và phần không khí trên bề mặt mẫu cần phân tích để việc
phân tích mẫu được chính xác, tránh sai số do S trong không khí gây ra.
1.9.6 Báo cáo kết quả
Theo tiêu chuẩn ASTM D4294-90.
1.10 Xác định độ ăn mòn mảnh đồng (ASTM D 130-94)
1.10.1 Phạm vi áp dụng
Áp dụng đối với xăng máy bay, nhiên liệu phản lực, xăng ô tô, dầu hỏa,
diesel, dầu nhờn.
1.10.2 Tóm tắt phép thử
Một tấm đồng đã được đánh bóng theo qui định rồi được ngâm vào
lượng mẫu qui định, được gia nhiệt trong thời gian qui định đối với sản phẩm
kiểm tra. Kết thúc giai đoạn này, tấm đồng được nhấc ra và so sánh với bảng
chuẩn ăn mòn tấm đồng ASTM.
1.10.3 Dụng cụ, thiết bị
• Ống mẫu hình trụ.
• Bể điều nhiệt có bộ phận gia nhiệt kèm rơle nhiệt tự động cho phép biên độ
dao động là ± 1
0
C.
• Bom thử ăn mòn mảnh đồng.
• Nhiệt kế vạch chia 1
0
C.
• Ống nghiệm dẹt dùng để bảo vệ mảnh đồng đã bị ăn mòn khi so sánh và
bảo quản.
• Bảng kẹp để giữ mảnh đồng khi đánh bóng và kẹp dùng để gắp mảnh đồng.
• Hộp các mảnh đồng.
1.11 Đo trị số octane (ASTM 2699-01a)
1.11.1 Định nghĩa
Trị số octan (IO) là một đại lượng quy ước để đặc trưng cho khả năng
chống kích nổ của xăng. Giá trị của nó được tính bằng %V của iso octane
(2,2,4 – trimetylpentan) trong hỗn hợp của nó với n – heptan khi mà hỗn
hợp này có khả năng chống kích nổ tương đương với khả năng chống kích
nổ của xăng đang khảo sát.
1.11.2 Ý nghĩa
Kiểm tra trị số octane của xăng có đạt yêu cầu hay không.
1.11.3 Phạm vi áp dụng
Xác định độ bền của xăng ô tô, xăng máy bay và các hợp phần của chúng
(biểu thị bằng trị số octan).
1.11.4 Tóm tắt phép thử
Mẫu kiểm tra trị số octane được đưa vào bình chứa nhiên liệu để phân tích
sau đó mẫu được đưa vào động cơ của máy octan động cơ CFR –
WAUKESHA xác định được chỉ số của đồng hồ đo kích nổ. Sau đó pha dung
14
dịch chuẩn sơ cấp chặn trên và chặn dưới có được kết quả của số chỉ đồng hồ
đo kích nổ, thay vào công thức ta có kết quả của trị số octan.
1.11.5 Dụng cụ, thiết bị
• Máy xác định trị số octan.
• Tủ pha hóa chất, ống đong 100ml, 500ml, bình nón 500ml.
• Hóa chất iso octan, n heptan, 80 octan Blend, Toluen.
1.11.6 Cách tiến hành
• Tốc độ của dộng cơ: 600±6 vòng/phút.
• Khe hở van xúp pát: Khe hở van xúp pát hút và xả sẽ trong khoảng từ 0,008
± 0,001 inch (0,20±0,02mm). khi động cơ đang chạy.
• Nhiệt độ của dầu: 135±15
0
F (57±8
• Độ chân không bên trong hộp trục khủy: từ 1 đến 6 inch, nước thấp hơn áp
suất khí quyển, được đo bằng áp kế được nối với hộp trục khủy.
• Đặt góc đánh lửa: 13
0
trước điểm chất trên, so với chiều cao của xilanh.
• Khe hở của nến đánh lửa: 0,020 ± 0,005 in (0,50 ± 0,1mm).
• Có 2 phương pháp thực hiện:
Phương pháp chặn
Phương pháp tỷ số nén
1.11.6.1 Phương pháp chặn: sử dụng khi trị số octane kiểm tra dự đoán được
Vd: đối với mẫu xăng 95
1. Kiểm tra áp suất khí quyển, sau đó thêm phần bù và chiều cao xylanh
(nếu thấy cần thiết)
2. Chuẩn bị hai mẫu nhiên liệu chuẩn sơ cấp, tối thiểu 400ml, với iso
octan và n- heptan, chênh lệch khoảng 2 độ octan, trong khoảng trị số actan
dự đoán (94 và 96)
3. Đổ đầy bình 1 với nhiên liệu chuẩn sơ cấp có trị số octan thấp và bình 2
với nhiên liệu chuẩn có trị số octan cao hơn.
15
4. Điều chỉnh chiều cao của xilanh của nhiên liệu chuẩn sơ cấp có trị số
octan thấp (94), bằng đồng hồ Micrometer hay bộ đếm digital. Đừng quên,
cộng và trừ phần bù áp suất khí quyển nếu cần thiết.
5. Xoay van chọn bình 1.
6. Điều chỉnh chiều cao của bình từng bước từng bước một để tỷ lệ nhiên
liệu – không khí đạt cực đại (cường độ kích nổ đạt cực đại), đọc chỉ số trên
kích nổ kế (kim sẽ tăng đến một mức nào đó, khi vượt quá mức đó thì
không tăng nữa và giảm, vậy mức đó là chỉ số cực đại), sau đó ghi lại ghi
lại chiều cao mức chiều cao của bình và vị trí của kim cho cường độ kích
nổ cực đại.
7. Xoay van chọn bình số 2. Cũng làm tương tự như bình số 1.
đo bình 4 – bình đựng mẫu)
16
Bình 1, bình 2, bình 4, bình 2, và bình 1. Tại mỗi lần đo ở các bình ghi lại
số chỉ của kích nổ kế.
13.Khi kết thúc việc đo, chuyển van sang bình số 3 (bình đựng nhiên liệu
làm nóng động cơ) không thay đổi chiều cao của xylanh. Ghi chỉ số của
đồng hồ Micrometer ( hay bộ đếm số).
1.11.6.2 Phương pháp tỷ số nén: trong trường hợp chỉ số octane của mẫu là
không xác định
1.11.6.3 Xem áp suất khí quyển, sau đó tính phần bù chiều cao xilanh.
1. Đổ nhiên liệu cần xác định vào bình 4 và xoay van chọn bình 4.
2. Tăng và giảm chiều cao của xilanh bằng bộ công tác gạt điều chỉnh tỷ số
nén (tăng lên hoặc giảm xuống) đến khi kim của kích nổ kế chỉ ở vạch 30
của kích nổ kế.
3. Điều chỉnh chiều cao của bình số 4 để đạt được cường độ kích nổ cực đại.
4. Sau đó, tăng hay giảm chiều cao của xilanh cho đến khi kim của kích nổ kế
chỉ ở vị trí 50±2
5. Đọc chỉ số trên đồng hồ Micrometer, hay chỉ số trên bộ đếm số.
6. Với chỉ số đã được hiệu chỉnh, xem bảng ASTM tương ứng và xác định chỉ
số octane tương ứng với chỉ số đã hiệu chỉnh
7. Chuẩn bị hai mẫu chuẩn sơ cấp chênh lệch hai đơn vị trị số octan, nằm
trong khoảng trị số octan dự đoán
8. Sau đó thực hiện lại các bước trong pp chặn để hoàn thiện phép thử.
1.11.6.4 Tính toán
Tính toán trị số octan của mẫu:
( )
lrfNOhrfNO
hrfIKlrfIK
sIKlrfIK
ifsNOsNO
hơi), vì vậy để thuận tiện trong tồn chứa và vận chuyển, LPG được hóa lỏng
bằng cách nén trong các bình chứa cho áp lực ở nhiệt độ thường hoặc làm
lạnh hóa lỏng để tồn chứa ở áp suất thấp. Đặc điểm lớn nhất của LPG là
chúng được tồn chứa ở trạng thái bão hòa tức là tồn tạiở trạng thái cân bằng
lỏng hơi.
Gas Petrolemex được kho gas tiếp nhận và phân phối là hỗn hợp gồm
70% butane và 30% Propane. LPG ở thể lỏng và hơi đều không màu, không
mùi. Ở thể lỏng tỷ trọng của LPG khoảng bằng một nửa tỷ trọng của nước.
Còn ở thể hơi thì gần gấp hai lần tỷ trọng của không khí. Gas LPG không
độc, không gây ô nhiễm môi trường , không ảnh hưởng đến thực phẩm nhưng
nếu bị rò rỉ nhiều thì gas sẽ lắng xuống và gây ngạt thở. Do đó, vì lý do an
toàn nên LPG được pha thêm chất tạo mùi là etylmercaptan và khí có mùi
đặc trưng, hòa tan tốt trong LPG, không độc, không ăn mòn thiết bị để dễ
phát hiện rò rỉ.
1.13Công nghệ kho LPG
1.13.1 Giới thiệu chung về công nghệ kho LPG
Công nghệ kho LPG là tập hợp tất cacr thiết bị bồn, bể, biện pháp kỹ thuật
vận hành, bảo dưởng chúng để thực hiện công việc xuất nhập, tồn chứa, cấp
phát LPG tại kho một cách an toàn
Thông thường, LPG được vận chuyển từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ bằng
đường ống (trong phạm vi hẹp), tàu chuyên dụng, xe bồn, bình.
LPG được vận chuyển bằng taù dưới 2 dạng: được làm lạnh và nén dưới áp
suất nhất định
LPG được vận chuyển bằng tàu đến cảng và được bơm lên bể chứ bằng các
bơm hoặc máy nén LPG trên tàu qua một hệ thống tiếp nhận kín.
2 KHO GAS
18
LPG được tồn chứa trong các bể bồn chứa và được đóng ra các bình nhờ hệ
thống bơm và giàn đóng bình tự động hay bán tự động, qua hệ thống cân để
xác định khối lượng LPG của từng bình. Ngoài ra LPG cũng được đóng vào
7
8
9
4
(1): Bồn chứa
(2): Trạm bơm gas
(3): Gas nhập từ tàu
(4): Xe bồn
(5): Nhà đóng bình tự động
(6): Kiểm tra rò gas
(7): Kiểm tra khối lượng gas nạp
(8): Niêm phong bình gas
(9): Máy rửa bình gas tự động
20
1.14Các hệ thống công nghệ
1.14.1 Bể chứa
Bể chứa tại kho Nại Hiên là loại bể trụ nằm ngang, được làm bằng thép chịu
lực cao, được kiểm tra siêu âm và chụp X quang 100% mối hàn, thử bền bằng
cách nén nước đến áp suất 27kG/cm
2
, sau đó thử kín bằng khí nén ở 18kG/cm
2
. Bể
đặt nằm ngang trên các gối đỡ bằng bê tông. Một số thông số của bể hiện có tại
kho gas Đà Nẵng như sau :
+ Thể tích : 225,029 m
3
+ Sức chứa : 100 000 kg
+ Áp suất thiết kế : 18kg/cm
một chiều, 1 van đóng nhanh. Chiều cao ống xuất trong bể là 34 cm so với đáy bể
để tránh hút nước và cặn bẩn bên trong bể.
+ (3) : đường ống nhập tàu
+ (4) ; (5) : đường ống hút và nén khí dùng để nhập tàu và đảo bể.
+ (6) : Ống vét đáy. Trên đường ống luôn có 2 van ở trạng thái đóng.
+ (7) : thước đo Rota dùng để đo mức chất lỏng trong bể, từ đó tính được
lượng LPG tồn chứa.
+ (8) : cửa vào chỉ được phép mở khi làm vệ sinh bể
+ (9) : đường ống xả hơi (van xả đỉnh)
+ (10) : 2 van an toàn áp suất
+ (11) : đồng hồ đo áp suất hơi của LPG
+ (12) : đồng hồ đo mức chất lỏng bằng cầu phao, phao hình trụ nổi trên mặt
chất lỏng.
+ (13) : đồng hồ đo nhiệt độ LPG lỏng
2.3.2.2 Các thiết bị theo bể
Van an toàn áp suất :
Chức năng : van an toàn áp suất hay còn gọi là van an toàn được dùng bảo vệ
bể khỏi các nguy hiểm do áp suất trong bể tăng đột ngột như : vỡ bể ; hỏng van ;
hỏng thiết bị đo bể
Van an toàn áp suất được chia thành 2 nhóm chính : nhóm van đặt trên bình
chứa ( bể, bồn chai ) ; nhóm van đặt trên đường ống. Nhóm van an toàn trên bể
bao gồm ; van an toàn bên trong và van an toàn bên ngoài. Van an toàn được lắp
đặt trên bể của kho LPG ở Đà Nẵng là loại van bên ngoài.
Cơ chế hoạt động :
Van an toàn áp được nhà sản xuất cài đặt và niêm phong dưới một áp suất
định trước ( áp suất bắt đầu xả ).Áp suất này phụ thuộc vào yêu cầu thiết kế của
bình chứa. Khi áp suất trong bình tăng lên đến áp suất cài đặt thì nó sẽ đẩy van ra
khỏi bệ van và khí được xả ra ngoài. Nếu áp suất tiếp tục tăng thì van mở đến vị trí
tối đa cộng theo những tiếng kêu. Khi van này mở thì lượng khí LPG thoát ra làm
áp suất bên trong giảm đi và khi áp suất giảm đến một giá trị nào đó thì lò xo của
1.14.3.1 Ống mềm
+ Công dụng : dùng để cáp nối từ ống thép dẫn LPG trong kho đến giàn
Manifoll trên tàu trong quá trình xuất nhập tàu, hoặc nối hệ thống công nghệ kho
với xe bồn LPG khi cấp phát cho xe bồn.
+ Cấu tạo :
Ống mềm có thể được chế tạo theo 2 dạng : một dạng có kết cấu Composite gồm
nhiều lớp polime hoặc cao su Nêoprene ; một dạng có kết cấu bằng cao su có các
nếp sóng bằng thép không rỉ bên ngoài và bên trong được gia công bằng thép
không rỉ.
Vật liệu chế tạo ống mềm ( kể cả khớp nối ) chịu được áp lựu phá hủy tối thiểu
87kg/cm
2
. Trên thân ống có ghi rõ “ LPGas’’.
1.14.3.2 Ống thép
Sử dụng loại ống thép chuyên dụng chịu áp lực.
Khi lắp đặt, ống dẫn gas phải được siêu âm 100% mối hàn trước khi thử kín.
Quy định: ống dẫn gas lỏng màu vàng, ống dẫn gas khí màu xanh, ống nước
phòng chay chữa cháy (PCCC) màu đỏ.
1.14.3.3 Các trang thiết bị trên đường ống
* Van : Trên các đường ống gồm có các loại van sau :
+ Van điều lượng :
Van quá dòng dùng để giảm tối thiểu lượng LPG khi đường ống bị vỡ.
23
Hoạt động : bình thường van quá dòng ở trạng thái luôn mở cho lỏng LPG đi
qua với một lưu lượng nhất định. Khi lưu lượng vượt quá mức độ cho phép thì nó
sẽ đẩy van xuống đóng chặt lại với bệ van phía trên làm lỏng LPG không thoát ra
được nữa.
Van quá dòng đặt tại đầu ống xuất phía trong bể, cho phép lưu lượng đi qua
từ 10 - 40m
3
ứng suất bất lợi đối với cánh bơm trụ.
Bảo vệ hệ thống khỏi bị quá áp. Nếu bơm bị quá áp trên đường ống đẩy thì
van an toàn áp suất sẽ xả LPG vào không khí.
Tránh cho motor khỏi bị quá tải.
+ Van an toàn áp suất trên đường ống :
Van an toàn áp suất trên đường ống cũng có chức năng như van an toàn áp
suất trên bể. Nghĩa là chống lại nguy hiểm do áp suất tăng cao bằng cách tự động
mở ở một áp suất định trước và do đó làm giảm áp suất được bố trí trên từng đoạn
ống giữa các van. Khi áp suất trong đường ống tăng thì nó mở van xả hơi.
24
+ Lưu lượng kế : dùng để xác định lượng chất lỏng đi trong ống dẫn trong
một khoảng thời gian nhất định. Trong kho LPG, người ta sử dụng loại lưu
lượng kế thể tích kiểu cánh trượt để đặt trên các đường ống.
Bình lọc : dùng để tách cặn bẩn, xỉ trong chất lỏng trước khi đi vào lưu
lượng kế, bơm.
1.14.4 Hệ thống giàn đóng bình
1.14.4.1 Giàn Carousel :
Đóng các loại bình dân dụng 12, 13 kg. Giàn này là giàn đóng bình bán tự
động, được điều khiển bằng khí nén. Khi bình gas cần nạp ở vào vị trí chuẩn bị
đóng rót thì tay bật tự động đẩy bình từ vị trí chờ vào giàn Carousel, lúc đó người
công nhân chỉ cần đưa đầu đóng rót vào van bình rồi ấn nút, van khí nén sẽ làm
cho van gas mở để gas được nạp vào bình. Đồng thời lúc đó điều chỉnh trọng
lượng vỏ bình trên cân nhờ thang đo. Khi bình được đóng xong thì tay đẩy trong
cân tác động lên van khí nén làm đóng van gas và nhã đầu đóng rót ra khỏi bình.
Khí bình được đưa đến vị trí ra trên giàn Carousel thì tay đẩy đưa bình ra khỏi vị
trí đóng rót trên băng tải.
1.14.4.2 Giàn đóng bình 48 kg
Giàn đóng bình 48 kg gồm có 4 máy đóng rót đặt cố định với hệ thống dẫn
gas lỏng và hoàn toàn độc lập với giàn Carousel.
Hệ thống này gồm các chi tiết cơ bản sau :