Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ HOA HIÊN TỪ NGỮ CHỈ TÊN GỌI CÁC LOÀI CÁ, TÔM
TRONG CA DAO, TỤC NGỮ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. PHẠM HÙNG VIỆT
THÁI NGUYÊN - 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
THÁI NGUYÊN - 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
3
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận
văn chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kì công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Hoa Hiên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
4
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong số những thể loại văn học dân gian Việt Nam thì ca dao, tục ngữ là
thể loại phong phú cả về số lƣợng, nội dung, chủ đề và đƣợc nhiều thế hệ các
Hƣơng, Trƣơng Thị Nhàn, Nguyễn Thị Ngọc Điệp… Ở từng công trình
nghiên cứu các tác giả đã tìm hiểu ca dao, tục ngữ từ nhiều góc độ: văn hoá
dân gian, thi pháp học, văn hoá học, ngôn ngữ học…
- Trƣớ c hế t phải kể đến cuốn “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam”, của
tác giả V Ngọc Phan. Tác giả đã tìm hiểu chung về nội dung và hình thức
của từng thể loại, và thống kê các câu tục ngữ, ca dao theo các chủ đề khác
nhau . Với cuốn sách này, tác giả là ngƣời đầu tiên đề cập trực tiếp đến vấn đề
biểu tƣợng trong ca dao. Tác giả cng đã dành một phần tìm hiểu về biểu
tƣợng con cò, con bống. Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã nhấn
mạnh “Một đặc điểm trong tư duy hình tượng của nhân dân Việt Nam về cuộc
đời; đời người với đời con cò và con bống” [Tr.72]. Ngƣời nông dân lao động
thấy hình ảnh của mình nhƣ cái cò nên đã mƣợn đời sống của con cò để biểu
hiện đời sống của mình. Con cá bống cng đƣợc nói nhiều trong ca dao, dân
ca nhƣng không giống con cò vì con cò có thể là hình ảnh của cả trai lẫn gái
còn con cá bống chỉ có thể là hình ảnh ngƣời thiếu nữ hay ngƣời thiếu phụ.
- Hà Công Tài với bài “Biểu tượng trăng trong thơ ca dân gian” Và Bùi
Công Hùng với bài “Biểu tượng thơ ca” (1988) đã khai thác rõ hơn về khái
niệm nghệ thuật và đi sâu phân tích một số biểu tƣợng trong ca dao, trong đó
có biểu tƣợng trăng.
- Trƣơng Thị Nhàn với bài viết in trên tạp chí văn hoá dân gian “Tìm
hiểu ngôn ngữ nghệ thuật ca dao qua một số tín hiệu thẩm mĩ” (1992). Tác
giả đã nêu ý nghĩa biểu tƣợng của các vật thể nhƣ khăn, áo, giƣờng, chiếu,…
và đi sâu tìm hiểu tín hiệu thẩm mĩ sông. Ở bài viết này tác giả kết luận: “Khả
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
6
năng biểu trưng hoá nghệ thuật của các vật thể trong ca dao góp phần tạo
nên một nét đặc trưng rất cơ bản. Sông là một yếu tố mang ý nghĩa thẩm mĩ
giàu sức khái quát nghệ thuật, tham gia vào hệ thống biểu hiện của ngôn ngữ
nghệ thuật ca dao, sông có giá trị của một tín hiệu thẩm mĩ” [Tr. 62] .
nguồn sau:
+ Những biểu tƣợng xuất phát từ phong tục tập quán của con ngƣời
Việt Nam, từ quan niệm dân gian, tín ngƣỡng dân gian: trầu cau, cây đa,
vuông tròn…
+ Những biểu tƣợng xuất phát từ văn học cổ Việt Nam và Trung
Quốc: Thuý Kiều - Kim Trọng, Ngưu Lang - Chức Nữ, dây tơ hồng, ông tơ
bà nguyệt…
+ Những biểu tƣợng xuất phát từ sự quan sát trực tiếp hàng ngày của
nhân dân: hoa sen, hoa đào, hoa hồng, con cò, con cá, trăng…
Theo sự phân chia của tác giả, biểu tƣợng cá tôm đƣợc hình thành từ
nguồn thứ ba tức là từ sự quan sát trực tiếp hàng ngày của nhân dân. Cơ sở để
tạo nên các biểu tƣợng chính là hiện thực khách quan . Dựa vào cách phân loại
trên, chúng tôi đã xá c đị nh những định hƣớng để triển khai đề tài này .
- Gần đây hơn là những bài viết của một số tác giả trẻ nhƣ Nguyễn
Phƣơng Châm, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Hà Thị Quế Hƣơng, Phan Thị Thuý
Hằng…đã đem đến cho ngƣời đọc nhiều hiểu biết thú vị, đặc biệt cung cấp
cho chúng tôi những thông tin mới để nghiên cứu đề tài.
Qua việc tìm hiểu các công trình khoa học đã kể ra ở trên , có thể thấy các
tác giả đã tập trung thống kê, tìm hiểu các vấn đề về kho tàng ca dao , tục ngữ
Việt Nam khá kĩ . Tuy nhiên chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách có
hệ thống trên phƣơng diệ n ngôn ngƣ̃ về từ ngữ chỉ tên gọ i các loà i cá, tôm
trong ca dao , tục ngữ Việt Nam . Thƣ̣ c tế nà y là một gợi ý ch o chúng tôi lựa
chọn và bắt tay vào thực hiện đề tài.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
8
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
3.1. Về lí luận
- Mô tả các đặc điểm cấu tạo ngữ pháp của các đơn vị từ vựng chỉ tên gọi
cá tôm trong ca dao, tục ngữ Việt nam
Bách khoa thƣ Việt Nam.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Xác định cơ sở lí luận cho luận văn .
5.2. Thống kê, phân loại các từ ngữ chỉ tên gọi các loài cá, tôm trong ca dao,
tục ngữ ngƣời Việt.
5.3. Tìm hiểu đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ tên gọi các loài cá, tôm.
5.4. Bƣớc đầu nêu lên những suy nghĩ về vai trò của biểu tƣợng (biểu tƣợng
cá, tôm) trong đời sống của nhân dân lao động thể hiện ở ca dao, tục ngữ
ngƣời Việt.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Ở luận văn này, chúng tôi sử dụng những phƣơng pháp sau:
6.1. Phƣơng pháp thống kê, phân loại (thống kê có định hƣớng, phân loại định
lƣợng kết hợp với phân tích định tính): đƣợc sử dụng trong quá trình thu thập
và xử lí tƣ liệu. Luận văn này thu thập và xử lí trên 447 câu ca dao, 260 câu
tục ngữ có từ ngữ chỉ tên gọi cá, tôm.
6.2. Phƣơng pháp phân tích: đƣợc sử dụng trong quá trình phân tích để rút ra
đặc điểm về cấu trúc ngữ pháp và ngữ nghĩa của từ ngữ, hình ảnh cá, tôm.
6.3. Phƣơng pháp quy nạp: dùng để rút ra những kết luận trong quá trình
nghiên cứu.
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng thủ pháp so sánh đối chiếu khi cần thiết để
làm rõ đặc điểm riêng của đối tƣợng đang xem xét. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
10
7. Đóng góp của luận văn
Lớp từ ngữ chỉ tên gọi các loài cá, tôm trong ca dao, tục ngữ ngƣời Việt
chƣa đƣợc nghiên cứu một cách có hệ thống. Với luận văn này, chúng tôi hi
vọng đây sẽ là công trình đầu tiên xem xét dƣới góc độ ngôn ngữ học một
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
11
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1 . Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá
1.1.1. Về khái niệm văn hóa
Văn hoá là một hiện tƣợng cổ xƣa nhất của con ngƣời, nó nảy sinh và
phát triển song hành với xã hội loài ngƣời và là sự khác biệt cơ bản nhất của
con ngƣời với phần còn lại của thế giới. Từ “Văn hoá” trong các ngôn ngữ
khác nhau đều có nhiều nghĩa. Hiện nay có hàng trăm định nghĩa khác nhau
về văn hoá. Theo Từ điển tiếng Việt, văn hoá có những ý nghĩa sau đây:
1. Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo ra trong các quá trình lịch sử. Ví dụ: Kho tàng văn hoá dân gian,
văn hoá phương Đông…
2. Những hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống tinh
thần (nói tổng quát). Ví dụ: Phát triển văn hoá, công tác văn hoá…
3. Tri thức, kiến thức khoa học (nói khái quát). Ví dụ: Học văn hoá, trình
độ văn hoá…
4. Trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh. Ví dụ:
Sống có văn hoá, ăn nói thiếu văn hoá…
5. Chm. Nền văn hoá của một thời kỳ cổ xưa được xác định trên cơ sở
một tổng thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau. Ví
dụ: Văn hóa rìu hai vai, văn hoá gốm màu, văn hoá Đông Sơn…[54] .
Tác giả Trần Ngọc Thêm cho rằng: Văn hoá là hệ thống hiếm có các gía
trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt
động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên, xã
hội [58]. UNESCO có định nghĩa về văn hoá nhƣ sau: Văn hoá có thể coi là
tổng thể những nét riêng biệt giữa tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc
quy định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội. Văn hoá
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
13
Với tƣ cách là đặc điểm đặc thù của nền văn hoá dân tộc, có thể xem xét
ngôn ngữ theo hai hƣớng: hƣớng nội và hƣớng ngoại. Hƣớng nội khi ngôn
ngữ đóng vai trò là ngôn ngữ chính thống dân tộc. Còn trong trƣờng hợp
hƣớng ngoại thì ngôn ngữ là dấu hiệu cơ bản làm phân li một dân tộc. Do
ngôn ngữ có sự kết hợp biện chứng hai chức năng đối lập nên ngôn ngữ thực
sự là phƣơng tiện cho sự bảo toàn của một dân tộc và cng là phƣơng tiện
tách biệt dân tộc này khỏi nền văn hoá của dân tộc khác. ATARAEB viết:
“Chính ngôn ngữ được một dân tộc sáng tạo ra và của riêng dân tộc này thực
hiện chức năng đặc trưng của dân tộc” [22].
Tóm lại, ngôn ngữ là yếu tố văn hóa quan trọng hàng đầu mang sắc thái
dân tộc. Tuy nhiên, ngoài ngôn ngữ còn có các thành tố khác của văn hoá
cng mang đặc trƣng dân tộc nhƣ: phong tục, tập quán, truyền thống… Chính
sự đặc thù của văn hoá đƣợc biểu hiện trong ngôn ngữ đã quy định đặc trƣng
văn hoá – dân tộc của hành vi nói năng ở những thành phần thuộc cộng đồng
văn hoá – ngôn ngữ khác nhau.
1.2. Biểu tƣợng văn hoá và biểu trƣng
1.2.1. Biểu tƣợng văn hoá
Trong cuốn Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới của các tác giả Jean
Chevalier, Alain Gheerbrant đã chỉ ra cách xác định biểu tƣợng. Khởi nguyên,
biểu tƣợng là một vật đƣợc cắt làm đôi, mảnh sứ, gỗ hay kim loại. Hai ngƣời
mỗi bên giữ một phần chủ và khách, ngƣời cho vay và ngƣời đi vay, hai kẻ
hành hƣơng, hai ngƣời sắp chia tay nhau lâu dài…) mỗi bên giữ một phần.
Sau này ráp hai mảnh lại với nhau họ nhận ra mối dây thân tình xƣa, món nợ
c, tình bạn ngày trƣớc. “Biểu tượng chia ra và kết lại với nhau, nó chứa hai
ý tưởng phân ly và tái hợp; nó gợi lên ý một cộng đồng có thể chia tách và có
thể tái hình thành. Mọi biểu tượng đều chứa đựng dấu hiệu bị đập vỡ; ý nghĩa
của biểu tượng được bộc lộ ra trong cái vừa là gẫy, vỡ vừa là nối kết những
bản thể và hình thái cấu tạo của nó [48].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
15
Biểu trƣng thể hiện qua các hình ảnh có tính khái quát, điển hình.
Ví dụ:
Hoa (A) biểu trƣng cho cái đẹp, tình yêu hôn nhân, ngƣời phụ nữ (B)
Con rồng (A) biểu trƣng cho một tín ngƣỡng (B).
Với những cách lý giải ở trên, chúng ta thấy định nghĩa trong cuốn Từ
điển tiếng Việt biểu trƣng là biểu hiện một cách tượng trưng và tiêu biểu nhất
[54]. Đây là một định nghĩa khoa học chuẩn xác có tính phổ quát cao.
1.2.3. Một số hình ảnh biểu trƣng trong tác phẩm văn học
Ở đề tài này, chúng tôi nêu và tìm hiểu hình ảnh biểu trƣng trong các tác
phẩm văn học ở hai mảng: Văn học dân gian và văn học viết.
1.2.3.1. Một số hình ảnh biểu trƣng trong Văn học dân gian
Các hình ảnh biểu trƣng trong Văn học dân gian có khi đƣợc sử dụng
riêng lẻ, có khi đƣợc sử dụng với tần số cao thành hệ thống. Và nhiều nhất là
các hình ảnh về thiên nhiên thuộc các hiện tƣợng, vật thể tự nhiên gồm: hệ
thống thiên nhiên v trụ nhƣ trời, trăng, sao, mưa, gió, nắng, mây…; hệ
thống hình ảnh vật thể tự nhiên môi trƣờng, địa lí nhƣ: sông, biển, ruộng,
đồng, núi, rừng…; hệ thống hình ảnh biểu trƣng thiên nhiên thuộc thế giới
thực vật nhƣ: hoa, quả, cây cối… trong đó hình ảnh đƣợc sử dụng nhiều nhất
là bông hoa.
Ngoài các hình ảnh biểu trƣng đã nêu ở trên, chúng tôi còn nhận thấy
trong văn học dân gian xuất hiện nhiều hình ảnh biểu trƣng thiên nhiên thuộc
thế giới động vật nhƣ: trâu bò, ong bướm, cá tôm, chim muông… trong đó
hình ảnh sử dụng nhiều hơn cả là ong, bƣớm, cá (bống). Sự xuất hiện không
đồng đều của các hình ảnh biểu trƣng trong văn học dân gian không phụ
thuộc vào số lƣợng của chúng mà phụ thuộc vào những yếu tố khác. Một
trong số đó là nguyên tắc lựa chọn ngôn ngữ nghệ thuật, có thể là những sự
Kiếp sau xin chớ làm ngƣời
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
17
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo
(Vịnh cây thông)
Qua một số hình ảnh biểu trƣng trong tác phẩm của các tác giả trung đại,
chúng ta thấy các hình ảnh biểu trƣng ấy thƣờng biểu đạt ý chí, khí phách và
phẩm cách của ngƣời quân tử hoặc các tác giả muốn ký thác tâm sự của mình
qua hình ảnh đó.
Còn đối với các tác phẩm văn học hiện đại, chúng ta thấy các nhà văn,
nhà thơ cng đã sử dụng nhiều hình ảnh biểu trƣng trong các sáng tác của
mình. Các hình ảnh biểu trƣng đƣợc sử dụng đủ các loại với số lƣợng lớn.
Nhiều bài thơ với những hình ảnh biểu trƣng nhƣ cây liễu, trăng sao, đàn sáo,
thuyền bến, sóng nước…
Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng
(Đây mùa thu tới – Xuân Diệu)
Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
Trăng thƣơng, trăng nhớ hỡi trăng ngần
(Nguyệt Cầm – Xuân Diệu)
Hình tƣợng “sóng” cng khơi nguồn cảm hứng cho không ít các nhà thơ.
“Con sóng” trong thơ Huy Cận mang tâm trạng buồn của một cái tôi cô đơn,
lạc lõng giữa dòng đời:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nƣớc song song
(Tràng Giang – Huy Cận)
Hình tƣợng “con sóng” trong thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của ngƣời
con gái đang yêu:
dụng nhƣ: trăng, sông, cây…Chẳng hạn hình ảnh “ánh trăng” trong trong tác
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
19
phẩm Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu, hình tƣợng “cây xà nu”
trong truyện Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, hình ảnh “sông Đà” trong
tuỳ bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân, hình ảnh “sông Hương”
trong tác phẩm kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? Của Hoàng Phủ Ngọc
Tƣờng… Các nhà văn đã dùng các hình ảnh biểu trƣng để khắc hoạ bản lĩnh,
tính cách của con ngƣời.
Tóm lại, biểu trƣng là một trong những đặc trƣng nổi trội của văn học
nghệ thuật. Biểu trƣng là hình thức đƣợc biểu hiện qua hệ thống những hình
ảnh đƣợc chọn lọc, nâng lên; nó có giá trị thể hiện ý nghĩa sâu xa, lâu dài
trong tác phẩm văn chƣơng.
1.3. Một số biện pháp tu từ
1.3.1. Biện pháp so sánh tu từ
* Khái niệm
Phép so sánh đƣợc sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã
hội, đặc biệt là trong thơ ca.
So sánh tu từ là kiểu so sánh mà các đối tƣợng để đem ra so sánh là các
đại lƣợng khác loại và mục đích của kiểu so sánh này là nhằm diễn đạt một
cách hình ảnh đặc điểm của đối tƣợng.
VD:
Thân em nhƣ hạt mƣa rào
Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vƣờn hoa
Thân em nhƣ hạt mƣa sa,
Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày.
(Ca dao)
Lời ca dao sử dụng phép so sánh tu từ, so sánh thân phận ngƣời phụ nữ
với hạt mƣa. Tác giả dân gian đã nói lên đƣợc tình cảnh, tâm trạng lo lắng cho
giống nhau nào đó. Nét giống nhau này có thể biểu hiện ra bằng từ ngữ cụ thể
đƣợc gọi là so sánh tu từ nổi, nghĩa là “kiểu so sánh trực tiếp với sự hiện diện
của các liên từ : như, như thế, cũng như…” [69].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
21
Ví dụ:
Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Nhƣ đứng đống lửa nhƣ ngồi đống than
(Ca dao)
Cng có khi nét nghĩa này ẩn vào bên trong hai vế của phép so sánh
khiến ngƣời đọc phải tự đi tìm, giữa hai vế so sánh không có liên từ là,
như…ta có phép so sánh tu từ chìm. Ví dụ:
Cây rầu thì lá cng rầu
Anh về anh bỏ mối sầu cho ai?
(Ca dao)
Nhìn chung, so sánh tu từ nổi hay so sánh tu từ chìm thì giữa hai vế của
phép so sánh tu từ đều không thể thiếu “nét giống nhau” vì nó gắn hai vế với
nhau làm cho phép tu từ có thể hình thành đƣợc. Xét về mặt nội dung biểu
hiện thì so sánh tu từ chìm tạo điều kiện cho sự liên tƣởng rộng rãi hơn, nó
kích thích sự làm việc của trí tuệ và tình cảm nhiều hơn là so sánh tu từ nổi.
1.3.2. Biện pháp ẩn dụ tu từ
* Khái niệm:
Từ điển tiếng Việt đã đƣa ra định nghĩa về ẩn dụ : “Là phép dùng từ ngữ
dựa trên sự liên tưởng và so sánh ngầm” [54].
Nhà nghiên cứu văn học dân gian X.G. Laduchin đƣa ra khái niệm ẩn dụ
nhƣ sau: “Ẩn dụ là phương thức tu từ dựa trên cơ sở đồng nhất hai hiện
tượng tương tự, thể hiện cái này qua cái khác mà bản thân cái được nói đến
thì bị ẩn đi một cách kín đáo. Ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa theo
nguyên tắc tương đồng của sự vật, hiện tượng theo những dấu hiệu khác
nhà văn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
23
1.4. Ca dao, tục ngữ Việt Nam và các hình ảnh biểu trƣng trong ca dao,
tục ngữ Việt Nam
1.4.1. Ca dao, tục ngữ Việt Nam
1.4.1.1. Khái niệm ca dao
Xét theo nghĩa từ nguyên thì “ca” là bài hát có chƣơng, khúc, giai điệu
đƣợc quy định rõ rệt (ngƣời hát không thể tự do thay thế), còn “dao” là bài
hát ngắn không có giai điệu hay chƣơng, khúc mà đó là những bài hát trơn, có
thể hát tự do không có quy định chặt chẽ về nhạc điệu. Tác giả Minh Hiệu cho
rằng: “Ở nước ta, thuật ngữ ca dao vốn là một từ Hán Việt được dùng rất
muộn, có thể muộn đến hàng ngàn năm so với thời gian đã có những câu ví,
câu hát” [28]. Còn theo tác giả Cao Huy Đỉnh thì: “Dân ca và văn học truyền
miệng của dân tộc Việt Nam ra đời rất sớm, từ thời kỳ đồ đồng và chắc nó đã
phồn thịnh và phức tạp. Trình độ sáng tác và biểu diễn cũng tương đối cao,
nghệ sĩ cũng ra đời với các nhạc công và nhạc cụ tinh tế” [24] .
Để phân biệt ca dao với lời thơ từ dân ca, các nhà nghiên cứu văn học
dân gian đã dùng tên gọi dân ca cho các bài hát dân gian. Và từ đó ca dao
nhanh chóng trở thành một thuật ngữ chỉ loại thơ ca dân gian truyền miệng
dưới hình thức những câu hát không theo một nhịp điệu nhất định [53].
1.4.1.2. Ca dao và dân ca
Trong sách Mao truyện có viết: “khúc hợp nhạc viết ca, đồ ca viết dao”
(Dịch: Khúc hát có nhạc điệu thì gọi là ca, hát trơn thì gọi là dao).
Hay trong sách Cổ dao ngạn, bài Phàm lệ phân biệt giữa ca và dao khác
nhau ở chỗ dao có thể là lời của nhiều bài ca.
Nếu chỉ dựa vào nghĩa ấy thì về cơ bản, ca dao và dân ca đồng nghĩa với
không đơn thuần là lời thơ của dân ca. Cng vì thế nên mới có khái niệm ca
dao cổ truyền và ca dao mới.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
25
Tóm lại, ca dao là lời của những câu hát dân gian và những sáng tác ngâm
vịnh đƣợc lƣu truyền trong dân gian và gọi chung là lời thơ dân gian.
1.4.1.3. Ca dao và thơ
Ca dao và thơ là những kiểu thơ riêng. Ca dao giống nhƣ thơ đều thể hiện
các phƣơng thức: phƣơng thức kết hợp và lựa chọn, phƣơng thức biểu hiện và
liên tƣởng, sử dụng các biện pháp nghệ thuật tu từ, sử dụng các thể thơ. Song
ca dao có đặc trƣng riêng do tính đặc thù của phƣơng thức diễn xƣớng và tính
lƣu truyền của nó đem lại. Vì thế giữa ca dao và thơ có sự khác nhau.
Cái khác đầu tiên là hình thức cấu tạo. Đa số các văn bản ca dao chỉ có
hai dòng thơ nhƣng ở thơ thì rất hiếm gặp những hình thức nhƣ vậy, thƣờng
phổ biến từ bốn dòng trở lên. Văn bản ca dao có số lƣợng lớn là văn bản
nhiều lƣợt lời nối tiếp nhau còn thơ thì hầu nhƣ không có.
Cái khác nữa giữa ca dao và thơ là về đặc trƣng ngôn ngữ. Ca dao có
nhiều lời ca từ đồng dao, từ hát ví, hát đối mang tính khẩu ngữ do yếu tố đƣa
đẩy trong các làn điệu dân ca đƣợc lƣu lại ở văn bản, còn ở ngôn ngữ thơ ít
có đặc điểm này. Tác giả Mai Ngọc Chừ đã phân biệt rõ ngôn ngữ thơ và ca
dao: “Nó (ca dao) có cả những đặc điểm tinh túy của ngôn ngữ văn học (mà
cụ thể là ngôn ngữ thơ) đồng thời nó còn là sự vận dụng linh hoạt, tài tình, có
hiệu quả cao của ngôn ngữ chung, ngôn ngữ hội thoại và một loại ngôn ngữ
truyền miệng đặc biệt: truyền miệng bằng thơ” [17] . Chính sự kết hợp giữa
ngôn ngữ nói, ngôn ngữ hội thoại và ngôn ngữ văn học đã tạo nên đặc điểm
riêng biệt của ngôn ngữ ca dao. Còn theo tác giả Hữu Đạt thì sự khác nhau cơ
bản giữa thơ và ca dao là: “Ca dao là kiểu văn bản nghệ thuật có tổ chức theo
kiểu lắp ghép liên hành vi có khả năng dự đoán trước, có độ lặp cao về mô
hình kiến trúc và dễ tạo thành các dị bản. Thơ có tổ chức ngôn ngữ bằng cách