Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
PHẠM THỊ HỒNG NHUNG
CHẤT NAM BỘ TRONG NGÔN NGỮ
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƢ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22. 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. HOÀNG CAO CƢƠNG
Cuối cùng tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu trường THPT Phổ Yên,
những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã hết lòng động viên,
khuyến khích, giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn.
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2012
Tác giả Phạm Thị Hồng Nhung
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu 4
4. Phương pháp nghiên cứu 5
6. Cấu trúc luận văn 6
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT 7
1.1. Ngôn ngữ văn học 7
1.2. Phong cách 13
1.3. Hình tượng và chi tiết 14
1.3.1. Hình tượng nghệ thuật 14
2.5. Phương ngữ Nam với việc phản ánh văn hóa Nam Bộ 63
2.5.1. Sinh hoạt và phong tục 63
2.5.2. Đồng quê Nam Bộ 65
2.5.3. Cải lương hóa 67
2.6. Tiểu kết 70
Chƣơng 3: TÁC DỤNG NGHỆ THUẬT CỦA CHẤT NAM BỘ
TRONG CÁC TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN
NGỌC TƢ 72
3.1. Ngôn từ và tính cách nhân vật 72
3.1.1. Sự đa dạng của tính cách nhân vật 72
3.1.2. Nhân vật tài tử 74
3.1.3. Nhân vật trí thức 76
3.1.4. Nhân vật nông dân 78
3.2. Các giọng điệu trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 87
3.2.1. Giọng buồn mênh mang 88
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
v
3.2.2. Giọng trầm tĩnh, đắng đót 90
3.3. Thử phác họa “cái tạng” Nguyễn Ngọc Tư qua truyện ngắn 92
3.3.1. Bức tranh về những thân phận 92
3.3.2. Những kí ức buồn 94
3.3.3. Tính nhẹ nhàng trong phê phán 96
3.4. Tiểu kết 99
KẾT LUẬN 100
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC 104
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 104
NGUỒN TRÍCH DẪN TRONG LUẬN VĂN 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
dị của cuộc sống con người Nam Bộ. Đó là chuyện ông già đi tìm con, chuyện
tình cảm gia đình, tình cảm nam nữ, chuyện về những ước mơ bình dị, chuyện
về sự tha hóa ở một lớp người nghèo túng, thất học…Tất cả đều được thể hiện
với giọng văn nhẹ nhàng, tự nhiên, với ngôn ngữ đậm màu sắc Nam Bộ.
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng viết với giọng văn mộc mạc bình dị, với
ngôn ngữ đời thường đã tạo nên một không khí rất tự nhiên về màu sắc,
hương vị của mảnh đất cuối cùng Tổ quốc- mũi Cà Mau của những con người
mà cha ông là người tứ xứ về mũi đất của rừng, của sông nước, của biển cả đã
dày công khai phá, đã đứng lên khởi nghĩa. Qua ngòi bút của Nguyễn Ngọc
Tư, những con người lam lũ, giản dị, bộc trực ấy chứa bên trong cả một tâm
hồn vừa nhân hậu, vừa tinh tế qua đối nhân xử thế.
Huỳnh Công Tín trong Cảm nhận bản sắc Nam Bộ cũng đánh giá khá
cao về chất ngôn ngữ trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư: “Ngôn từ
trong tất cả truyện ngắn từ ngôn ngữ dẫn truyện đến ngôn ngữ nhân vật, nhất
là ngôn ngữ nhân vật, đều khá thuần chất Nam Bộ. Số lượng từ ngữ Nam Bộ
trong tác phẩm của chị khá lớn. Đặc điểm này tạo nên ở truyện của chị một
văn phong riêng mà nhiều người cảm thấy ưa thích” [50,310].
Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư đã đem đến cho người đọc một cái nhìn
khá chân thật, sinh động về cảnh vật, con người vùng sông nước miền Tây
Nam Bộ. Có được điều đó là do cách sử dụng ngôn ngữ của chị. Truyện ngắn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
của chị không bị gò bó vào các khuôn mẫu ngôn ngữ truyền thống. Chúng có
khả năng riêng trong mở rộng, sáng tạo để phù hợp với tính cách con người
và cuộc sống ở vùng đất Nam Bộ. Ngôn ngữ trong các tác phẩm của chị, vì
vậy, không chỉ dừng lại ở mặt biểu hiện đơn thuần, mà nó đã là yếu tố quan
trọng góp phần tạo nên sự thành công của tác phẩm. Nó đã tích cực tạo ra
không khí cho tác phẩm, làm nên diện mạo riêng cho từng tính cách nhân vật,
nhành văn chương đặc biệt, không giống, nhưng chuẩn mực không kém
những miền khác.
Hoàng Thiên Nga trên báo Văn nghệ số 39 ngày 24 - 9 - 2005 có bài
Đọc Nguyễn Ngọc Tư qua Cánh đồng bất tận. Đây là bài viết mang tính chất
cảm nhận truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, đặc biệt là truyện Cánh đông bất
tận, theo đó, điểm đáng lưu ý của tác phẩm này là bút pháp giản dị, gọn ghẽ,
đầy ắp sức Nam Bộ và ngòi bút rất tinh tế, nhân hậu và trong lành của
Nguyễn Ngọc Tư.
Liên quan đến Nguyễn Ngọc Tư, có luận văn thạc sĩ khoa học của
Lê Thị Tuyết với đề tài Nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ,
Nguyễn Ngọc Tư và Đỗ Hoàng Diệu. Ở đề tài này, tác giả của luận văn đã tập
trung nghiên cứu hình tượng nhân vật nữ trong truyện ngắn ba tác giả nữ,
trong đó có Nguyễn Ngọc Tư.
Tác giả Nguyễn Trọng Bình cũng đã có một loạt bài viết về tác phẩm
của Nguyễn Ngọc Tư, đáng chú ý phải kể đến Đặc trưng ngôn ngữ truyện
ngắn của Nguyễn Ngọc Tư. Ở bài viết này tác giả nhận xét về ba khía:sử dụng
hiệu quả vốn từ địa phương; khả năng vận dụng sáng tạo lời ăn tiếng nói hàng
ngày của người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long một cách rất độc đáo và
điểm cuối cùng là: sáng tạo và biến ngôn ngữ “đời thường” của người bình
dân thành ngôn ngữ văn học. Hay trong bài Phong cách truyện ngắn Nguyễn
Ngọc Tư nhìn từ phương diện nghệ thuật con người và Những dạng tình
huống thường gặp trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư. Ở hai bài viết, tác giả
cho rằng “mô hình” con người hướng thiện chính là một kiểu tư duy nghệ
thuật độc đáo của Nguyễn Ngọc Tư …
Tác giả Huỳnh Công Tín cũng có một loạt bài viết về tác phẩm Nguyễn
Ngọc Tư, đáng chú ý hơn cả là: Nguyễn Ngọc Tư - nhà văn trẻ Nam Bộ. Ở bài
viết này, tác giả đề cập đến tình cảnh gia đình nghèo, đến số phận buồn của
những con người nhỏ bé, những nông dân chân chất với những ước mơ và
cuộc sống hết sức bình dị đời thường rất đáng cảm thông, trân trọng, nhưng
đôi khi cuộc đời nghiệt ngã cũng không cho họ được như ý, được toại nguyện.
thành chủ đề, xây dựng tính cách nhân vật trong các truyện ngắn của chị là
đối tượng của luận văn này. Chất liệu này dựa trên các đặc điểm phương ngữ
và văn hóa sử dụng nó trong lời ăn tiếng nói người Nam Bộ. Trong một chừng
mực nhất định, luận văn cố gắng phát hiện cái hiệu quả của chất liệu này đối
với dụng công thi pháp mà chị đã xây dựng nên trong các tác phẩm suốt từ
khi lập nghiệp bằng văn chương cho đến nay.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
3.2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài Chất Nam Bộ trong ngôn ngữ truyện ngắn của
Nguyễn Ngọc Tư nhằm làm rõ đặc điểm Nam Bộ trong ngôn từ của Nguyễn
Ngọc Tư. Đặc điểm này bộc lộ qua:
- Vốn từ bình dân được dùng trong các truyện của Nguyễn Ngọc Tư
- Đặc điểm ngữ pháp và lối nói thiên về khẩu ngữ của cả người kể lẫn
các nhân vật có trong các truyện.
- Những thói quen dụng ngôn trong cách mở đầu và kết thúc truyện.
- Các mô típ dân gian và giả tựa dân gian trong dựng truyện.
Những đặc điểm về cấu trúc này đưa lại hiệu quả và có những tác dụng
nghệ thuật riêng, tạo nên cách kể chuyện mà chỉ Nguyễn Ngọc Tư có được.
Điều đó cũng đã tạo nên một thi pháp kể chuyện của Nguyễn Ngọc Tư.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu: tiếp cận đối tượng từ phương diện chất liệu ngôn
ngữ của Nguyễn Ngọc Tư.
- Phạm vi tư liệu: Luận văn dựa trên các khảo sát đặc điểm ngôn ngữ của
Nguyễn Ngọc Tư trong 3 tập truyện ngắn:
1. Giao thừa, 2003, Nxb. Trẻ (viết tắt: GT).
2. Cánh đồng bất tận, 2008, Nxb. Trẻ (viết tắt: CĐBT).
3. Khói trời lộng lẫy, 2010, Nxb Thời đại và Saigon Media (viết tắt: KTLL).
kể chuyện trong các truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư.
- Bằng các ví dụ cụ thể qua phân tích đặc điểm ngôn ngữ của tác phẩm
Nguyễn Ngọc Tư mong muốn có những đóng góp thiết thực cho việc dạy tác
phẩm văn chương trong trường phổ thông hiện nay.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luận văn được triển khai thành
3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết.
Chương 2: Đặc điểm Nam Bộ trong ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư.
Chương 3: Tác dụng nghệ thuật của chất Nam Bộ trong các truyện ngắn
của Nguyễn Ngọc Tư.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1. Ngôn ngữ văn học
1.1.1. Đối với tác phẩm văn học, ngôn ngữ chính là chất liệu, là phương
tiện biểu hiện mang tính đặc trưng. Nhờ có ngôn ngữ mà nhà văn mới có thể
cụ thể hóa, vật chất hóa sự biểu hiện của chủ đề và tư tưởng, tính cách và cốt
truyện…Nhà văn trong quá trình chuẩn bị và sáng tạo nên tác phẩm đã sử
dụng yếu tố đầu tiên là ngôn ngữ. Ngôn ngữ chính là yếu tố đầu tiên trong sự
tiếp xúc của người đọc với tác phẩm. Có lẽ vì thế mà M. Gorki đã nhận định:
“Yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ, công cụ chủ yếu của nó và cùng
với các sự kiện, các hiện tượng của cuộc sống là chất liệu văn học”.
Theo nghĩa rộng, “Ngôn ngữ văn học là ngôn ngữ mẫu mực đã được
chuẩn hóa, phục vụ cho tất cả các lĩnh vực giao tiếp giữa người với người, và
giữ vai trò to lớn trong việc hình thành và phát triển tư duy, phát triển tâm lí,
trí tuệ và toàn bộ các hoạt động tinh thần của con người; còn gọi là ngôn ngữ
chức năng nhận thức, biểu hiện tư tưởng một cách trực tiếp và toàn vẹn nhất.
Nhờ những khả năng to lớn như vậy, văn học đã trở thành một “Bách khoa
toàn thư”về cuộc sống, trở thành một phương tiện giao tiếp tình cảm, tư
tưởng thẩm mĩ thông dụng nhất của con người.
Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học, như màu sắc đối với hội họa,
âm thanh đối với âm nhạc, hình khối đối với kiến trúc. Nói cho cùng, văn học
là nghệ thuật của ngôn ngữ. Những nhà văn lớn đều là những nhà ngôn ngữ
trác tuyệt. Trong sự sáng tạo của nhà văn, sự sáng tạo về ngôn ngữ đóng vai
trò quan trọng. Trong sự lao động nghệ thuật của nhà văn có một sự lao tâm
khổ tứ về ngôn ngữ.
Nhà văn đã sử dụng ngôn ngữ toàn dân để sáng tác tác phẩm văn học,
để sáng tạo ra ngôn ngữ văn học. Giữa ngôn ngữ đời sống và ngôn ngữ văn
học có sự khác biệt. Theo M.Gorki, ngôn ngữ nhân dân là tiếng nói “nguyên
liệu”, còn ngôn ngữ văn học là tiếng nói đã được những người thợ tinh xảo
nhào luyện. Mỗi một tác phẩm văn chương đều lấy thực tế làm khuôn mẫu để
phản ánh. Thực tế là muôn màu, lớp lớp những cảnh huống và con người
thuộc nhiều nhóm xã hội khác nhau, nhiều mục đích và phương thức sống
khác nhau. Do vậy, nói đến ngôn ngữ trong một tác phẩm văn chương là nói
đến tính đa chức năng về mặt biểu đạt.Trong một phương thức phản ánh đặc
thù, ngôn ngữ văn chương là kết quả của một quá trình lao động và học tập
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
không mệt mỏi của nhà văn. Nó vừa là kết tinh của truyền thống sử dụng
ngôn từ của cả dân tộc lại vừa là kết quả sáng tạo cá nhân của nhà văn trong
sử dụng ngôn ngữ. Vì vậy nói đến chất lượng của ngôn ngữ tác phẩm là nói
đến tính tinh luyện và chuẩn mực về cấu trúc và xuất xứ phương ngữ của
ngôn ngữ văn học.
Trong so sánh với các phong cách ngôn ngữ khác của tiếng Việt, ngôn
hoặc hình khối:
“Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”
(Hồ Chí Minh).
Nhà thơ Tố Hữu đã diễn tả tâm trạng của ông khi trở về thăm người mẹ
nuôi xưa với ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh và nhạc tính.
“Tôi lại về quê mẹ nuôi xưa
Một buổi trưa nắng dài bãi cát
Gió lộng xôn xao sóng biển đu đưa
Mát rượi lòng ta ngân nga tiếng hát”.
(Tố Hữu)
Tố Hữu đã từng nói nhịp điệu của hai câu thơ là nhịp điệu của Sóng gió
và cũng là nhịp điệu của náo nức xôn xao và biết bao sung sướng êm ái trong
lòng người trở về quê cũ, nơi đã nuôi mình
Thứ ba là ngôn ngữ văn học có tính biểu cảm. Ngôn ngữ văn học chẳng
những phải chính xác, phải có tính hình tượng mà còn bộc lộ được cảm xúc,
thái độ người viết. Tất nhiên, tính biểu cảm trong ngôn ngữ có thể bộc lộ ra
dưới các dạng thức khác nhau tùy vào cảnh huống xuất hiện của các từ ngữ
mà nhà văn đã chủ động đưa vào. Chẳng hạn, Trần Tế Xương viết: “Tôi nghe
kẻ cướp nó lèn ông” thì từ “lèn” vừa diễn tả chính xác hành vi của kẻ cướp,
lại vừa bộc lộ thái độ châm biếm, chế giễu tên quan tuần phủ. Còn trong câu
“Con cò trên ruộng cánh phân vân” thì cánh cò ấy là cánh cò đầy tâm trạng
của trái tim đang yêu của Xuân Diệu. Trong khi đó, một cách dùng có phần
“trần trụi” như Chế Lan Viên trong: “Ta là ta mà vẫn cứ mê ta” lại vẫn được
người đọc chấp nhận vì cả câu tán thán đó đã bộc lộ một thế đứng, một say
mê, một tự hào chính đáng của tác giả trước cuộc sống và thời đại mới đến
mức chỉ có mỗi một cách diễn đạt bất ngờ như thế mới lột tả được đúng trạng
thế của người viết.
Nói đến ngôn ngữ văn học, không thể không quên được lời nhận xét
tinh tường của Pau- tốp- xki (Nga). Thi ca có một đặc tính kì lạ. Nó trả lại cho
nét của ngôn ngữ tác phẩm trữ tình chính là nhịp điệu trong tác phẩm. Không
có nhịp điệu thì không thành thơ ca, kể cả những bài thơ vẫn được gọi là “thơ
văn xuôi” bởi thơ ca là tiếng nói của tình cảm, của trái tim.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
Ngôn ngữ của tác phẩm kịch là ngôn ngữ các nhân vật được tổ chức
thông qua hệ thống đối thoại. Trong tác phẩm kịch không có ngôn ngữ tác giả
cũng như thái độ tác giả được biểu hiện ngầm sau hệ thống đối thoại của ngôn
ngữ nhân vật. M. Gorki đã chỉ rõ: Trong kịch, tác giả không thể mách bảo
điều gì cho người xem hết. Các nhân vật kịch hình thành là do những lời lẽ
của họ và tuyệt đối chỉ do những lời lẽ ấy mà thôi, nghĩa là tác giả xây dựng
nhân vật bằng ngôn ngữ hội thoại chứ không phải bằng ngôn ngữ miêu
tả…Cần phải làm sao cho ngôn ngữ của mỗi nhân vật đều có tính đặc thù rõ
rệt, có sức biểu hiện đến mức tối đa.
Ngôn ngữ trong tác phẩm tự sự là sự tồn tại song song của ngôn ngữ
nhân vật và ngôn ngữ người kể chuyện. Ngôn ngữ người kể chuyện giữ một
vị trí hết sức quan trọng trong tác phẩm: vừa đóng vai trò tổ chức và chỉ đạo
đối với ngôn ngữ toàn tác phẩm, vừa là phương tiện để bộc lộ chủ đề và tư
tưởng tác phẩm, để khắc họa đặc điểm của tính cách, để dẫn dắt quá trình phát
triển của cốt truyện.
Dựa vào đặc chức năng, người ta lại cũng có thể chia ngôn ngữ văn học
ra 3 loại sau đây:
- Ngôn ngữ người kể chuyện là ngôn ngữ đóng vai trò kể chuyện.
Người ấy phải biết chuyện, chứng kiến hay trải qua để kể lại và họ không nhất
thiết là chính tác giả mặc dù tác giả là người viết ra lời kể… Mỗi lời kể có
một nhịp kể, một giọng điệu và cái nhìn riêng. Có thể có rất nhiều cách kể
khác nhau, gây hiệu quả thẩm mĩ khác nhau.
- Ngôn ngữ nhân vật là ngôn ngữ trực tiếp của nhân vật. ngôn ngữ nhân
nhà văn có phong cách nghệ thuật độc đáo hay không chúng ta không thể xem
xét khả năng và hiệu lực qua việc sử dụng ngôn ngữ của nhà văn.
Sự khác nhau giữa ngôn ngữ văn chương với ngôn ngữ thuộc các
phong cách khác không chỉ ở chức năng thẩm mĩ, không chỉ ở việc sử dụng
tổng hợp toàn bộ các phương tiện biểu hiện của ngôn ngữ mà còn ở chỗ ngôn
ngữ văn chương ấy phải mang dấu ấn phong cách tác giả.
Ngôn ngữ văn chương nói chung và ngôn ngữ nhà văn nói riêng phải
vừa giống mọi người, vừa khác mọi người. Có giống mọi người, có thuận
theo chuẩn mực thì mọi người mới hiểu, có khác mọi người tức có lối nói
riêng thì mới thành ra văn để người ta thích đọc. Sự giống ngôn ngữ mọi
người là cái thuộc về điều kiện nền tảng, sự khác ngôn ngữ mọi người là cái
thuộc về điều kiện bắt buộc. Sự khác ngôn ngữ mọi người là dấu hiệu để xác
định phong cách tác giả ?. Sự khác biệt này phải như thế nào, nói khác đi là
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
cái dấu hiệu này phải như thế nào thì lúc đó mới tạo thành phong cách tác giả.
Trong ngôn ngữ văn chương ta vẫn thấy có hiện tượng chỉ có tác giả mà
không có phong cách tác giả.Nhà văn Nga T.Sêkhov nói rất có lí rằng nếu tác
giả nào không có lối nói riêng của mình thì người đó không bao giờ là nhà
văn cả. Cái mà T.Sêkhov gọi là “lối nói riêng” chính là phong cách tác giả.
Vậy để xác định phong cách tác giả chúng ta phải căn cứ vào hai dấu hiệu cơ
bản sau đây:
- Khuynh hướng ưa thích và sở trường sử dụng những loại phương tiện
ngôn ngữ nào đó của tác giả.
- Sự đi chệch chuẩn mực của tác giả.
Mỗi nhà văn thường có những sở trường ngôn ngữ. Cái sở trường ngôn
ngữ này khi thành thục tới mức mọi người phải thán phục và không ai theo
được thì thành biệt tài ngôn ngữ.
trực quan độc lập là đặc điểm quan trọng của hình tượng nghệ thuật. Nó làm
cho người ta có thể ngắm nghía, thưởng ngoạn. Đó có thể là một đồ vật, một
phong cảnh thiên nhiên hay một sự kiện xã hội được cảm nhận. Nhưng nói tới
hình tượng nghệ thuật người ta thường nghĩ tới hình tượng con người với
những chi tiết biểu hiện cảm tính phong phú.
Hình tượng nghệ thuật tái hiện đời sống, nhưng không phải là sao chép
y nguyên những hiện tượng có thật, mà là tái hiện có chọn lọc, sáng tạo thông
qua trí tưởng tượng và tài năng của nghệ sĩ, sao cho các hình tượng truyền
được tới độc giả ấn tượng sâu sắc, từng làm cho nghệ sĩ day dứt, trăn trở.
Hình tượng nghệ thuật vừa có giá trị thể hiện những nét cụ thể, cá biệt
không lặp lại, lại vừa có khả năng khái quát, làm bộc lộ được bản chất của
một loại người hay một quá trình đời sống theo quan niệm nghệ sĩ. Hình
tượng nghệ thuật không phải chỉ phản ánh các khách thể thực tại tự nó, mà
phản ánh toàn bộ mối quan hệ sống động giữa chủ thể và khách thể. Người
đọc không chỉ thưởng thức “bức tranh” hiện thực, mà còn thưởng thức cả nét
vẽ, màu sắc, cả nụ cười, sự suy tư ẩn trong bức tranh ấy.
Vì những lẽ trên, cấu trúc của hình tượng nghệ thuật bao giờ cũng là sự
thống nhất cao độ giữa các mặt đối lập: chủ quan và khách quan, lí trí và tình
cảm, hiện thực và lí tưởng…và cũng chính vì những lẽ trên, hình tượng còn là
một quan hệ xã hội - thẩm mĩ vô cùng phức tạp. Trước hết là quan hệ giữa các
yếu tố và chỉnh thể của bức tranh đời sống được tái hiện qua hình tượng. Thứ
đến là quan hệ giữa thế giới nghệ thuật với thực tại mà nó phản ánh. Về
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
16
phương diện này, hình tượng không chỉ tái hiện đời sống mà còn cải biến nó
để tạo ra một thế giới mới, chưa từng có trong hiện thực. Đó còn là quan hệ
giữa tác giả với hình tượng, với cuộc sống trong tác phẩm. Một mặt hình
tượng là hình thức, là kí hiệu của một tư tưởng, tình cảm, một nội dung nhất
1.4. Lời thoại
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “Ngôn ngữ nhân vật là một phương
tiện quan trọng được nhân vật sử dụng nhằm thể hiện cuộc sống và cá tính
nhân vật” [27,181]. Với quan niệm này thì ngôn ngữ nhân vật vừa thể hiện
đặc điểm riêng của mỗi nhân vật nhưng đồng thời vô hình chúng cũng góp
phần phản ánh đặc điểm ngôn ngữ của một lớp người, lớp nghề nghiệp…với
giai cấp và trình độ khác nhau.
Ngôn ngữ nhân vật có một số đặc điểm sau:
- Dù tồn tại dưới dạng nào hoặc thể hiện bằng cách nào, ngôn ngữ
nhân vật bao giờ cũng phải đảm bảo sự kết hợp sinh động giữa cá thể và
tính khái quát, nghĩa là mỗi nhân vật đều có ngôn ngữ riêng, có lời ăn tiếng
nói riêng. Mặt khác, ngôn ngữ ấy lại phản ánh được đặc điểm ngôn ngữ của
một tầng lớp người nhất định gần gũi về nghề nghiệp, tâm lí, giai cấp, trình
độ văn hóa
- Trong tác phẩm văn học, nhà văn có thể cá thể hóa ngôn ngữ nhân vật
bằng nhiều cách: nhấn mạnh cách đặt câu, ghép từ ngữ, lời phát âm đặc biệt
của nhân vật. Hoặc cho nhân vật lặp lại những từ, những câu mà nhà văn
thích nói tới kể cả ngoại ngữ và từ địa phương.
- Trong tác phẩm tự sự, nhà văn còn trực tiếp miêu tả phong cách ngôn
ngữ của nhân vật.
Ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm văn học có nhiều chức năng. Có thể
kể ra một số chức năng sau:
- Chức năng phản ánh hiện thực ngoài nhân vật.
- Chức năng tự bộc lộ của nhân vật, cho thấy sự tồn tại của nhân vật.
- Chức năng biểu hiện nội tâm, thế giới bên trong của nhân vật.
- Chức năng như một hành động, sự kiện đối với nhân vật khác.
- Chức năng của thực tại lời nói bên ngoài ý thức tư tưởng, đối tượng
suy tư của tác giả.
Ngôn ngữ nhân vật không chỉ xuất hiện như một phương tiện để thể
hiện tính cách mà còn góp phần làm cho bức tranh phong tục thêm sinh động.
Hết hổng được chỗ nào hả má?” “Ừ, tao chê chỗ nào bây giờ, thằng Hết
được, hiền, giỏi giang, chịu khó lại hiếu thảo. Nhưng nó nghèo quá, thân sơ
thất sở không một cục đất chọi chim, biết có lo cho bây sung sướng được
không. Bây quen được tâng tiu mà”
(Hiu hiu gió bấc- Nguyễn Ngọc Tư)