BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Nguyễn Nghiêm Phương MÀU SẮC NAM BỘ
TRONG NGÔN NGỮ TRUYỆN KÝ
SƠN NAM
Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Mã số : 60 22 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. TRỊNH SÂM
Thành phố Hồ Chí Minh - 2009
DẪN NHẬP
1. Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ văn chương là đại diện tiêu biểu của ngôn ngữ văn hóa, dạng thức tồn tại
“toàn vẹn nhất, sáng chói nhất” của ngôn ngữ toàn dân. Nói đến ngôn ngữ văn chương là nói
được tìm hiểu, phân tích thấu đáo. Trường hợp của Sơn Nam không phải là một ngoại lệ.
Hoàng Thị Châu trong Giáo trình Phương ngữ học tiếng Việt đã nhận định: “Trong thực tế
tiếng Việt rất đa dạng và luôn luôn biến đổi, uyển chuyển với những sắc thái địa phương
khác nhau (…). Những sắc thái đó thông thường chỉ được cảm nhận mà không được phân
tích, lý giải tường tận.” [12,tr 16].
Như vậy, yêu cầu có tính khách quan là: cần khảo sát một cách đầy đủ và toàn diện
những yếu tố vật chất làm nên giá trị màu sắc địa phương trong ngôn bản nghệ thuật của tác
giả. Trong đó, một công việc quan trọng là xem xét những phương tiện ngôn ngữ được lựa
chọn trên cơ sở đối lập giữa các phương ngữ, giữa phương ngữ với ngôn ngữ to
àn dân ở cả
ba bình diện: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp để chỉ ra những khác biệt trong tương quan với
môi trường địa lý, môi trường lịch sử xã hội, soi rọi chúng trên cơ sở đặc trưng ngôn ngữ
văn chương, dưới góc độ phong cách học, ngữ nghĩa học nói chung và ngôn ngữ tri nhận nói
riêng.
Với những lý do trên, tại thời điểm này, việc làm sáng rõ đặc điểm mà
u sắc Nam Bộ
trong ngôn ngữ nghệ thuật của Sơn Nam thông qua một số tác phẩm tiêu biểu, dưới cái nhìn
ngôn ngữ học là một việc làm có ý nghĩa.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích chính của đề tài là tìm hiểu, phân tích những yếu tố làm nên giá trị “màu sắc
Nam bộ” trong truyện ký Sơn Nam, chỉ ra những thành công và kể cả những hạn chế có thể
có trong việc khai thác, sử dụng các phương tiện ngôn ngữ của tác giả.
Ngoài ra, trên cơ sở ngữ liệu được thu thập, thông qua kết quả nghiên cứu, đề tài còn
góp phần tìm hiểu:
- Đặc trưng về màu sắc, sắc thái của phương ngữ Nam
bộ (ở cả ba bình diện: ngữ âm,
từ vựng, ngữ pháp) trong ngôn ngữ nghệ thuật cũng như những giá trị tạo hình, giá trị biểu
cảm của chúng.
- Áp lực văn hoá, cách phân chia hiện thực hay cơ sở tri nhận phản ánh trong phương
ngữ Nam bộ.
Điểm chung của hai luận văn nói trên là chúng đều thuộc bình diện Lý luận phê bình văn
học, cùng hướng đến việc đánh giá toàn diện giá trị nội dung, nghệ thuật cũng như đặc điểm t
hi
pháp, phong cách cá nhân ở mảng truyện ngắn của Sơn Nam. Về góc độ từ vựng, các tác giả
đều xem xét việc khai thác, sử dụng vốn từ địa phương trong tác phẩm.
Mặc dù không đề cập trực tiếp về màu sắc Nam Bộ, nhưng những khía cạnh khác nhau
của hai bản luận văn này có những tác động tích cực vào quá trình triển khai nghiê
n cứu.
Các bài báo
Là nhà văn gần như suốt đời dành cho đề tài Nam Bộ, với một lối văn phong giản dị, gần
gũi với người lao động, vì thế Sơn Nam chiếm được tình cảm của đông đảo quần chúng độc
giả. Đây cũng chính là lý do khiến ở mảng báo chí, ông được nhiều người quan tâm, chú ý. Đặc
biệt, sau sự kiện ông ra đi (2008), có hàng trăm bài viết, xuất hiện rải rác trên nhiều tờ báo. Nội
dung những bài viết này phản ánh nhiều khía cạnh khác nhau xung quanh đời sống và sự
nghiệp sáng tác của tác giả. Nó có thể là ghi
chép, phỏng vấn, bút ký hoặc dưới hình thức
chuyện kể. Nó cũng có thể là những bài giới thiệu thân thế sự nghiệp, những cảm nhận, đánh
giá, phê bình... Ở nhóm bài thuộc diện nghiên cứu phê bình, có thể quy chúng vào hai mảng
chính: (i) Nghiên cứu tác giả: hoàn cảnh sống, hoàn cảnh sáng tác, cá tính, phong cách - lối
sống, quan niệm văn chương nghệ thuật... làm cơ sở cho tìm hiểu tác phẩm; (ii) Đánh giá khái
quát vị trí hay những đóng góp của tác giả trong nền văn học (đôi khi đối chiếu, so sánh với tác
giả khác).
Việc đề cập tới đặc điểm t
ruyện ký Sơn Nam như: bức tranh hiện thực Nam Bộ, văn minh
miệt vườn Nam Bộ, lối diễn đạt, sắc thái Nam Bộ... những tác phẩm báo chí này rõ ràng có sự
liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài. Điển hình là các bài viết: “Nhà văn Sơn Nam –
nhà Nam Bộ học” của Huỳnh Công Tín [63], “Sơn Nam - dề lục bình Nam bộ” của Trần Mạnh
Hảo [26]
, “Sơn Nam, ông già "Ba Tri" của đồng bằng Nam Bộ” của Nguyễn Mạnh Trinh [65],
“Sơn Nam - mấy độ qua đường phố, nghiêng mình nhớ đất quê” của Trần Hữu Dũng [17],
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
4.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
“Màu sắc”, phong vị trong một tác phẩm văn học là quan hệ tổng hoà của nhiều yếu tố
- một vấn đề có tính chất ngữ - văn học.
Mục đích của đề tài là khảo sát, phân tích màu sắc Nam Bộ của truyện ký Sơn Nam
trong phạm vi ngôn ngữ học. Vì vậy, đề tài không lấy toàn bộ ngôn từ, hình thức tác phẩm
làm mục tiêu nghiên cứu mà đối tượng khảo sát chỉ ba
o gồm những phương tiện ngôn ngữ
phản ánh đặc trưng Nam Bộ được nhà văn khai thác và sử dụng trong truyện ký. Cũng với
tinh thần ấy, nếu có tiến hành miêu tả những nét riêng trong ngôn ngữ nhà văn ở khía cạnh
nào đó thì điều ấy không có nghĩa là đề tài đặt ra nhiệm vụ đánh giá đầy đủ về phong cách
tác giả.
Trên bình diện nghĩa, dĩ nhiên đề tài không tìm hiểu toàn bộ giá trị nội dung, mà chỉ
cốt làm sáng rõ những yếu tố màu sắc địa phương trong tác phẩm.
4.2 Nguồn ngữ liệu
Th
eo quan sát của chúng tôi, sáng tác của Sơn Nam khá đa dạng. Ngoài phần biên
khảo, truyện ngắn, ký của ông lên tới gần cả ngàn đơn vị.
Trong luận văn, chúng tôi tập trung khảo sát:
a/ Biên khảo
- Bến Nghé xưa, Nxb Trẻ, 1997, 240 trang.
- Lịch sử khẩn hoang Miền Nam, Nxb Trẻ, 2007, 507 trang.
- Cá tính Miền Nam, Nxb Trẻ, 2000, 128 trang.
- Tiếp cận đồng bằng Sông Cửu Long, Nxb Trẻ, 2003, 144 trang.
- Lăng Bà Chiểu và lễ hội văn hóa dân gian, Nxb Long An, 1994, 76 trang.
Ba cuốn đầu đã xuất bản trước 1975, hai cuốn sa
u mới viết sau 1975.
b/ Văn học
- Chim quên xuống đất, Nxb Trẻ, 2001, 260 trang.
- Hương rừng Cà Mau, Nxb Trẻ, 2006, 927 trang.
nhằm đảm bảo tính chính xác, truy vấn đa dạng ngữ liệu được cập nhật.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn không có tham vọng giải quyết những vấn đề lý thuyết. Trái lại, thông qua
ngữ liệu sưu tập, góp phần khắc họa rõ hơn một số đặc điểm ngôn ngữ Nam Bộ trong tác
phẩm của Sơn Nam. Từ đó, giải thích vì sao Sơn Nam trước tới nay vẫn được coi là nhà văn
của người bình dân, cụ thể là bình dân Nam Bộ.
7. Bố cục
Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, nội dung chính của luận văn tập trung ở hai chương.
Chương 1: Một số vấn đề chung – trình bày những kiến thức tổng quát có liên quan
đến nội dung nghiên cứu. Đây là cơ sở lý luận để luận văn đi vào miêu tả những vấn đề cụ
thể ở chương tiếp theo.
Chương 2: Các phương tiện ngôn ngữ biểu thị màu sắc Nam Bộ trong truyện ký. Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Tóm tắt tiểu sử Sơn Nam
Sơn Nam sinh vào khoảng tháng 8, năm 1926. Nơi ông sinh thuộc rừng U Minh
Thượng: làng Đông Thái, Huyện An Biên, Tỉnh Rạch Giá (nay là tỉnh Kiên Giang). Thuở
nhỏ ông học tiểu học tại quê nhà, sau đó học trung học tại Cần Thơ. Năm 1945, ông tham
gia Thanh niên tiền phong, giành chính quyền ở địa phương.
Từ 1945 đến 1954, cũng như nhiều thanh nhiên tiến bộ khác, Sơn Nam đi theo kháng
chiến, làm công tác văn nghệ ở Quân khu 9. Hòa bình lập lại, ông được giao nhiệm vụ ở lại
Lịch sử An Giang, Tìm hiểu đất Hậu Giang, Lăng Bà Chiểu và lễ hội văn hóa dân gian, Tiếp
cận Đồng Bằng Sông Cửu Long…
Lĩnh vực văn học - nghệ thuật,
có lẽ thành công nhất đối với ông thuộc về mảng
truyện ngắn. Tiêu biểu là tác phẩm Hương rừng Cà Mau, tập 1 xuất bản năm 1962 và hai tập
được viết sau đó bao gồm 66 truyện.
Về những cống hiến của Sơn Nam, Nguyễn Anh Động nhận xét: “Hơn nửa thế kỷ gắn
bó với sự nghiệp sáng tác, những trang viết của ông không đơn thuần l
à những giải trí cho
độc giả mà còn là khảo cứu, khám phá về mảnh đất phương Nam. Là người Nam Bộ chính
gốc nên Sơn Nam am hiểu quá trình hình thành dải đất này. Những sáng tác của ông mang
lại hơi thở của thiên nhiên, của văn hóa và con người Nam Bộ được thể hiện qua giọng văn
giản dị, mộc mạc” [19].
Hơn 60 năm cầm bút và để lại gần 50 đầu sách, một con số đáng khâm phục. Sơn Nam
xứng đá
ng là niềm tự hào của miền đất châu thổ sông Cửu Long.
Ông mất ngày 13-08-2008, hưởng thọ 82 tuổi.
1.2. Sơ lược lịch sử hình thành và vấn đề văn hóa Nam
Bộ
Như đã đề cập, các nhà ngôn ngữ học hiện đại có sự xác nhận về mối quan hệ giữa ngôn
ngữ và văn hoá. Ở đó, văn hoá được định nghĩa là toàn bộ di sản vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo, tích luỹ trong tiến trình lịch sử. Ngôn ngữ là một bộ phận và hơn nữa là bộ phận
quan trọng nhất, là sự thể hiện sâu sắc nhất những đặc trưng văn hoá của một dân tộc. Với quan
niệm ấy, trong giới ngôn ngữ học, hướng nghiên cứu ngôn ngữ - văn hoá ngày càng được chú ý
và tiếp tục đạt được những t
hành tựu nổi bật. Điều này đặt ra, muốn tìm hiểu một đặc điểm nào
đó mang tính địa phương trong ngôn ngữ nghệ thuật, trước tiên cần phải đề cập đến những đặc
điểm văn hóa, lịch sử của vùng đất đó.
Nam Bộ là một vùng đất rộng lớn, bao gồm hai tiểu vùng Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ.
Miền đông Nam Bộ bao gồm 6 tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương: Thành Phố Hồ
Gòn – Gia Định vẫn là đất tự do của các dân tộc và hầu như vô chủ” [Lời giới nhà xuất bản-
Lịch sử khẩn hoang Nam Bộ, tr.9]. Châu Đạt Q
uan (thế kỷ 13) - sứ thần nhà Thanh - khi qua
đây đã miêu tả: “Bắt đầu vào Châu Bồ, gần hết cả vùng là bụi rậm của rừng thấp, những cửa
rộng của sông lớn c
hảy hàng ngàn dặm, bóng mát um tùm của những gốc cây cổ thụ và cây
mây dài(...). Khắp nơi vang tiếng chim hót và thú kêu (...). Hàng trăm, hàng nghìn trâu rừng tụ
họp từng bầy”. Hay theo lời Lê Quý Đôn thì: “Từ cửa biển Cần Giờ, Soài Rạp, Cửa Tiểu, Cửa
Đại trở lên toàn là rừng rậm hàng nghìn dặm” [Sđd tr.7-8]. Đây chính là thử thách lớn lao mà
nhiều thế hệ người Việt phải đối diện, phải khắc phục suốt cả chặng đường dài sau đó.
Cuối thế kỷ 17, cùng với công cuộc Nam tiến, chúa Nguyễn cho phép một vài tập đoà
n
người Trung Quốc có tư tưởng bài Mãn, phục Minh vào khu vực này cư trú. Theo Sơn Nam,
công cuộc khai phá Nam Bộ thời kỳ này có sự xuất hiện đan xen các nhóm lưu dân Việt - Hoa:
“Trần Thắng Tài (Đồng Nai), Dương Ngạn địch tại Mỹ Tho, Nguyễn Hữu Cảnh (Hậu Giang),
Nguyễn Cửu Vân (Vàm Cỏ), Mạc Cửu (Hà Tiên) đã đi những bước tiên phong trong thời gian
ngắn” [Lịch sử khẩn hoang, tr.32].
Như vậy, song hành với quá trình khai phá đất phương Nam là cuộc gặp gỡ lịch sử Việt,
Hoa và cư dân bản địa mà hệ quả là sự giao thoa văn hóa. Tuy nhiên, xét về vị thế, người Việt
có tính chất hạt nhân. Họ không chỉ giữ vai trò quyết định trong công cuộc khai phá m
à còn
nắm thế chủ động trong thụ đắc, tiếp biến, làm giàu giá trị văn hóa, khẳng định bản thể văn hoá
Việt, chủ quyền lãnh thổ Việt.
Nói đến Nam Bộ, các nhà nghiên cứu nhắc nhiều đến nền văn minh thực vật hay văn
minh miệt vườn, văn minh lúa nước. Sức lao động, sức sáng tạo của các t
hế hệ người Việt cùng
với tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc anh em đã biến một vùng đất hoang dã thành những
cánh đồng bất tận, những khu vườn rộng lớn, bạt ngàn cây trái, khiến những cánh rừng, những
dòng sông mang lại sự trù phú, thịnh vượng. Theo Sơn Nam - có sự đồng tình của nhiều nhà
nghiên cứu - thì văn minh miệt vườn chính là trung tâm điểm của văn minh Nam Bộ. Đó là kết
huyết thống không phải là yếu tố phổ biến và quan trọng. Đây là lý do khiến người ta thường sử
dụng t
hành ngữ “anh hùng tứ chiến” như là để biểu thị tính “mở”, biểu thị cách tổ chức của
làng xóm Nam Bộ.
Tất cả những đặc điểm trên đây không thể không có những tác động đến đời sống ngôn
ngữ. Vì vậy, khảo sát màu sắc địa phương thông qua ngôn ngữ tác phẩm, trong mối tương quan
với những yếu tố, đặc điểm văn hóa riêng, mang tính đặc thù của chính vùng đất ấy là một cách
làm
cần thiết.
1.3. Những đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ văn chương
Xung quanh đặc trưng ngôn ngữ văn chương, tuy còn những ý kiến khác nhau, những
kiến giải khác nhau nhưng về cơ bản có thể trình bày bởi những điểm có tính quan yếu sau
đây:
1.3.1 Tính cấu trúc (tính hệ thống)
Văn bản nghệ thuật không phải là sự xuất hiện ngẫu nhiên, không phải là phép cộng
đơn thuần của những yếu tố. Giữa thành tố nội dung, tư tưởng, tình cảm, hình tượng cùng
các thành tố ngôn ngữ biểu đạt luôn tồn tại mối quan hệ hữu cơ, phụ thuộc, gắn bó mật thiết
với nhau, phù hợp với nh
au, hỗ trợ nhau trong một nhiệm vụ chung. Ngôn từ nghệ thuật
“không sống đơn độc, tự nó, vì nó(…)” [34, tr.141]. Điều này là tất yếu, bởi lẽ, chỉ có như
vậy tác phẩm nghệ thuật mới trở thành một chỉnh thể toàn vẹn, mới thực h
iện được chức
năng tư tưởng, chức năng thẩm mỹ to lớn. Nói cách khác, chính chức năng thẩm mỹ, chức
năng tư tưởng quy định sự lựa chọn, cách thức cấu tạo và tổ hợp các yếu tố ngôn ngữ.
Viết về đề tài Nam Bộ, hiển nhiên Sơn Nam phải huy động vốn sống, vốn hiểu biết về
tiếng nói địa phương từ ngữ âm, từ vựng đến ngữ pháp trong xây dựng tác phẩm. Đây
là
nhân tố quy định ngoài ngôn ngữ mang tính khách quan và cũng là con đường để tác giả có
thể tái hiện trung thực bức tranh đời sống như vốn dĩ của nó. Màu sắc địa phương trong
trường hợp này được hiểu là tập hợp các yếu tố ngôn ngữ cùng thể hiện một cách nhất quán
riêng, đặt ra không chỉ cho người viết mà cả với người nghiên cứu thao tác phân biệt giữa
ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ nhân vật.
Với tư cách là hình thức cơ bản để văn học miêu tả thế giới, nhân vật có một vị trí
cực kỳ quan trọng trong tác phẩm. Muốn hiện thực hóa được điều ấy,
nhân vật phải được nói
bằng ngôn ngữ của họ. Đó là thứ ngôn ngữ của giàu tính cụ thể, giàu yếu tố chủ quan và
cảm xúc. Chất khẩu ngữ chính là dấu hiệu nhận biết màu sắc địa phương của tác phẩm. Lựa
chọn này có thể xảy ra với cả ngôn ngữ tác giả và sự “lệch chuẩn” ấy cũng là một trong
những dấu hiệu xác định giọng điệu, phong cách ngôn ngữ. Tuy nhiên, bất luận trong trường
hợp nào thì tác giả vẫn là phải là đại diện tiêu biểu cho ngôn ngữ văn hóa.
Tính tổng hợp đa phong cách và sự phân biệt giữa ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ tác
giả cho ta quan điểm tiếp cận yếu tố “m
àu sắc” địa phương trong tác phẩm nghệ thuật: một
mặt, nó chỉ ra những vấn đề có tính nguyên tắc trong sử dụng ngôn ngữ, một mặt nó phản
ánh những gì thuộc về cá tính, phong cách, năng lực vận dụng ngôn ngữ cá nhân. Tất nhiên,
để nói điều này, chúng ta luôn phải nó đặt bên cạnh những yêu cầu có tính khách quan: đề
tài, chủ đề hay hiện thực tác phẩm phản ánh.
1.4. Những vấn đề về phương ngữ
1.4.1 Khái niệm về phương ngữ
Phương ngữ theo cách gọi khác là tiếng địa phương. Với tư cách ấy, phương ngữ gắn
liền trong mọi hoạt động kinh tế, xã hội của cộng đồng người thuộc địa phương đó.
Khái niệm “phương ngữ” có sự phân biệt với khái niệm “ngôn ngữ”. Nhấn mạnh điều
này, Hoàng Tuệ đã chỉ rõ: “Đó là một hình thái nhất định của một ngôn ngữ. Hình thái ấy c
ó
những đặc điểm riêng trong hệ thống ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng và được sử dụng ở một môi
trường địa lý hẹp hơn môi trường của ngôn ngữ” [67, tr.249]. Quan hệ giữa ngôn ngữ toàn
dân và phương ngữ là quan hệ giữa cái chung và cái riêng, cái bất biến và cái khả biến. Cái
chung là cái thống nhất không loại trừ ai vì chỉ có như thế ngôn ngữ mới thực hiện được
chức năng xã hội to
lớn của nó. Ngược lại, ngay trong phạm vi bất biến, ta vẫn xác định độ
vậy.
Ta biết, do nhiều lý do khác nhau, xét về mặt biến thể ngôn ngữ, văn hóa vùng Nam
Bộ có những nét riêng. Từ góc độ dân tộc học, có thể kể ra một số đặc điểm nhưng từ góc độ
ngôn ngữ học và kể cả văn chương nữa, để làm được việc này phải có cách tiếp cận liên
ngành. Bởi tiếng Việt là một ngôn ngữ tồn tại thống nhất trong đa dạng, sự phân vùng Bắc,
Trung, Nam chỉ là
tương đối còn trong thực tế giao tiếp thì chúng nhòe vào nhau, đan cài lẫn
nhau.
Tất nhiên, đi tìm màu sắc địa phương trong văn học nói chung, màu sắc Nam Bộ nói
riêng không thể không chú ý đến bình diện ngữ âm. Bởi lẽ như ta biết, mặc dù tiếng Việt là
một ngôn ngữ có tính thống nhất cao nhưng tiếng Việt lại tồn tại trong những phương ngữ
cụ thể. Sự khác biệt giữa phương ngữ với phương ngữ và
cả với tiếng Việt toàn dân, trước
hết là ở hệ thống ngữ âm.
Thứ đến là từ vựng. Đây là bình diện thể hiện rõ nhất đặc điểm phương ngữ nhưng
cũng là vấn đề khá phức tạp. Có thể kể ra đây loại từ ngữ chỉ sản vật có ở vùng này mà
không có ở vùng khác như: cà na
, điển điển, bòn bon… hoặc mội số đặc sản: mắm ba khía,
cá thèo lèo
… hoặc loại sản phẩm gắn liền với nghề thủ công: đương đệm, cần xé, cà ràng…
hoặc để chỉ cùng một sự vật, hiện tượng mà ở mỗi phương ngữ có cách khác nhau: heo/lợn,
cá lóc/cá tràu/cá quả
, thồ đâu/sầu đâu/sầu đông… Có khi phải kể đến sức sản sinh của một
kiểu cấu tạo từ nào đó như: đỏ lừ/đỏ ké/đỏ hói/đỏ hỏn…
Nhưng có lẽ bao trùm lên và phức tạp hơn cả là các biểu thức biểu đạt. Hãy quan sát:
Nam Bộ: Ăn như xáng xúc
Mần
như lục bình trôi.
văn hóa - ngôn ngữ… Vì thế, hiểu tiếng địa phương không chỉ giới hạn bởi những yếu tố có
tính hình thức mà còn bao hàm cả yếu tố nội dung.
Quan điểm đối lập phương ngữ với ngôn ngữ toàn dân hoặc một phương ngữ khác là
một trong những cơ sở xác định màu sắc địa phương trong tác phẩm văn học.
1.5. Ngôn ngữ học tri nhận và nghĩa học tri nhận
1.5.1 Khái niệm về ngôn ngữ học tri nhận
Ngôn ngữ học tri nhận là một khuynh hướng, một trào lưu của ngôn ngữ học hiện đại.
Sự ra đời của ngôn ngữ học tri nhận có nguồn gốc từ việc tiếp thu tư tưởng mới trong
lĩnh vực tâm lý học. Những nhân vật có ảnh hưởng đến sự ra đời của khuynh hướng này
không thể không nhắc tới W.Humboldt (Đức, thế kỷ 19) và B.Whorf (Mỹ, đầu thế kỷ 20).
W.Humboldt là người tiếp cận ngôn ngữ dưới bình diện văn hóa, tâm
lý. Ông từng
đưa ra những luận điểm nổi tiếng: ngôn ngữ làm nên linh hồn một dân tộc; thế giới ngôn
ngữ là một thế giới trung gian giữa thế giới khách quan bên ngoài và thế giới con người; sự
phản ánh trong ý thức con người không đơn thuần là con đường trực tiếp, một đối một với
hiện thực mà bao giờ cũng bị ảnh hưởng của thế giới ngôn ngữ…
B.Whorf đề cập tới tính tương đối của ngôn ngữ. Thế giới là một thể liên tục, không
chi
a cắt. Tuy nhiên, để nhận thức và biểu thị kết quả nhận thức con người phải chia cắt thế
giới thành những tế phần khác nhau. Những cộng đồng ngôn ngữ khác nhau có thể chia cắt
hiện thực một cách khác nhau, tạo nên “bức tranh ngôn ngữ về thế giới”
một cách khác
nhau. Nói cách khác, thế giới xung quanh ta được cấu trúc hóa một cách khác nhau trong
mỗi ngôn ngữ. Vì thế, về nguyên tắc sẽ không có sự đồng nhất ý nghĩa giữa các ngôn ngữ.
Sự chuyển hướng của tâm lý học trong những năm 60 của thế kỷ 20 tiếp tục có những
tác động to lớn đối với đời sống ngôn ngữ học. Cái công thức nhị nguyên “kích thích-phản
ứng” (S-R) của trường phái hành vi luận đã không đề cập đến trạng
thái tinh thần hay những
hiện tượng tâm lý tác động đến quá trình đó. Quan điểm này đề nghị phải nghiên cứu con
hiểu ngôn ngữ, vấn đề phạm trù hóa, ý niệm h
óa, vấn đề ý niệm cảm xúc của con người, cái
nhìn của con người đối với thế giới hay “bức tranh ngôn ngữ thế giới”, vai trò của cơ thể đối
với ý thức ngôn ngữ… Trong đó, nội dung quan trọng bậc nhất của ngôn ngữ học tri nhận là
nghiên cứu ý niệm hóa và quá trình ý niệm hóa về thế giới. Xin được lược trích ý kiến về
một trường hợp cụ thể sa
u đây của tác giả Trần Văn Cơ:
Các nhà từ điển học thường lấy phương pháp phân tích thành tố ý nghĩa để xác định
nghĩa từ vựng. Tuy nhiên, điều này không làm thỏa mãn nhiều nhà ngữ học. Ví dụ: “Nhà”
được giải nghĩa “công trình xây dựng có mái, có tường vách để ở hay để dùng vào việc nào
đó” [41, tr.699]. Định nghĩa này đã bỏ qua nhiều nét nghĩa quan trọng trong cấu trúc nghĩa
của từ. Dễ thấy, “ngôi nhà” Việt Nam không giống nhà châu Âu, châu Phi… “Nhà” người
Việt không chỉ khác về kiến trúc mà còn ở những tình cảm, q
uan niệm được gửi gắm: “nhà”
là nơi che chở, đùm bọc, bảo vệ, là hơi ấm, sự chờ đợi. Họ gọi vợ mình hoặc chồng mình là
“nhà tôi” với hy vọng về một mái ấm che thân, sự bình an trong cuộc đời. Phải là người Việt
mới hiểu được ý nghĩa sâu xa của “xa nhà”, “nhớ nhà”, “về nhà”, “người nhà”… Đó là lý do
cần bổ sung việc giải nghĩa bằng phương pháp phân tích ý niệm.
Cũng th
eo tài liệu của tác giả này, ý niệm có cấu trúc theo mô hình trung tâm và ngoại
vi. Trung tâm chính là khái niệm mang tính phổ quát. Nằm ở ngoại vi là những nét đặc thù
văn hóa dân tộc. Nét đặc thù ấy bao gồm: văn hóa toàn dân tộc, văn hóa các tộc người, văn
hóa vùng, miền…
Đến đây có thể nói rằng, việc khảo sát từ ngữ địa phương trên cơ sở ngôn ngữ học tri
nhận chính là cách tìm hiểu cơ sở tri nhận, cách thức ý niệm hóa trong sự tương tác với đặc
thù văn hóa của địa phương đó. Đây cũng là một trong những cách thức làm sáng rõ màu sắc
địa phương trong tác phẩm.
Tất nhiên, chúng ta hiểu rằng, cơ sở tri nhận của một cá nhân dù là ai cũng không thể
tách rời khỏi cộng động. Chẳng hạn, do nhiều lý do khác nhau, người Nam Bộ dùng nhiều từ
ngữ về sông nước. Bên cạnh tính phong phú và đa dạng trong định danh, một mặt người
Chương 2
CÁC PHƯƠNG TIỆN NGÔN NGỮ BIỂU THỊ MÀU SẮC NAM BỘ
TRONG TRUYỆN KÝ SƠN NAM
Một trong những cách thức được đề tài sử dụng nhằm tiếp cận với những phương tiện
này - đó là: so sánh, đối chiếu ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp phương ngữ với với ngữ âm, từ
vựng, ngữ pháp trong ngôn ngữ toàn dân nhằm xác định màu sắc địa phương trong tác
phẩm.
2.1. Từ vựng – ngữ âm
Hiện nay, xung quanh vấn đề từ tiếng Việt tồn tại nhiều quan niệm khác nhau. Tuy
nhiên, như đã xác định, ở luận văn này chúng tôi không đi vào những vấn đề có tính lý luận
mà chấp nhận quan điểm về từ của Nguyễn Tài Cẩn làm cơ sở khảo sát, nghiên cứu.
Trên cơ sở phối hợp hai bình diện ngữ âm và ngữ nghĩa, từ địa phương được chia
thành: (i) Nhóm không có từ ngữ tương đương trong ngôn ngữ to
àn dân, (ii) nhóm có từ ngữ
tương đương trong ngôn ngữ toàn dân.
Quá trình khảo sát được thực hiện trên 57 truyện ngắn (trong Hương rừng Cà Mau,
Hương quê Tây Đầu Đỏ và một số truyện ngắn khác) và 02 tập hồi ký (Từ U Minh đến Cần
Thơ, Ở chiến khu).
2.1.1 Từ ngữ địa phương không tương đương
Nhóm từ ngữ không tương đương tiếp tục được chia tách nhỏ hơn - bao gồm: những
từ ngữ phản ánh sản vật có n
guồn gốc tự nhiên của miền đất Nam Bộ, những từ ngữ chỉ đặc
điểm địa hình và sự vận động dòng nước, những từ ngữ phản ánh tập quán lao động sản
Bồn bồn 4 2 2 Ri voi 12 10 1
Sậy đế 4 3 3 Cá bông 4 2 1
Sầu riêng 3 3 3 Hổ hành 1 1 1
Dây dớn 27 13 5 Trích 12 7 1
Dây choại 28 21 14 Áo dà 1 1 1
Về ngữ nghĩa, phần lớn đây là những từ biểu thị tên những loài động thực vật thuộc hệ
sinh thái ngập mặn: “tràm”, “đước”, “mắm”, “vẹt”, “dừa nước”... những loài chim di trú to
lớn có nguồn gốc từ Biển Hồ (Căm Pu Chia): “già sói”, “chằng bè”/“thằng bè”, “giang sen”,
“chó đồng”... Đó cũng còn là những từ phản ánh về hình ảnh miệt vườn cây trái Nam Bộ:
“chôm chôm”, “sầu riêng”, “dừa xiêm” ”, “măng cụt”... Sơn Nam dường như luôn cố gắng
tái hiện lại bằng ngôn ngữ về một vùng đất trù phú mà hoang sơ, mà lạ lẫm hiện ra
sau mỗi
bước chân người.
Ví dụ 1:
1a. “Rừng tràm
xanh đậm rọi xuống mặt nước đỏ ngầu, rung rinh. Nhứt là về ban đêm
khi trăng chiếu, đom đóm về đậu khắp nhánh tràm
như họp chợ phiên” [Mùa len trâu –
Hương rừng Cà Mau(HRCM), tr.657].
1b. “Trên ba mươi năm về trước, đó là nơi sầm uất, lau sậy mọc um tùm quanh mấy
gốc bần
to lớn (…) Ngọn nước bạc mát lạnh đổ tuôn qua Rạch Giá mang mấy giề lục bình lá
xanh bông tím trôi phưu lưu từ sông Hậu ra ngoài khơi vịnh Xiêm La xanh thẳm” [Con Bảy
đưa đò – HRCM, tr.235].
1c. “Vài con chim áo dà
bay tới tấp như giựt mình(…) Đến ngọn cây tràm, nàng nằm
yên ôm sát thân cây. Đằng xa, trong bụi lá gồi
như có gió thổi nhẹ vô cớ” [Ruộng lò bom –
HRCM, tr.784].
Trong số những sản vật có nguồn gốc tự nhiên, “tràm” là loài cây được nhắc đến
7 Láng 2 2 2
8 Vàm rạch 2 2 2
9 Loi 1 1 1
10 Nước ròng 10 10 6
11 Nước lớn 4 4 4
12 Nước rặc 2 2 2
13 Nước cái 2 2 1
14 Nước nổi 1 1 1
Tổng số từ: 14
Tổng tần số : 172
Sự phân bố của chúng:
Số trang: 118/949 (12,43%)
Số tác phẩm: 34/59 (57,62%)
“Rạch” là từ có tần số và phân bố cao nhất trong nhóm (95 lần, 75 trang và 24 tác
phẩm). Đó là những con sông nhỏ, xuất phát từ những nhánh sông lớn, tạo thành một mạng
lưới dày đặc trên dải đất Tây Nam Bộ. Sự lặp lại nhiều lần của “rạch” trong tác phẩm rõ
ràng có cơ sở thực tiễn.
“Vàm” có tần số và độ phân bố xếp thứ hai (17 lần, 16 trang và 11 tác phẩm). Tiếng
Khơ me có từ “péam”, nghĩa của nó là “cửa sông, nơi một con sông nhỏ chảy vào con sông
lớn”. Nhiều địa danh trong tác phẩm bắt đầu từ “vàm”: “Vàm Cống”, “Vàm Tắc Thủ”,
“Vàm Nao”, “Vàm Rạch”…
Một điểm chú ý khác là sự hiện diện của những từ chỉ hiện tượng các dòng nước:
“nước lớn”, “nước ròng”, “nước nổi”, “nước l
ên”, “nước rặc”… Dễ dàng nhận thấy “nước
rặc”, “nước cái” không có từ tương đương trong ngôn ngữ toàn dân. Nó là “đặc sản” của
phương ngữ Nam Bộ.
“Nước rặc” được giải nghĩa: “Là nước chảy đã cạn, chỉ còn một đường nước nhỏ giữa
lòng sông”, “nước cái” là “con nước rong lớn hơn hai con nước rong (nước lớn hơn mọi con
nước, có khả năng tràn bờ) của tháng” [61, tr.956,960]. Tương tự như vậy với “nước nổi”,