Ngôn ngữ truyền hình việt nam vấn đề và thảo luận - Pdf 10

Ngôn ngữ truyền thông xã hội qua phân tích
diễn ngôn các ca từ trong bài hát kháng chiến

Lê Thị Phượng

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Văn học
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học; Mã số: 60 22 01
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Đinh Văn Đức
Năm bảo vệ: 2012

Abstract. Khảo cứu cấu trúc, chức năng và các tiểu chức năng của diễn ngôn ca từ
trong bài hát Cách mạng giai đoạn 1945 - 1975. Phân tích, miêu tả các chức năng: tư
tưởng, liên nhân, văn bản của diễn ngôn ca từ trong bài hát Cách mạng giai đoạn
1945 - 1975. Khảo cứu chức năng tác động truyền thông xã hội của diễn ngôn ca từ
trong bài hát Cách mạng giai đoạn 1945 - 1975.

Keywords. Bài hát; Ngôn ngữ học; Diễn ngôn; Ngôn ngữ truyền thông; Ngôn ngữ
xã hội

Content.

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, hướng nghiên cứu ngôn ngữ truyền thông xã hội
đã thu được nhiều kết quả đáng kể, giúp chúng ta hiểu được sâu hơn bản chất của
ngôn ngữ với tư cách là công cụ tương tác xã hội và liên nhân. Ngôn ngữ truyền
thông xã hội là một hướng nghiên cứu được nhiều người quan tâm. Tuy nhiên, trong
Việt ngữ học, việc nghiên cứu này chưa nhiều và chưa sâu. Trước thời điểm hiện tại,
các nhà nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt chủ yếu bàn đến ngôn ngữ truyền thông xã
hội một cách toàn diện, tổng thể. Chính điều này đã thôi thúc chúng tôi đặt vấn đề
nghiên cứu một cách sâu sắc hơn: Ngôn ngữ truyền thông xã hội qua phân tích diễn

Ngoài ra, nguồn tư liệu còn được lấy từ một số bài hát kháng chiến khác cũng
trong giai đoạn này ở nhiều website.
5. Đóng góp của đề tài
Chúng tôi tin tưởng rằng, công trình nghiên cứu của chúng tôi sẽ có ý nghĩa cả
về lí luận và thực tiễn.
Về lí luận, luận văn hi vọng góp phần làm rõ thêm khái niệm truyền thông nói
chung và truyền thông xã hội nói riêng; giới thiệu một số đặc điểm chung nhất của
các bài hát kháng chiến. Mặt khác, luận văn cũng quan tâm sâu hơn các chức năng
của diễn ngôn thông qua tư liệu được khảo sát: chức năng tư tưởng, chức năng liên
nhân và chức năng văn bản - những vấn đề mà xưa nay đã đề cập đến nhưng chưa
được lí giải đầy đủ; từ đó góp phần vào việc hoàn thiện các kết quả nghiên cứu về
ngôn ngữ truyền thông xã hội nói chung và chức năng tác động xã hội của các ca từ
trong bài hát kháng chiến nói riêng.
Về thực tiễn, những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể góp phần giải
quyết nhiều vấn đề về cách sử dụng tiếng Việt và là cơ sở để biên soạn nội dung, xác
định phương pháp dạy tiếng Việt cho người nước ngoài học tiếng Việt. Đặc biệt,
trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa như hiện nay, kết quả nghiên cứu của luận văn
cũng góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chức năng sử dụng của các ca từ khi
nhạc sĩ sáng tác nhạc phẩm mới kèm theo thông điệp muốn gửi đến thính giả; từ đó
thuận lợi hơn trong việc giao tiếp và thể hiện mục đích giao tiếp của mình.
Tóm lại, việc lựa chọn ngôn ngữ truyền thông xã hội làm đối tượng nghiên
cứu không phải là vấn đề hoàn toàn mới mẻ. Cái mới của luận văn là tìm hiểu vấn đề
ấy thông qua phân tích diễn ngôn các ca từ trong bài hát kháng chiến và những vấn
đề xung quanh nó.
6. Bố cục
Phần mở đầu
Phần nội dung
Chương 1: Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài
1.1. Các lí thuyết về truyền thông
1.2. Phân tích diễn ngôn

một kiểu tương tác xã hội trong đó ít nhất có hai tác nhân tương tác lẫn nhau, chia sẻ
các quy tắc và tín hiệu chung. Ở dạng đơn giản, thông tin được truyền từ người gửi
tới người nhận. Ở dạng phức tạp hơn, các thông tin trao đổi liên kết người gửi và
người nhận. Phát triển truyền thông là phát triển các quá trình tạo khả năng để một
người hiểu những gì người khác nói (ra hiệu, hay viết), nắm bắt ý nghĩa của các
thanh âm và biểu tượng, và học được cú pháp của ngôn ngữ.
1.1.2. Thế nào là truyền thông xã hội?
Hoạt động hướng tới cộng đồng như những đối tượng đích cần được tác động
để làm thay đổi thái độ, hành vi theo hướng có lợi cho xã hội thì được gọi là truyền
thông xã hội. Truyền thông là các phương tiện truyền tải thông tin. Xã hội là mục
đích của truyền thông.
1.2. Phân tích diễn ngôn
1.2.1. Những nét chính trong nghiên cứu diễn ngôn
Quan niệm về diễn ngôn được giới thiệu ở ta sớm nhất trong lĩnh vực ngôn
ngữ học. Có thể kể đến các công trình: Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt của Trần
Ngọc Thêm (1985); Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Giao tiếp diễn ngôn và cấu
tạo văn bản của Diệp Quang Ban (1998, 2009), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 của
Đỗ Hữu Châu (2001), Dụng học Việt ngữ của Nguyễn Thiện Giáp (2000), Phân tích
diễn ngôn – một số vấn đề lí luận và phương pháp của Nguyễn Hoà (2003), Từ điển
tu từ – phong cách – thi pháp học của Nguyễn Thái Hoà (2005),…
1.2.2. Phân loại diễn ngôn
Có nhiều cách phân loại diễn ngôn.
(*) Dựa vào dạng tồn tại của ngôn ngữ.
(*) Dựa vào các lĩnh vực tri.
(*) Dựa vào nội dung phát ngôn.
(*) Dựa vào thể loại.
(*) Dựa vào cấp độ của diễn ngôn.
(*) Dựa vào chủ thể diễn ngôn.
(*) Dựa vào cấu trúc.
(*) Dựa vào chức năng của ngôn ngữ.

định quan hệ diễn ngôn sau này. Ngoài ra, mức độ gọn nhẹ của bản tóm tắt sau này
cũng phụ thuộc vào độ chi tiết (kích thước) của các ĐVDNCB.

Quá trình phân đoạn diễn ngôn gồm hai bước:
1. Tách các đoạn văn, câu. Bước này được thực hiện khá đơn giản dựa trên các
dấu xuống dòng và dấu chấm câu.
2. Tách các câu thành các ĐVDNCB.
1.2.7. Chức năng của diễn ngôn
Theo Halliday, ngôn ngữ có 3 chức năng lớn:
+ Ideation (ý niệm, tư tưởng)
Đây là chức năng thể hiện các thông tin thuần lí của ngôn ngữ trong thông
điệp của giao tiếp ngôn ngữ, và có 90% thông tin gạn lọc được là các thông tin thuần
lí. Nghĩa là, các thông tin phản ánh thực tại, các sự kiện xảy ra trong đời sống mà
chúng ta muốn giao tiếp.
+ Interpersonal (liên nhân)
Chức năng liên nhân là chức năng mang tính xã hội rõ nhất vì bản chất ngôn
ngữ, suy cho cùng, là làm mối dây liên hệ giữa người với người trong một cộng đồng
đã được xác định. Đôi khi chúng ta nói không phải để truyền thông tin mà nói để tìm
hiểu về nhau, thông cảm với nhau
+ Intergrative (văn bản)
Đây là chức năng mang tính ngữ pháp văn bản rất rõ, các từ không thể rời rạc
mà phải nối kết với nhau để tạo thành sức mạnh, đó là sức mạnh của hiệu lực lời nói.
Để đạt được hiệu lực này, ngoài vài luật ngữ pháp quy định về các quan hệ cú pháp
đặc thù cho một ngôn ngữ thì chúng ta còn phải sử dụng rất nhiều các nhân tố khác
nhau để kết liên các từ lại thành một khối.
1.3. Diễn ngôn ca từ trong bài hát Cách mạng
1.3.1. Giới thiệu sơ bộ các bài hát cách mạng
Nhạc cách mạng, thường được gọi nhạc đỏ, là một dòng của tân nhạc Việt
Nam gồm những bài hát sáng tác trong thời kì Chiến tranh Đông Dương, ở miền Bắc
Việt Nam và vùng giải phóng ở miền Nam Việt Nam trong thời kì Chiến tranh Việt

ngữ: nhịp điệu, âm vị, âm thanh, vần,…
Một điểm giống nữa là, trong diễn ngôn ca từ và diễn ngôn thơ, chủ thể phát
ngôn luôn được giả định là tác giả. Sự giả định này không những giúp tác giả dễ thế
ngôn, thác ngôn mà còn tạo cho độc giả cũng có cơ hội được sở hữu phát ngôn đó.
Ở diễn ngôn thơ, các sự vật, sự việc trong thơ tượng trưng cho thế giới bên
ngoài, toàn bộ cái tạo thành thế giới thơ chỉ mang tính chất tham khảo, để tìm ra ý
nghĩa của nó chúng ta phải hướng đến cái thế giới bên ngoài tác phẩm.
Còn diễn ngôn ca từ thì lại sinh ra để ghi lại cảm xúc thực lúc đó, thời khắc
lịch sử, không gian thật của thời đại.
Tóm lại, diễn ngôn ca từ tuy có một số nét khác biệt so với một số diễn ngôn
nghệ thuật khác, nhưng về cơ bản là có nhiều điểm tương đồng.
Như vậy, chương cơ sở lí luận đã đi vào tìm hiểu các vấn đề sau:
+ Một số khái niệm liên quan đến truyền thông: truyền thông là gì? Thế nào là truyền
thông xã hội?
+ Điểm lại những công trình nghiên cứu về diễn ngôn từ trước tới giờ và những quan
niệm khác nhau về diễn ngôn.
+ Trình bày một số khái niệm về: phân tích diễn ngôn; lí thuyết cấu trúc diễn ngôn;
các chức năng của diễn ngôn; phương pháp phân đoạn diễn ngôn; v.v. Ngoài ra
cũng chỉ ra được những nét giống và khác nhau giữa diễn ngôn ca từ so với một số
diễn ngôn nghệ thuật khác.
Chương 2:
Kết cấu ngôn ngữ diễn ngôn trong các ca khúc cách mạng
2.1. Cấu trúc tên đề
- Tên bài hát đơn giản hay phức tạp tùy thuộc vào nội dung của bài hát.
- Tên ca khúc được đặt một cách trực diện.
- Tên bài hát là một câu đơn.
- Tên bài hát là một ngữ.
- Tên bài hát là một từ loại.
2.2. Bố cục ca khúc
Gồm 6 phần: Dạo đầu; Đoạn chính; Hợp xướng hoặc điệp khúc; Giang tấu; Phần

(Tiếng hát giữa rừng Pắc Bó)
2.8. Các kiểu quan hệ diễn ngôn
Có 6 kiểu quan hệ:
- Quan hệ chứng minh
- Quan hệ nhân nhượng
- Quan hệ nhân quả
- Quan hệ liệt kê
- Quan hệ mục đích
- Quan hệ thời gian

2.9. Nguyên lí song song
Các ca khúc cách mạng đều được xây dựng dựa trên nguyên lí song song:
- Song song trong nhịp điệu
- Song song về thanh điệu
- Lặp từ
- Láy câu
- Láy từ
2.10. Vị ngữ phụ
Trong những trường hợp được khảo sát trong luận văn, vị ngữ phụ đều đứng
trước chủ ngữ.
Điều này tất nhiên không nằm ngoài dụng ý của các tác giả. Nó đứng đầu câu
để mà nhấn mạnh những cảm xúc, những điều muốn được truyền đạt, được gửi đi tới
người tiếp nhận.
Vui trong nắng vàng từng đàn bướm trắng bay khắp rừng hoa. Ngập ngừng
bên suối nước reo quanh mình như muôn tiếng đàn. Bâng khuâng nỗi lòng nhịp sáo
ai đưa tiếng ca rộn vang.
(Tình ca Tây Bắc)
2.11. Trạng ngữ
Khảo sát trạng ngữ chỉ thời gian và địa điểm không nằm ngoài việc chứng
minh chức năng tác động của các ca khúc cách mạng. Những thời gian và không gian

 Hành động cầu khiến
Tiến mau ra xa trường. Tiến lên! Cùng tiến lên!
(Tiến quân ca)
Cái chất hào hùng, khí phách, mãnh liệt của các ca khúc cách mạng ngoài giai
điệu ra thì chính là nhờ các câu cầu khiến này mà có. Các nhạc sĩ như thổi thêm vào
tâm can người Việt cái chí khí chiến đấu nóng bỏng.
 Hành động hứa hẹn
Điện Biên! Chúng ta sẽ toàn thắng.
(Trên đồi Him Lam)
Tất cả những ví dụ kiểu nêu trên đều mang âm hưởng của những lời hứa hẹn,
những lời thề, lòng quyết tâm của những người ra đi chiến đấu, đem độc lập, tự do về
cho Tổ quốc, gìn giữ non sông. Những câu hát đó thổi vào suy nghĩ, tâm can của người
Việt yêu nước một hi vọng vào tín hiệu tốt đẹp trong tương lai.
 Hành động bày tỏ
Ơi câu hò chiều nay, tôi mang nặng tình ai.
(Câu hò bên bờ Hiền Lương)
Sử dụng nhiều câu cảm thán, đặc biệt, câu hỏi nhấn mạnh, câu trần thuật để thể
hiện hành động này.
 Hành động tuyên bố
Toàn dân Việt Nam đứng đều lên góp sức một ngày. Thề đem xương máu quyết
lòng chiến đấu cho tương lai.
(19 tháng 8)
Những lời tuyên bố ấy cũng là những ghi nhận về tình yêu nước, sự ngoan cường bất
khuất của toàn quân và dân ta trong cuộc chiến đấu giữa ta với địch. Đó cũng là những
tuyên bố hùng hồn về chủ quyền của đất nước ta trong ngày chiến thắng. Quân thù không
được xâm phạm.
3.2. Chức năng tác động qua các tiểu chức năng
3.2.1. Tính phiếm định
- Lược bỏ chủ từ
- Dùng từ phiếm định ”ai”

Ca ngợi quê hương, đất nước:
Làng tôi xanh bóng tre, từng tiếng chuông ban chiều, tiếng chuông nhà thờ ru.
(Làng tôi)
Những câu hát được cất lên để khen, để tỏ lòng yêu quý cái hay, cái đẹp của đất
nước và những người con yêu nước của Việt Nam ta. Dù gian khổ thế nào, chúng ta vẫn
một lòng một dạ chiến đấu để bảo vệ quê hương. Dù anh và em có xa nhau cách trở, thì tình
yêu ấy cũng sẽ biến thành sức mạnh để anh và em góp thêm sức mình vào công cuộc bảo vệ
Tổ quốc thân yêu. Cả nước đoàn kết chiến đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam và Bác Hồ kính yêu, vĩ đại, để chắc chắn một điều rằng”Kháng chiến nhất quyết thành
công Anh về em thỏa ước mong”. (Lên ngàn)
Hai tiểu chức năng không kém phần quan trọng của ca từ nữa đó là tiểu chức năng
cảm xúc và tiểu chức năng chất thơ đã được phân tích rất cụ thể trong luận văn chi tiết. Dưới
đây là các ví dụ đại diện.
3.2.4. Cảm xúc
Bao nhiêu nỗi uất hận, đau thương của kiếp người nô lệ dồn nén trong lòng
nay bung ra. Câu hát đầu tiên vừa vang lên trong lòng Xuân Oanh, ông đã hát vang
trên “Toàn dân Việt Nam đứng đều lên góp sức một ngày, thề đem xương máu quyết
tâm chiến đấu cho tương lai mười chín, tháng Tám ánh sao tự do đem tới, cờ bay
nơi nơi ” Nghĩ ra được câu nào, ông hát to lên cho mọi người cùng hát theo.
=> Cảm xúc
3.2.5. Chất thơ
Những bài ca được bắt đầu và thể hiện bằng những “nỗi nhớ”, “căm hờn”,
“tình yêu”,, “hạnh phúc”, Sự rung động thực chất trong tâm hồn tác giả đã nhạy
bén tạo thành những câu nhạc có hướng phát triển.
3.3. Chức năng tác động qua sự phối hợp giữa âm thanh và ngôn từ
3.3.1. Âm thanh
Mùa hoa lê-ki-ma nở (ơ) ở quê ta miền đất đỏ, Thôn xóm vẫn nhắc tên người
anh hùng đã chết cho mùa hoa lê-ki-ma nở (ơ) đời sau vẫn còn nhắc nhở. Sông núi
đất nước ơn người anh hùng đã chết cho đời sau.
(Biết ơn Võ Thị Sáu)

đang khắc khoải mong chờ.
(Tiến về Sài Gòn)
Tiếng súng Phước Long chờ mong tin thắng, người đi xa vắng rồi sẽ có ngày
về đường này thăm sóc Bom Bo.
(Tiếng chày trên sóc Bom Bo)
=> Dụng ý khác nhau.
3.3.6. Tiểu kết
Những đơn vị trên đều được các tác giả chọn lựa và sắp xếp theo những dụng ý
riêng rất tinh tế và độc đáo, làm cho các ca khúc đều trở thành những nhạc phẩm rất
đỗi sâu sắc với sức sống mãnh liệt, lại giàu chất hiện thực.

KẾT LUẬN
Trong dòng chảy của âm nhạc Việt Nam, chúng ta không thể không nhắc đến
dòng âm nhạc cách mạng với những giai điệu đã đi sâu vào tiềm thức của nhiều thế
hệ. Giờ đây, đã 37 năm trôi qua, các bài hát ấy vẫn được ngân lên không chỉ vào
ngày 30/4, mà đã trở thành khúc đồng ca của cả dân tộc và còn vượt ra ngoài biên
giới, đến với bạn bè khắp năm châu. Có những ca khúc tác giả chỉ viết một mạch 2
tiếng đồng hồ nhưng có lẽ là bằng cảm xúc của cả một đời người như bài Như có Bác
Hồ trong ngày vui đại thắng của Phạm Tuyên.
Qua phân tích khảo sát những dữ liệu hữu quan, chúng tôi rút ra được một số
kết luận như sau:

1/ Diễn ngôn hiện diện ở khắp mọi nơi. Diễn ngôn của các bài hát cách
mạng mang một đặc trưng riêng, mà trong đó diễn ngôn ca từ là một loại diễn ngôn
đặc biệt.
2/ Về đặc điểm ngôn ngữ:
Với những ca từ giản dị, ngắn gọn, các nhạc phẩm này giống như là cuộc hôn
phối kì diệu giữa âm thanh, ý nghĩa và hình ảnh. Chữ và nghĩa trong ngôn ngữ ca
khúc hòa quyện với nhau như hình với bóng, như xác với hồn nên việc tách rời chúng
ra khỏi nhau sẽ làm tổn hại đến bình diện ngôn ngữ và thẫm mĩ của câu thơ.

3. Diệp Quang Ban, Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Nxb.Giáo dục, 2008.
4. Cấu trúc nhịp thơ và nhạc âm của thơ, tạp chí Sông Hương số 240, 2/2009.
5. Đỗ Hữu Châu, Đại cương ngôn ngữ học, Nxb.Giáo dục, tập 2, 2001.
6. Đinh Kiều Châu, Ngôn ngữ Truyền thông Xã hội tiếng Việt qua các thông điệp
Truyền thông Phát triển Cộng đồng, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Hà Nội,
2010.
7. Chủ nghĩa cấu trúc và văn học, Nxb.Văn học, 2002.
8. Chủ nghĩa hậu hiện đại như một hệ hình thế giới quan, tạp chí Văn hoá Nghệ
An, 4 – 2009.
9. Chức năng của hiệp vần, tạp chí Hợp Lưu số 10.
10. Dịch và lí thuyết dịch như một hệ hình lí luận, phê bình mới, tạp chí Nghiên
cứu văn học, 12 – 2009.
11. Trịnh Bá Đĩnh, Chủ nghĩa cấu trúc và văn học, Nxb.Văn học, 2002.
12. Vũ Hoàng Địch, Trần Ngọc Vương dịch (theo Kate Hamburger), Logic học về
các thể loại văn học, Nxb.Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004, tr365.
13. Nguyễn Thị Hà, Khảo sát chức năng ngôn ngữ văn ba
̉
n quản lí nhà nước qua
phương pháp phân tích diễn ngôn, Luận án Tiến sĩ, ĐH KHXH&NV, 2009.
14. Nguyễn Hoà, Khía cạnh văn hoá của phân tích diễn ngôn, tạp chí Ngôn ngữ
số 12 -2005, Hà Nội.
15. Nguyễn Hoà, Phân tích diễn ngôn – một số vấn đề lí luận và phương pháp,
chuyên khảo, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003.
16. Nguyễn Thái Hoà, Từ điển tu từ – phong cách – thi pháp học, Nxb.Giáo dục,
2005.
17. Hồ Mỹ Huyền, Trúc Thanh dịch (theo David Nunan), Dẫn nhập phân tích
diễn ngôn, Nxb.Giáo dục, 1998.
18. Nguyễn Thiện Giáp, Dụng học Việt ngữ, Nxb.Giáo dục, 2000.
19. Trần Thiện Khanh, Bước đầu nhận diện diễn ngôn, diễn ngôn văn học, diễn
ngôn thơ, http://vanhoanghean.com.vn/goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-

thế kỉ XX ở nước ta), Nxb.Tác phẩm mới, Hội Nhà văn, Hà Nội, Hà Nội, 1981.
35. Tính chất nước đôi của chủ thể hậu thuộc địa trong Vu khống của Linda Lê,
tạp chí Văn học nước ngoài số 3 – 2010.
36. Tính chất nước đôi và mầm mống phá huỷ nhãn quan thực dân về Việt Nam
tính trong bộ phim Đông Dương, http://www.tienve.org
37. Trần Văn Toàn, Diễn ngôn về tính dục trong văn xuôi hư cấu Việt Nam từ đầu
thế kỉ XX đến 1945 in trong Nghiên cứu văn học Việt Nam, những khả năng
và thách thức, Nxb.Thế giới, 2009.
38. Khâu Chấn Thanh, Lý luận văn học nghệ thuật cổ điển Trung Quốc, Nxb.Văn
học, Hà Nội, 2001, tr.406.
39. Trần Ngọc Thêm, Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, Nxb.ĐH và THCN, Hà
Nội, 1985.
40. Đoàn Thiêm, Quan niệm và sáng thơ - Theo lời thi nhân và học giả phương
Tây (trích dịch), Viện Đại học Huế, 1962, tr54.
41. Trần Thuần dịch (theo Gillian Brown, George Yule), Phân tích diễn ngôn,
Nxb.Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002.
42. Thực hành phân tích diễn ngôn bài Lá rụng, tạp chí Ngôn ngữ, 2 – 2009.
43. Lộc Phương Thuỷ chủ biên, Lý luận – phê bình văn học thế giới thế kỉ XX, tập
hai, Nxb.Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr.411 và tr.655.
44. Đỗ Lai Thuý biên soạn và giới thiệu, Sự đỏng đảnh của phương pháp,
Nxb.Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2004, tr.501.
45. Lê Ngọc Trà, Tư tưởng lí luận của nhà văn và sáng tác văn học, Văn nghệ số
34, ngày 22.8.1987, Hà Nội.
46. Hoàng Văn Vân dịch (theo Mak Halliday), Dẫn luận ngữ pháp chức năng,
Nxb.Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001.
47. Về diễn ngôn tiểu thuyết Việt Nam đương đại, tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt
Nam, 3 – 2010.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status