ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHAN QUỐC HẢI
NGÔN NGỮ TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM:
VẤN ĐỀ VÀ THẢO LUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
NGÔN NGỮ TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM:
VẤN ĐỀ VÀ THẢO LUẬN Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60.32.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Vũ Quang Hào
Hà Nội, 2010
1.3.2. Âm thanh (audio) 19
1.3.2.1. Lời nói 19
1.3.2.2. Âm nhạc 20
1.3.2.3. Tiếng động 21
Chương 2:NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ NGÔN NGỮ TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM 23
2.1. Giọng nói trên truyền hình Việt Nam 23
2.1.1. Giọng trên đài truyền hình quốc gia (VTV) 23
2.1.2. Vấn đề sử dụng giọng trong chương trình Truyền hình 33
2.1.2.1. Sử dụng đa giọng 33
2.1.2.2. Sử dụng đơn giọng 38
2.1.3. Âm sắc lời nói 40
2.2. Tốc độ nói 47
2.3. Các yếu tố cấu thành ngôn ngữ phần lời 51
2.3.1. Ngôn ngữ phần lời dẫn 51
2.3.2.Ngôn ngữ phần lời bình 54
2.3.3. Độ dài của lời 58
2.4. Vấn đề xử lý các số liệu 62
2.5. Vấn đề đọc các thuật ngữ khoa học và danh pháp khoa học 66
2
2.5.1. Về vấn đề sử dụng thuật ngữ khoa học 66
2.5.2. Vấn đề sử dụng các danh pháp khoa học 69
2.6.Vấn đề đọc tên riêng tiếng nước ngoài và chữ viết tắt 71
2.6.1.Vấn đề đọc tên riêng tiếng nước ngoài 71
2.6.2. Vấn đề đọc chữ viết tắt 75
2.7. Vấn đề sử dụng âm nhạc và tiếng động 78
2.7.1. Vấn đề sử dụng tiếng động 78
2.7.2. Vấn đề sử dụng âm nhạc 82
2.8.Vấn đề sử dụng ngôn ngữ hình ảnh trên truyền hình Việt Nam 85
2.9.Vấn đề mối quan hệ giữa hình ảnh và lời 92
PHẦN KẾT LUẬN 124
CHÚ THÍCH 126
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………….129
PHỤ LỤC……………………………………………………………………… …134
3
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT
Stt
Tên viết tắt
Tên đầy đủ
1
BTV
Biên tập viên
2
BTV
Đài Phát thanh-Truyền hình Bình Định
3
CRTV
Đài Phát thanh-Truyền hình Cà Mau
4
CVTV
Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại Cần Thơ
5
DVTV
Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại Đà Nẵng
6
HTV
Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
17
KH-KT
Khoa học-Kỹ thuật
18
KTV
Đài Phát thanh-Truyền hình Khánh Hòa
19
LA
Đài Phát thanh-Truyền hình Long An
20
LTV
Đài Phát thanh-Truyền hình Lâm Đồng
21
MC
Master of Ceremonies: Người dẫn chương trình
22
NBRT
Đài Phát thanh-Truyền hình Ninh Bình
23
NTV
Đài Phát thanh-Truyền hình Nghệ An
24
PTQ
Đài Phát thanh-Truyền hình Quảng Ngãi
25
PT-TH
Phát thanh-Truyền hình
26
Đài Phát thanh-Truyền hình Vĩnh Long
36
THP
Đài Phát thanh-Truyền hình Hải Phòng
38
THĐT
Đài Phát thanh-Truyền hình Đồng Tháp
39
TV
Đài Phát thanh-Truyền hình Thái Nguyên
40
VP
Đài Phát thanh-Truyền hình Vĩnh Phúc
41
VTV
Đài Truyền hình Việt Nam
Việt Nam 67
Bảng 2.17: Số lần xuất hiện danh pháp khoa học trên các kênh sóng truyền hình
Việt Nam 69
Bảng 2.18: Số lần xuất hiện tên riêng nước ngoài trên kênh sóng truyền hình VN 72
Bảng 2.19: Số lượng tin có tiếng động trên VTV 78
Bảng 2.20: Số lượng tin có tiếng động trên truyền hình địa phương 79
Bảng 2.21: Số lượng tin, bài sử dụng nhạc có lời trên VTV 84
Bảng 2.22: Số lượng tin, bài sử dụng âm nhạc trên VTV 85
Bảng 2.23: Số lượng tin, bài sử dụng hình ảnh động và tĩnh các đài địa phương 86
Bảng 2.24: Số lượng tin, bài sử dụng hình ảnh động và tĩnh các chương trình 86
6
Bảng 2.25: Tần số xuất hiện hình ảnh tĩnh trong chương trình thời sự 19h00-VTV1
87
Bảng 2.26: Tần suất xuất hiện hình ảnh tĩnh 88
Bảng 2.27: Tần suất xuất hiện hình ảnh động chương trình thời sự 19h00-VTV1 . 89
Bảng 2.28: Tần suất xuất hiện hình ảnh động 89
Bảng 2.29: Tần suất xuất hiện của các loại cỡ cảnh 90
Bảng 2.30: Thời lượng các chương trình của các đài truyền hình ở Việt Nam 97
Bảng 2.31: Số lượng tiếng, hình ảnh trong Tin, Phóng sự của VTV1 98
Bảng 2.32: Qui luật khớp hình và tiếng trên VTV 99
Bảng 3.1: Thái độ công chúng với giọng Nam Bộ 106
Bảng 3.2: Thái độ công chúng với giọng Nam Bộ 106
Bảng 3.3: Tốc độ nghe của công chúng truyền hình các tỉnh miền Trung………109
Bảng 3.4: Tỉ lệ người dẫn và người tham gia chương trình 118
Bảng 3.5: Sử dụng các loại ngôn ngữ thông tin trên truyền hình Việt Nam 121
Ảnh 2.13: Âm sắc của BTV Hoài Anh – Chương trình Thời sự19h00 trên VTV 46
Ảnh 2.14: Âm sắc của BTV Phương Thanh- Chương trình Thời sự HTV 46
Ảnh 2.15:Chữ bắn lên màn hình, VTV1 64
Ảnh 2.16: Số liệu bắn lên màn hình VTV1 64
Ảnh 2.17: Bố cục đường chéo 89
Ảnh 2.18: Cảnh gây ấn tượng trên VTV 90
Ảnh 2.19: Lũ hoành hành tại Phú Yên VTV1 93
Ảnh 2.20: Lũ lụt tại miền Trung, VTV1 94
Ảnh 2.21: Cháy ở công ty xuất khẩu lâm sản Hà Tĩnh, VTV1 94
8
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, truyền hình đã trở thành phương tiện truyền thông mạnh mẽ và quan
trọng bậc nhất đối với công chúng khắp nơi trên thế giới. Chính truyền hình đã tạo nên
một cuộc cách mạng thông tin và làm nên sự bùng nổ truyền thông bắt đầu từ những
năm nửa cuối thế kỷ 20. Truyền hình đã được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau
với những mục đích khác nhau: về vai trò, vị trí của nó đối với các vấn đề xã hội,
Nêu lên những vấn đề cơ bản của truyền hình Việt Nam hiện nay dưới góc độ
ngôn ngữ thông qua các tin, bài được sử dụng phát sóng trên các kênh sóng truyền
hình trong cả nước.
Làm rõ đặc điểm của ngôn ngữ truyền hình Việt Nam và vai trò của các yếu tố
ngôn ngữ âm thanh và ngôn ngữ hình ảnh trong hệ thống tin, bài của truyền hình Việt
Nam. Phân tích, so sánh một cách tổng quát về hiện trạng sử dụng các yếu tố ngôn ngữ
truyền hình ở Việt Nam.
Phân tích các phương thức sử dụng các yếu tố ngôn ngữ truyền hình Việt Nam,
rút ra một số kết luận về đặc điểm ngôn ngữ truyền hình ở các đài truyền hình từng
khu vực trong cả nước và nêu lên những biện pháp xây dựng tin, bài trong tương lai.
3. Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu ngôn ngữ truyền hình là địa hạt tương đối mới mẽ so với các lĩnh
vực nghiên cứu báo chí khác.Hầu hết các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước
đều có đề cập đến ngôn ngữ truyền hình như ở những góc độ liên quan chứ chưa trực
tiếp đi vào nghiên cứu ngôn ngữ truyền hình với tư cách là đối tượng cụ thể. Công
trình đầu tiên đáng chú ý phải kể đến là Media Writing của nhóm tác giả W. Richard
Whitaker, Janet E. Ramsay, Ronald D.Smith [68]. Trong tác phẩm này, các tác giả đã
dành một chương, chương 11 từ trang 284-318 với tiêu đề Reporting for TV để nói về
những chức năng của âm thanh và hình ảnh trong truyền hình.Theo các tác giả này,
ngôn ngữ nói trong truyền hình phải là một bàn đỡ mà ở trên trên đó hình ảnh được
sắp xếp một cách hợp lý. Ở đây các tác giả muốn nói đến lời bình của một tác phẩm
truyền hình. Tiếp đến là The Language of Television của Jill Marshall, Angela
Werndly [67]. Đây là tác phẩm dày 128 trang nhưng chủ yếu chỉ nói về lịch sử, các thể
loại, có bàn về ngôn ngữ của một vài thể loại cụ thể như tin, phóng sự truyền hình.
Trong khi đó, tác phẩm Văn hóa, phương tiện truyền thông, ngôn ngữ của Staurt Hall,
dành một chương là “Mã hóa và giải mã trong ngôn bản truyền hình”dài 12 trang,
được Đỗ Anh Đức dịch, thì chỉ bàn đến cách mã hóa và giải mã ngôn ngữ hình ảnh của
các tác phẩm truyền hình. Một số sách dịch khác của nước ngoài được Nhà xuất bản
thông tấn ấn hành những năm gần đây cũng có đề cập đến ngôn ngữ truyền hình. Đáng
chú ý là cuốn Báo chí truyền hình (T1, T2) của G.V.Cuwdonhetxop, X.L Xvich,
tiếp lời nói truyền hình” (Tạp chí Báo chí và Tuyên truyền, số 5 (tháng 9+10/2003) đã
khẳng định rằng, lời nói trong truyền hình là lời nói có tính chuẩn mực cao, rằng người
nói trên truyền hình dù không đối thoại trực tiếp với công chúng nhưng phải tưởng
tượng đang đứng trước công chúng để ý thức về lời nói hơn. Trong khi đó ngay phần
mở đầu của bài báo “Ngôn ngữ truyền hình”(Tạp chí Người làm báo, số 12/2007),
11
Khiếu Quang Bảo đã khẳng định: ngôn ngữ truyền hình là loại ngôn ngữ tổng hợp, có
ngôn ngữ viết cho độc giả báo in, có ngôn ngữ nói cho thính giả phát thanh, hơn thế
nữa có ngôn ngữ hình ảnh cho khán giả truyền hình. Đặc biệt trong bài báo này tác giả
còn đi sâu phân tích lời bình của tác phẩm truyền hình như một yếu tố quan trọng làm
nên chất lượng của sản phẩm truyền hình.
Ngoài ra, một số luận văn thạc sĩ trong nước cũng có đề cập đến ngôn ngữ
truyền hình như Ngôn ngữ truyền hình trong bản tin thời sự lúc 19h00 (2004) của Mai
Thị Minh Thảo, Tìm hiểu những dạng lỗi thường gặp về ngôn ngữ trong chương trình
thời sự của truyền hình Hà Nội (2004) của Vũ Thị Kim Dung…
Nhìn chung, các công trình đã được xuất bản nêu trên mới chỉ tiếp cận ngôn
ngữ truyền hình ở những khía cạnh đơn lẽ, chưa có tính hệ thống và chưa khái quát
thành vấn đề lý luận ngôn ngữ truyền hình thống nhất. Khắc phục những thiếu sót trên,
Luận văn Ngôn ngữ truyền hình Việt Nam-những vấn đề và thảo luận sẽ lần lượt nêu
và đi đến giải quyết thấu đáo các vấn đề về ngôn ngữ truyền hình Việt Nam, đồng thời
khái quát những vấn đề đó thành lý thuyết có tính lý luận về ngôn ngữ truyền hình ở
Việt Nam. Ngoài ra, Luận văn cũng nêu ra những vấn đề đang còn gây tranh cãi, thảo
luận và đi đến những kết luận hợp lý bổ sung cho lý luận báo truyền hình hiện nay ở
Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn khảo sát các yếu tố ngôn ngữ ở truyền hình Việt Nam những năm
gần đây gồm ngôn ngữ âm thanh và ngôn ngữ hình ảnh thông qua các tin, bài truyền
hình từ 5/2009 cho đến khi thực hiện viết luận văn. Các đài truyền hình mà luận văn
chọn để nghiên cứu khảo sát là Đài Truyền hình Việt Nam (VTV), đại diện cho truyền
Phương pháp định tính bước đầu giúp chúng tôi đi đến những kết luận về những vấn
đề của ngôn ngữ truyền hình Việt Nam.
Về lý luận, chúng tôi theo sát lý luận báo chí hiện nay bao gồm các vấn đề tư
tưởng, lý luận của Đảng, Nhà nước về báo chí, về chức năng nhiệm vụ của các loại
hình báo chí và về chức năng, nhiệm vụ, đặc trưng của loại hình truyền hình nói chung
và truyền hình Việt Nam nói riêng.
6. Kết cấu Luận văn
Ngoài Phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về ngôn ngữ truyền hình
Chương 2: Những vấn đề về ngôn ngữ truyền hình Việt Nam
Chương 3: Thảo luận về ngôn ngữ truyền hình Việt Nam và hướng giải quyết
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ngôn ngữ truyền hình trên truyền hình
Việt Nam 13
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÔN NGỮ TRUYỀN HÌNH
1.1. Các quan niệm về ngôn ngữ truyền hình
Truyền hình là một trong những loại hình báo chí sử dụng phức hợp ngôn ngữ
của nhiều loại phương tiện truyền thông và nghệ thuật khác nhau, ngôn ngữ truyền
thông đa phương tiện (Multimedia).Vì thế rất nhiều ý kiến cho rằng, ngôn ngữ truyền
hình là “ngôn ngữ của hình ảnh và âm thanh tổng hòa tất cả những loại ngôn ngữ khác:
hội họa, âm nhạc, sân khấu…”[59, 23]
G.V. Cudơnhetxốp trong Báo truyền hình (tập 1) thì khẳng định, truyền hình và
điện ảnh là có cùng ngôn ngữ, ông nói: “Truyền hình và Điện ảnh là những phương
tiện thể hiện bằng màn ảnh và về cơ bản có ngôn ngữ chung. Cần xác định chí ít là
những nét chung-nội dung của khái niệm “ngôn ngữ màn ảnh”[60, 165]
Khiếu Quang Bảo trong bài viết “Ngôn ngữ truyền hình” thì quan niệm: “Ngôn
của loại hình, như hai mặt của một tờ giấy, nhằm tạo nên một tác phẩm hoàn chỉnh
mang một nội dung thông tin nhất định”.
1.2. Đặc trưng ngôn ngữ truyền hình
1.2.1. Sự thống nhất biện chứng giữa hình ảnh, âm thanh và văn bản
Trong đó, hình ảnh và âm thanh là hai yếu tố quan trọng nhất, văn bản bổ sung
cho hình ảnh, âm thanh và được sử dụng với mức độ vừa phải.
Mặc dù mỗi yếu tố có tính độc lập riêng, song không thể tách rời các yếu tố này
trong các sản phẩm của truyền hình. Việc thiếu đi một trong các yếu tố trên, tác phẩm
sẽ không còn là tác phẩm truyền hình nữa.
Các yếu tố ngôn ngữ của truyền hình kết hợp với nhau chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau
và bỗ trợ thông tin cho nhau. Hình ảnh giải quyết những vấn đề trực quan, âm thanh
giải quyết các vấn đề trừu tượng. Một tin, bài truyền hình nếu không có sự kết hợp hài
hài giữa các yếu tố này sẽ rất khó chuyển tải thông tin đến công chúng.
1.2.2. Tính khái quát cao
Hình ảnh và âm thanh mà công chúng nhìn thấy và nghe thấy là thứ hình ảnh,
âm thanh tuyến tính có tính khái quát. Truyền hình không có nhiều thời gian cho phép
các nhà báo kể một câu chuyện giống như những người rỗi rãnh tán gẫu. Do vậy,
những hình ảnh và âm thanh phải được lựa chọn ký lưỡng. Thứ hình ảnh và âm thanh
ấy phải mang trong mình những sự kiện, những thông tin nhất định. Truyền hình
không tường thuật câu chuyện với thời gian một ngày đúng 12 tiếng đồng hồ.Nhưng
bằng một vài hình ảnh và âm thanh, khán thính giả sẽ có thể lĩnh hội được sự kiện đó
15
trong thời gian xảy ra đúng 12 giờ. Nghĩa là ở đây đã có sự khái quát hóa hình ảnh và
âm thanh.
Khả năng khái quát của hình ảnh và âm thanh truyền hình tùy thuộc năng lực
lựa chọn hình ảnh và âm thanh của người làm truyền hình. Cùng một sự kiện xảy ra,
nhà báo với vô số cách lựa chọn trong việc ghi lại hình ảnh và âm thanh nhưng chọn
hình ảnh nào và âm thanh ra sao để càng ngắn, cang ít mà vẫn kể được một câu chuyện
thì ấy là vấn đề lớn.
1.2.5. Ngắn gọn, súc tích, tiết kiệm
Trong truyền hình, khán thính giả chỉ nhận được những thông tin cốt lõi.Vì vậy,
ngôn ngữ thể hiện luôn cô đọng, súc tích kể cả khi không eo hẹp về thời gian và thời
lượng phát sóng. Truyền hình không có những lời nói dông dài, không có những cỡ
cảnh thiếu chi tiết. Thay vào đó là những từ ngữ đã được mài dũa gọn gẽ, những cảnh
quay khúc chiết mang thông tin cao.
Những người truyền hình không phí phạm từ ngữ, hình ảnh ngay cả trong Phim
tài liệu, Phim phóng sự dài, nơi có điều kiện để đi vào chiều sâu, len lỏi vào "ngõ
ngách" của câu chuyện. “Giống như những người quá trọng lượng, các biên tập viên
truyền hình cũng cần thực hiện nghiêm ngặt "chế độ ăn kiêng" đối với tin, bài của
mình” [38, 153].
Khán giả truyền hình không giống bạn đọc của báo in. Họ không có điều kiện
đọc lại những đoạn khó mà phải hiểu ngay những gì họ nghe thấy. Vì vậy, mỗi từ
không cần thiết trong tin bài sẽ cản trở họ lĩnh hội nội dung. "Chỉ khi nào bạn đã hiểu
những gì vừa nghe thấy thì bạn mới sẵn sàng đón nhận thông tin mới" (James Bamber,
PV đài PT Canada, SRC) [ dẫn theo 38, 155].
1.2.6. Sáng rõ, dễ hiểu
Khác với bạn đọc của báo in, khán thính giả truyền hình không thể quay trở lại
những gì đã xem. Họ chỉ được nhìn thấy hoặc nghe thấy một lần, và sự chú ý của họ
lúc tăng lúc giảm. Như vậy, thông điệp mà người làm truyền hình gửi đến người xem
phải thông qua ngôn ngữ rõ ràng, dễ hiểu và chính xác. Tất cả những nỗ lực của việc
xây dựng nên một phong cách độc đáo cũng trở nên vô nghĩa nếu ngôn ngữ của tin, bài
không sáng rõ và không hiểu được. Nếu không có điều kiện để tinh lọc các hình ảnh và
âm thanh thì tốt nhất không xây dựng nên các tin, bài, không nên lấp đầy thời gian
phát sóng bằng những câu chữ, hình ảnh rối rắm, nội dung bị che đậy đâu đó trong
"bụi rậm" của ngôn từ và hình ảnh.
Trong tác phẩm Viết tin cho truyền hình, Edward Bliss và James L. Hoyt đưa ra
lời khuyên sau: "Viết tin cho truyền hình có mục đích rõ ràng. Đó là nắm bắt các thành
phần cơ bản của một câu chuyện và giải thích chúng bằng ngôn ngữ đơn giản và dễ
hiểu với người xem."[ dẫn theo 38, 155]
ý nghĩa xã hội được ghi lại một cách đầy đủ, xác thực nhằm phản ánh một hoặc một số
vấn đề nào đó.
Ưu điểm lớn nhất của truyền hình là hình ảnh động. Không một loại hình báo
chí nào có thể có thế mạnh như truyền hình. Những hình ảnh sinh động, hấp dẫn diễn
tả trực quan các sự kiện hiện tượng đem đến cho công chúng những thông tin nóng
18
hổi, thời sự. Mọi mặt của cuộc sống với sự sinh động của nó đã được truyền hình đưa
lên màn ảnh, giúp cho những người đứng trước màn ảnh được chứng kiến như thật
cuộc sống hàng ngày đang diễn ra. Một sự kiện diễn ra trong đời sống, có thể có nhiều
cách để phản ánh và diễn đạt. Riêng với truyền hình, công chúng sẽ được tận mắt
chứng kiến những sự kiện hiện tượng đó.
Độ tin cậy là điều quan trọng nhất đối với các phương tiện thông tin đại chúng.
Có thể bằng những cách khác nhau, mỗi loại hình báo chí có những phương pháp để
tạo tin cậy, song với truyền hình, phương pháp cơ bản của nó là ghi lại sự thật bằng
hình ảnh và phát trực tiếp cho công chúng. Hẳn nhiên, không phải bất cứ những hình
ảnh động nào đều có thể lên truyền hình. Những hình ảnh diễn tả những cảm xúc,
hành động chân thật, có ý nghĩa…mới là hình ảnh được truyền hình phản ánh.
1.3.1.2.Hình ảnh tĩnh
Truyền hình còn sử dụng một số hình ảnh tĩnh như biểu đồ, bản vẻ, các mô
hình, các hình ảnh sử dụng chương trình đồ hoạ, các ảnh tư liệu, ảnh chân dung, các
văn bản chữ viết hoặc các khuôn hình tĩnh được dựng bởi kỹ thuật Mongtage để nhấn
mạnh một vấn đề nào đó. Hình ảnh tĩnh giúp cho nội dung phản ánh của truyền hình
hoàn thiện hơn. Những sự kiện, hiện tượng của quá khứ khi không được ghi lại bằng
các kỹ thuật ghi hình hiện đại như ngày nay, chúng chỉ được được ghi lại qua các
phương tiện thô sơ như máy ảnh, ký họa là những tư liệu quí giá. Truyền hình muốn
chuyển tải những thông tin có tính lịch sử ấy chắc chắn phải sử dụng những hình ảnh
tĩnh.
Trong những trường hợp nhất định khi cần phải bày tỏ một vấn đề hay một cảm
xúc nào đó, những khuôn hình tĩnh sẽ được lựa chọn. Một cụ già, chờ chồng và đứa
đọc 1tin) và đối thoại (sự trao đổi từ 2 nguời trở lên, thường xuất hiện trong phỏng
vấn).
Trong rất nhiều trường hợp, hình ảnh không thể lí giải được toàn bộ thông tin
mà nó đang mang, lắm lúc hình ảnh là những mật mã khó giải đối với công chúng,
chưa kể một số hình ảnh có tính trừu tượng, lời nói có thể giải quyết các khó khăn này.
Đặc biệt đối với những thể loại cần lời bình như Phóng sự, Phim tài liệu lời nói là hết
sức quan trọng. Nó giúp tạo lập nên mối quan hệ giữa hình ảnh và công chúng, hướng
dẫn và giải thích hình ảnh cho công chúng hiểu một cách chính xác thông tin. Bên
cạnh đó, thái độ, giọng điệu của người đọc cũng có ảnh hưởng rất lớn trong việc
thuyết phục người xem với những hình ảnh diễn ra trên màn hình. Vì thế, muốn phát
huy hết sức mạnh của lời nói cần có một giọng điệu cô đọng rõ ràng nhất quán, người
thực hiện phải thông qua một ngữ điệu phù hợp với từ chủ đề, đề tài và thể loại.
Lời nói có vai trò quan trọng đối với thông tin truyền hình, song trên thực tế đã
có rất nhiều trường hợp cực đoan hoặc là hạ thấp giá trị của lời nói hoặc là đề cao quá
20
đáng vai trò của yếu tố này. Chính vì không đánh giá đúng chừng mực của lời nói mà
truyền hình đôi khi quá thiếu lời hoặc thừa lời.
Không phải ngẫu nhiên khi người ta chọn những phóng viên, phát thanh viên
hay biên tập viên vào các phương thức độc thoại hay đối thoại. Mỗi giọng nói, cách
nói đều phù hợp với phương thức này hay phương thức kia. Vì vậy, phương thức độc
thoại hay đối thoại có vai trò quan trọng trong việc chuyển tải thông tin.
1.3.2.2. Âm nhạc
+ Xét về phương thức thể hiện: Nhạc có lời và nhạc không lời.
- Nhạc có lời hay nhạc có ca từ. Đó là những ca khúc có sự thể hiện bằng giọng
của ca sĩ. Những ca khúc này thường được sử dụng trong các chương trình Games
show. Chúng có thể là một chương trình độc lập gồm nhiều ca khúc như chương trình
ca nhạc, có thể được xen trong các chương trình khác như trò chơi truyền hình hay chỉ
là một đoạn nhạc nhỏ trong các tác phẩm truyền hình nhằm một mục đích nhất định
nào đó. Những ca khúc có thể mang nội dung thông tin hoặc cũng có thể để tạo cảm
Đối với nội dung và hình ảnh trong chương trình, âm nhạc đưa đến độ “mềm”
cho hình ảnh, tạo độ lắng cho lời bình và chiều sâu nội dung, giúp giảm âm thanh giả
và lời bình chủ quan của tác giả. Âm nhạc xuất hiện đúng lúc sẽ làm cho hình ảnh
sống động tạo điều kiện cho sự luân chuyển liên tục giữa các cảnh, giúp khắc hoạ được
chiều sâu của nội dung. Sự xuất hiện âm nhạc trong hình ảnh sẽ tạo được tâm lí nhân
vật rõ nét khiến cho nhân vật có trạng thái tinh thần nhất định: vui, buồn, hồi hộp lo
âu, sầu lắng
1.3.2.3. Tiếng động
+ Tiếng động hiện trường: ghi lại từ hiện tượng khách quan ngoài cuộc sống.
Tiếng động này khiến người xem luôn tin tưởng về những sự kiện đang diễn ra trên
màn hình. Tiếng động hiện trường là yếu tố có tính quyết định đến độ tin cậy của sản
phẩm truyền hình. Có rất nhiều cách ghi lại tiếng động hiện trường. Ghi trực tiếp cùng
hình ảnh hoặc ghi riêng sau đó hoà trộn sau.
Trong một số trường hợp nếu không có tiếng động hiện trường xem như tác
phẩm báo hình đó không có giá trị gì về nội dung. Một bản tin, một phóng sự nói về
các tác hại của tiếng ồn do nhà máy gây ra cho công chúng mà không ghi lại được
tiếng động hiện trường thì coi như không. Diễn tả một không khí sôi nổi của phong
trào sinh viên tình nguyện đi giúp dân ở vùng sâu hay không khí ăn mừng chiến thắng
của đội bóng thắng cuộc mà không nghe được tiếng reo hò thì đó không còn là sản
phẩm của truyền hình.
+ Tiếng động kỹ thuật: Được tạo ra từ bàn dựng kỹ thuật. Nó tái hiện lại tiếng
động hiện trường hoặc tạo sự sinh động cho hình ảnh.
Trong những trường hợp khi không ghi lại được những tiếng động của hiện
trường, buộc người ta phải sử dụng tiếng động nhân tạo. Bộ phim Trở lại Ngư Thuỷ,
22
phim tài liệu nổi tiếng của cố đạo diễn Lê Mạnh Thích đã từng sử dụng hầu như toàn
bộ tiếng động kỹ thuật. Những cơn gió lào thổi vào những hàng dương vun vút, những
tiếng sóng vỗ rì rào, tiếng bom đạn Song, tiếng động này cho thấy hiệu quả của nó là
rất lớn bởi người xem không thể phát hiện được đó là tiếng động giả.
23
Chương 2
NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ NGÔN NGỮ TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM
2.1. Giọng nói trên truyền hình Việt Nam
Một trong những nhiệm vụ khó khăn nhất đối với những BTV, PTV, MC trên
truyền hình là đọc văn bản do người khác viết một cách ấn tượng và chuẩn mực. Trách
nhiệm của họ là làm sao phải trình bày ý tưởng một cách xác thực cho người nghe
bằng một giọng chuẩn. Người nói trên sóng truyền hình không đơn thuần chỉ “phát
thanh” lại nội dung thông tin mà còn phải biết cách thu hút khán giả bằng chính giọng
nói và nghệ thuật nói của mình.
Thông tin bằng ngôn ngữ nói có thể có hiệu quả kém khi người nói không thể
trình bày một cách thuyết phục và rõ ràng nội dung thông điệp. Thông tin truyền
miệng tốt chỉ có được khi người nghe hoặc người xem nhận được đúng ý nghĩa, đúng
sự thật và có ấn tượng trong cách nói của người nói. Nền tảng đối với vấn đề trình bày
trên sóng là giọng nói. Đó là thứ giọng nói chuẩn của quốc gia khi nói trên đài truyền
hình quốc gia và giọng nói chuẩn địa phương khi nói trên truyền hình của một địa
phương.
2.1.1. Giọng trên đài truyền hình quốc gia (VTV)
Ở nhiều nước, tiếng thủ đô vẫn được xem là tiếng chuẩn cho ngôn ngữ quốc
gia. Tiếng Pa-ri cho nước Pháp, Mát-xcơ-va cho Nga, Ma-rít cho Tây Ban Nha…và tất
nhiên với Việt Nam, giọng chuẩn là giọng phát âm của người Hà Nội gốc (
2
). Bởi vì,
nói như PGS.TS. Vũ Quang Hào: “đó là tiếng nói phát triển hơn tiếng nói của mọi
vùng đất nước là kết quả hội tụ của những gì chung nhất, tinh hoa nhất của tiếng nói
các vùng, vừa là tiếng nói cổ nhất, vừa là ngôn ngữ phát triển nhất, của bốn phương tụ
lại. Nó là tiếng phổ thông của dân tộc, là ngôn ngữ được coi là chuẩn mực ” [18, 1-3].
Và vì vậy “nếu các phương tiện truyền thông đại chúng không tôn trọng chuẩn mực
tiếng Việt mà tiêu biểu là tiếng Hà Nội thì hiệu quả truyền thông kém” [18, 1-3].
Có lẽ hơn ai hết, những người làm truyền hình nhất là Đài truyền hình Việt