ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÙI THỊ THU THỦY THÔNG TIN SỨC KHỎE
TRÊN BÁO CHÍ VIỆT NAM HIỆN NAY:
VẤN ĐỀ VÀ THẢO LUẬN LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60.32.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Vũ Quang Hào
Hà Nội, 2010
1
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1. Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài 3
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài 4
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 5
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài 5
5. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài 6
3.1.1. Những ưu điểm nổi bật 77
3.1.2 Một số hạn chế của báo Sức khỏe và Đời sống và kênh O2 Tivi 82
3.2. Hướng nâng cao hiệu quả trong công tác thông tin sức khỏe bằng kênh
chuyên biệt. 83
3.2.1. Những mục tiêu chung 84
3.2.2. Những giải pháp chung 87
3.2.3. Kiến nghị đối với riêng báo Sức khỏe và Đời sống và kênh O2 Tivi . . 92
PHẦN KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài
Trong Tuyên ngôn Alm Alta, 1978, Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã
định nghĩa: “ Sức khoẻ là một tình trạng thoải mái hoàn toàn về thể chất, tinh
thần và xã hội, chứ không phải chỉ là một tình trạng không có bệnh tật hay
thương tật”. Theo định nghĩa này thì sức khoẻ không phải chỉ là tình trạng
không có bệnh tật mà còn là tình trạng thoải mái về tinh thần. Chúng ta có thể
hiểu rằng đây là định nghĩa nói đến sức khoẻ của những con người cụ thể,
trong một giai đoạn lịch sử cụ thể.
Công tác chăm sóc sức khoẻ là một trong những “ quốc sách hàng đầu”
- điều này không chỉ được thừa nhận về mặt chủ trương, chính sách của Đảng,
Nhà nước mà đã biểu hiện cụ thể qua thái độ quan tâm sâu sắc của xã hội
cũng như chính thực tiễn sôi động những năm gần đây, khi mà người dân
ngày càng quan tâm đến sức khoẻ của chính mình.
Việc nâng cao nhận thức, giúp người dân có được cách hiểu đúng đắn
về sức khoẻ, cung cấp những tri thức khoa học về chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ,
quan tâm trong thời gian khoảng 10 năm trở lại đây:
- Đề tài “Báo cáo kết quả điều tra y tế Quốc gia 2001 – 2002” của Bộ Y
tế. Nội dung: Khảo sát, điểu tra và đánh giá chất lượng sức khỏe nhân dân
trong 2 năm 2001 – 2002. Mục đích của đề tài nhằm nắm bắt thực trạng tình
hình sức khỏe nói chung và kết quả của một số hoạt động y tế trong lĩnh vực
dự phòng nâng cao sức khỏe, nhưng không đề cập tới loại hình báo chí.
- Đề tài “Tuyên truyền giáo dục sức khỏe trên các phương tiện thông
tin đại chúng”. Luận văn tốt nghiệp cao học của học viên Đỗ Võ Tuấn Dũng
(khóa 7- cao học Báo chí –Phân viện Báo chí và Tuyên truyền). Đề tài cũng
đề cập đến thông tin sức khỏe nhưng chỉ dừng lại ở mức độ khái quát về tình
5
hình thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục sức khỏe trên các phương tiện
truyền thông đại chúng.
-“Những bài học từ KHHGĐ và sức khỏe sinh sản”. Tác giả Phyllis
Tilson Piotrow và Trung tâm truyền thông GDSK, Bộ Y tế. Đây là cuốn sách
nghiên cứu chuyên ngành xuất bản nội bộ, dành riêng cho cán bộ y tế có nội
dung đề cập tới những đánh giá, tổng kết về hoạt động chăm sóc sức khỏe
sinh sản trong đó có nói tới vấn đề tuyên truyền giáo dục sức khỏe sinh sản
- Báo Sức khoẻ và đời sống với công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân
của Bùi Thị Hạnh ( Khoá luận tốt nghiệp Khoa báo chí và truyền thông –
Trường ĐHKHXH và NV K42)
- Báo chí với chủ đề chăm sóc sức khoẻ sinh sản của Trần Xuân Thân (
Khoá luận tốt nghiệp Khoa báo chí và truyền thông – Trường ĐHKHXH và
NV K43)
- Đề tài “ Vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm trên báo chí hiện nay”.
Luận văn tốt nghiệp cao học năm 2008 của học viên Chu Thúy Ngà – Phân
viện Báo chí và Tuyên truyền).
Chính vì vậy, đề tài: “Thông tin sức khoẻ trên báo chí Việt Nam hiện
nay” vẫn là một vấn đề hết sức hữu ích đối với nhà báo- những người hoạt
về tình hình thông tin sức khoẻ trên báo chí hiện nay, từ đó đề xuất một số
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả truyền thông.
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là nguồn tư liệu tham khảo chính xác,
có hệ thống, đầy đủ cho những nhà báo đang hoạt động trên lĩnh vực thông tin
nói chung và thông tin sức khoẻ nói riêng thông qua các kênh chuyên biệt như
O
2
TV, Báo Sức khỏe và Đời sống… đồng thời là nguồn tài liệu tham khảo cho
những nhà hoạch định chính sách của ngành Y tế và góp phần làm cho chất
7
lượng các sản phẩm báo chí ngày càng được nâng cao, phục vụ tốt hơn nhu
cầu của công chúng.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, luận văn có
nội dung chính gồm 3 chương;
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về thông tin sức khỏe
Chương 2: Vấn đề thông tin sức khỏe trên báo chí Việt Nam hiện
nay
Chương 3: Tính vấn đề cần thảo luận để nâng cao hiệu quả thông
tin sức khỏe.
Sức khỏe có vai trò rất quan trọng đối với con người và xã hội, sức
khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội. Điều này được
thể hiện trong nhiều văn bản được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khóa VIII kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 30/06/1989 ghi rõ: “Sức
khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người, là một trong những điều kiện cơ bản
để con người sống hạnh phúc, là mục tiêu và là nhân tố quan trọng trong việc
phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và bảo vệ Tổ Quốc” [25, tr9]
Nghị quyết số 46 -NQ/TW ngày 23/02/1995 của Bộ Chính trị (khóa IX)
về công tác bảo vệ cuộc sống và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình
mới, tiếp tục khẳng định: “ Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và
của toàn xã hội. Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là hoạt
động nhân đạo trực tiếp đảm bảo nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ Quốc, là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng và
Nhà nước” [2, tr9]
Ngạn ngữ Pháp có câu: “ Người có sức khỏe tốt là người giàu mà
không biết mình giàu có. Nếu ai không may ốm đau hoặc mắc bệnh hiểm
nghèo thì từ người giàu có thể trở thành nghèo, từ nghèo trở thành túng quẫn
hơn do phải chi phí cho khám chữa bệnh.”
Theo số liệu điều tra mức sống dân cư của Tổng cục Thống kê năm
2007 cho thấy ở Việt Nam tỷ lệ hộ gia đình bị rơi vào thảm cảnh do phải chi
phí khám chữa bệnh (chỉ số Cata- Catastrophic Health Distribution là chỉ số y
tế thảm họa) dao động từ 5,8% năm 1998 lên đến 8,2% năm 2004, khoảng 5%
hộ gia đình rơi vào tình trạng nghèo do chi tiêu y tế (chỉ số Impoor- Health
Impoor ishvement là chỉ số nghèo hóa do y tế)
Sức khỏe làm cho con người sống thoải mái, sảng khoái và hạnh phúc.
Đồng thời, sức khỏe góp phần sáng tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần tốt
cho bản thân con người và cho xã hội. Văn kiện Đại hội lần thứ VII của Đảng
10
Cộng Sản Việt Nam đã khẳng định: “ Sự cường tráng về thể chất là nhu cầu
thì vẫn là người không có sức khỏe…Sức khỏe tâm thần thường không thể
đánh giá được bằng các biện pháp y tế thông thường ( đo, đếm, xét nghiệm…)
mà phải được đánh giá qua các phương pháp thăm khám chuyên ngành tâm lý
học hoặc tâm thần học.
Sức khỏe xã hội được đánh giá ở một phạm vi rộng hơn, không chỉ đơn
thuần là tình trạng sức khỏe thể chất hay sức khỏe tâm thần mà còn có sự liên
tưởng tới một không gian rộng lớn hơn nằm trong một môi trường tự nhiên và
xã hội mà người đó đang sống. Ví dụ: Một người sẽ không được coi là khỏe
mạnh khi bị thất nghiệp, bị nghèo đói. Một người cũng không được xem là
khỏe mạnh khi phải sống trong một môi trường xã hội thiếu lành mạnh (sống
chung với các tệ nạn xã hội: ma túy, mại dâm…) hoặc trong một môi trường
thiên nhiên không đảm bảo (vệ sinh môi trường kém, ô nhiễm không khí,
nước…). Một người cũng không được xem là khỏe mạnh khi sống trong điều
kiện thiếu thốn các điều kiện sống tối thiểu (theo phân loại đói nghèo của
UNDP thì người không đảm bảo điều kiện sống tối thiểu).
Dưới góc độ triết học, sức khỏe là một thuộc tính của sự sống. Sống là
phương thức tồn tại của những thể protit thông qua quá trình trao đổi chất.
Mọi sinh vật sinh ra, tồn tại và phát triển đều cần có quá trình trao đổi chất,
quá trình đó chính là sức khỏe. Sức khỏe gắn liền với sự sống. Vì vậy, sức
khỏe là một thuộc tính của sự sống và sức khỏe con người là thuộc tính của sự
sốn loài người. Vấn đề đặt ra là sức khỏe tồn tại ở trạng thái nào, mức độ nào,
cần tác động gì để có sức khỏe tốt.
Trong quan niệm của triết học phương Đông thì sức khỏe là một thực
thể bao gồm nhiều yếu tố tồn tại trong một trạng thái cân bằng động (con
người luôn hòa đồng với vũ trụ và sức khỏe của con người là biểu hiện của sự
12
cân bằng giữa âm và dương). Còn theo quan niệm của triết học phương Tây
thì cơ thể con người được cấu tạo bởi tế bào và mô. Tế bào là đơn vị cấu trúc
cơ bản nhỏ nhất của cơ thể và cơ thể con người được điều hòa bởi hệ thần
XHCN. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa
VII đã nêu rõ quan điểm này: “Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người
và của toàn xã hội, là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc. Vì vậy chúng ta phấn đấu để mọi người đều được quan tâm chăm
sóc sức khỏe”.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã xác định rõ mối liên hệ
mật thiết giữa vai trò của cá nhân và vai trò của cộng đồng, trong đó có vai trò
của quản lý Nhà nước trong chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân.
Mối liên hệ này đã một lần nữa được nhắc lại trong Nghị quyết 46, Bộ chính
trị (Ban chấp hành TƯ khóa IX) về chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe
nhân dân trong tình hình mới.
Trách nhiệm chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân cũng đã
được cụ thể hóa thông qua 5 quan điểm chỉ đạo nhất quán (Nghị quyết số
27/CP về định hướng chiến lược công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức
khỏe)
Một là: Con người là nguồn tài nguyên quý báu nhất quyết đinh sự phát
triển của đất nước, trong đó sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và
của toàn xã hội, cũng là một trong những niềm hạnh phúc lớn nhất của mỗi
người, mỗi gia đình. Vì vậy đầu tư cho sức khỏe để mọi người đều được chăm
sóc sức khỏe chính là đầu tư cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước,
nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân, mỗi gia đình.
14
Hai là: Bản chất nhân đạo và định hướng xã hội chủ nghĩa của hoạt
động y tế đòi hỏi sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe. Thực hiện sự công
bằng là bảo đảm cho mọi người dân đều được chăm sóc sức khỏe, phù hợp
với khả năng kinh tế xã hội, đồng thời Nhà nước có chính sách khám chữa
bệnh miễn phí và giảm phí đối với người có công với nước, người nghèo,
người sống ở các vùng có nhiều khó khăn và đông bào dân tộc thiểu số.
Ba là: Dự phòng tích cực và chủ động là quan điểm xuyên suốt quá
con người muốn phát triển tài năng thì phải có sức khỏe, muốn vậy phải có đủ
dinh dưỡng; con người phải được sống trong môi trường trong sạch; cả về
môi trường tự nhiên và xã hội; con người phải có việc làm; con người phải
được giải phóng. Chính xuất phát từ chiến lược con người trong phát triển
nguồn nhân lực mà chúng ta càng thấy vai trò quan trọng của sức khỏe và
công tác chăm sóc sức khỏe.
Hệ thống phương tiện truyền thông đại chúng mà đặc biệt là các loại
hình báo chí đã góp phần to lớn trong việc phát triển kinh tế, xã hội của đất
nước ta. Thực tế chứng minh đối với vấn đề liên quan đến sức khỏe : con
người muốn biết nhiều hơn về sức khỏe của mình; Con người muốn trao đổi
nhiều hơn về sức khỏe với bạn bè và gia đình; Muốn có thông tin về sức khỏe
qua các phương tiện thông tin đại chúng; Con người sẵn sàng chuyển đổi
hành vi đối với sức khỏe của họ.
Qua báo chí người dân thu nhận được thông tin về đường lối, chính
sách về y tế của Nhà nước và cũng qua báo chí người dân có thông tin phản
hồi đến các nhà quản lý hoạch định chính sách. Ví dụ, với chủ trương tăng
viện phí của ngành Y tế, báo chí cũng đã phản ánh thông tin nhiều chiều từ ý
kiến của các cấp lãnh đạo đến tâm tư nguyện vọng của người dân hay vấn
đề tăng giá thuốc, luật bảo hiểm xã hội Các bài báo, các tác phẩm phát
16
thanh, truyền hình đã đưa thông tin, phân tích nguyên nhân, đề ra giải pháp
cho một số vấn đề vướng mắc. Trên báo chí cũng luôn cập nhật, đang tải
những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực y tế trong nước cũng như trên
thế giới. Ngày nay, những thách thức về sức khỏe của thế kỷ XXI là vô cùng
to lớn. Từ HIV/AIDS, ô nhiễm môi trường, những dịch bệnh mới đang đe dọa
sức khỏe của con người. Những thách thức này vượt biên giới quốc gia. Việc
đối mặt với những thách thức này đòi hỏi cả quyết tâm chính trị và sự hiểu
biết chuyên môn, đặc biệt cần phải tuyên truyền để tất cả mọi người cùng hợp
sức phòng chống bệnh tật cho bản thân, cho cộng đồng và cho toàn xã hội.
Có thể nhận thấy phạm trù sức khỏe nhấn mạnh đến 3 lĩnh vực của sức
khỏe là:
1. Kiến thức của con người về sức khỏe
2. Thái độ của con người về sức khỏe
3. Thực hành của con người về sức khỏe
Cũng từ định nghĩa trên cho thấy thông tin sức khỏe là một quá trình
nên cần tiến hành thường xuyên, liên tục, lâu dài bằng nhiều biện pháp khác
nhau. Vì vậy, để thực hiện công tác thông tin sức khỏe cần có sự đầu tư thích
đáng, kiên trì thì mới đem lại hiệu quả cao.
Thông tin sức khỏe không chỉ là cung cấp thông tin một chiều mà là
quá trình tác động qua lại hai chiều và hợp tác giữa người thông tin sức khỏe
và đối tượng được tiếp nhận thông tin sức khỏe. Ở đây vai trò của thông tin
sức khỏe là tạo những hoàn cảnh thuận lợi cho mọi người tự giáo dục mình.
Biến quá trình thông tin thành quá trình tự học, quá trình đó diễn ra thông qua
sự nỗ lực của người học với sự giúp đỡ, tạo ra hoàn cảnh thuận lợi của người
cung cấp thông tin
18
Người làm công tác thông tin sức khỏe không chỉ cung cấp cho công
chúng của mình thông tin mà còn thu nhận thông tin phản hồi để kịp thời điều
chỉnh bổ sung những thông tin thiếu sót làm cho các chương trình thông tin
sức khỏe thêm sinh động và thu hút sự quan tâm của cộng đồng.
Thông tin sức khỏe không chỉ là cung cấp các thông tin chính xác , đầy
đủ về sức khỏe bệnh tật mà còn nhấn mạnh đến các yếu tố khác ảnh hưởng
đến hành vi sức khỏe con người như là: nguồn lực hiện có, sự lãnh đạo của
cộng đồng, hỗ trợ xã hội, kỹ năng tự chăm sóc sức khỏe.
Qua kết quả khảo sát về thực trạng công tác truyền thông giáo dục sức
khỏe trên toàn quốc của Trung tâm Truyền thông Giáo dục sức khỏe cho thấy:
thông tin sức khỏe đến được với người dân chủ yếu là thông qua cán bộ y tế
chiếm 92,3%, hệ thống phương tiện truyền thông đại chúng (Đài phát thanh
Hai học giả người Nga là Sokolova và Liyabev cho rằng kênh truyền
thông chuyên biệt là một hệ thống phân tán có khả năng lưu trữ và tận dụng
hiệu quả các loại thông tin khác nhau, giúp người dùng có thể truy cập và
được chuyển giao thông tin dễ dàng [49].
Nhiều học giả Trung Quốc lại có cùng quan điểm rằng "kênh truyền
thông chuyên biệt trên thực tế không phải là một thư viện ở góc độ mở rộng
không gian của nó; thay vào đó nó là trung tâm tài nguyên thông tin chứa
đựng tài nguyên thông tin đa phương tiện. Một kênh truyền thông chuyên biệt
tồn tại bằng việc số hóa thông tin, chẳng hạn như văn bản, ký tự, chữ viết,
hình ảnh, video và âm thanh, đồng thời cung cấp cho người dùng các dịch vụ
thông tin nhanh chóng và thuận tiện thông qua phương tiện truyền thông,
nhằm chuyển giao một hệ thống thông tin mà trong đó việc chia sẻ nguồn tài
nguyên luôn sẵn sàng"[50].
20
Mặc dù có sự khác nhau về lý giải trong nhiều định nghĩa, nhưng
những định nghĩa này lại tương tự nhau về mặt bản chất. Vì vậy, từ những
định nghĩa trên có thể rút ra những đặc điểm cơ bản của kênh truyền thông
chuyên biệt như sau:
o Khả năng cung cấp khối lượng lớn tài nguyên thông tin khác nhau;
o Khả năng chuyển giao tài nguyên thông tin bằng nhiều phương tiện
khác nhau;
o Khả năng chuyển giao tài nguyên thông tin quan trọng;
o Khả năng quản lý tài nguyên thông tin phân tán;
o Khả năng chia sẻ thông tin ở cấp độ chuyên biệt cao;
o Có công nghệ tìm kiếm và truy xuất thông minh;
o Cung cấp dịch vụ thông tin không giới hạn thời gian và không gian.
Báo chí Việt Nam hiện nay đã có khá nhiều kênh truyền thông chuyên
biệt như Báo Sức khoẻ và Đời sống, Kênh truyền hình O2TV, Chương trình
Cửa sổ tình yêu của Đài Tiếng nói Việt Nam, Báo Dân tộc và Đời sống, kênh
Bên cạnh đó, các chương trình như: siêu thị ô tô xe máy, siêu thị nhà
đất… lại đem đến cho người xem nhiều thông tin bổ ích về thị trường, mở ra
nhều lựa chọn cho khán giả.
Với mục đích đem lại sự giản tiện cho người dân và các nhà đầu tư,
chương trình Siêu thị nhà đất đã ra đời và trở thành một phương tiện giao dịch
bất động sản quen thuộc với khán giả. Thông tin bất động sản được hỗ trợ một
cách cụ thể bằng minh hoạ hình ảnh chi tiết về từng góc ngôi nhà. Chỉ qua
22
màn hình ti vi khán giả đã có những thông tin cần thiết về giá cả, địa chỉ và số
điện thoại liên hệ mà không cần tốn nhiều thời gian đi tìm hiểu.
InfoTV liên tục hoàn thiện và phát triển thêm nhiều chương trình mới,
chuyên sâu phân tích. Luôn đổi mới hình thức thể hiện, đội ngũ biên tập viên
năng động và am hiểu lĩnh vực kinh tế tài chính, các chương trình kênh
InfoTV – VCTV9 ngày càng thu hút sự quan tâm của khán giả và trở thành
kênh thông tin không thể thiếu của các nhà đầu tư.
VTV6 là kênh truyền hình dành cho thanh, thiếu niên, có độ tuổi từ 15-
25. Với người dẫn chương trình đều là những sinh viên. VTV6 tập trung vào
những mảng đề tài chính: thông tin kinh tế vĩ mô, đời sống văn hóa trẻ, cuộc
sống đời thường, các vấn đề xã hội cập nhật, số phận và vấqn đề cá nhân,
hướng dẫn kỹ năng sống, văn hóa thế giới và Việt Nam Các chương trình
của VTV6 tập trung phục vụ nhu cầu được trang bị kỹ năng xã hội, kiến thức
cuộc sống, hiểu biết xã hội, chia sẻ cảm xúc, bày tỏ quan điểm và giải trí của
giới trẻ với những chương trình nổi bật như: Nhà tròn, Phòng mạch dấu hỏi
xanh, Bản tin con cua, Thế hệ tôi.
Lên sóng từ ngày 29/4/2007, sau hơn 3 năm, VTV6 có hơn 30 chương
trình, thời lượng phát sóng 12 giờ mỗi ngày, trong đó có hơn 2 giờ phát mới
tự sản xuất, format chương trình đều do đội ngũ những người làm chương
trình của Ban Thanh thiếu niên nghiên cứu, sản xuất. Bắt đầu từ 7/9, VTV6
được phát rộng rãi trên kênh truyền hình quảng bá (analog). Kênh VTV6 là
Thư viện cuộc sống, Chat live khán giả có thể tương tác trực tiếp với chương
trình bằng cách gọi điện, gửi tin nhắn trao đổi với những người đang tham gia
chương trình.