Thông tin đối ngoại trên truyền hình Việt Nam hiện nay - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HOA MAI THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI TRÊN
TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành Báo chí học

THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI TRÊN
TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học
Mã số: 60.32.01

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Đinh Văn Hường


CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI TRÊN TRUYỀN
HÌNH HIỆN NAY 34
2.1. Khảo sát thông tin đối ngoại ở các Đài Truyền hình chủ lực, tiêu biểu.
34
2.1.1. Thông tin đối ngoại tại Ban đối ngoại, Đài Truyền hình Việt Nam –
VTV4 34
2

2.1.2. Thông tin đối ngoại tại kênh Văn hóa Việt, VTC10, Đài Truyền
hình kỹ thuật số VTC 41
2.2. Sự phản hồi của công chúng 50
2.3. Đánh giá thực trạng thông tin đối ngoại trên truyền hình 53
2.3.1. Ưu điểm 54
2.3.2. Hạn chế 57
2.3.3. Nguyên nhân 60
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI TRÊN TRUYỀN
HÌNH 64
3.1. Một số vấn đề đặt ra 64
3.2. Kinh nghiệm của các nước làm truyền hình đối ngoại và bài học kinh
nghiệm cho truyền hình Việt Nam 67
3.2.1. Kinh nghiệm của các nước làm truyền hình đối ngoại 67
3.2.2. Bài học kinh nghiệm cho truyền hình Việt Nam 78
3.3. Giải pháp nâng cao chất lượng thông tin đối ngoại trên truyền hình 82
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC 101


tích được ưu điểm, hạn chế và chỉ ra được những căn nguyên của nó, để từ đó,
đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thông tin đối ngoại
trên truyền hình. Năm 2010, Ban Tuyên giáo Trung Ương phối hợp với Bộ
Thông tin và Truyền thông và một số đơn vị khác, tổ chức đi khảo sát một số
đơn vị làm nhiệm vụ thông tin đối ngoại như VTV4, VOV5, Vietnamnews
nhưng bước đầu mới chỉ đưa ra những nhận định sơ bộ, chung chung, chỉ
dừng lại ở mức thăm và làm việc, chưa có những đánh giá sát thực về thực
trạng của nó. Đây cũng chính là lý do thúc đẩy người viết chọn đề tài nghiên
cứu “Thông tin đối ngoại trên truyền hình Việt Nam hiện nay” làm đề tài
nghiên cứu của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích và làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý
luận về thông tin đối ngoại và báo chí truyền thông, đưa ra những đánh giá,
nhận định bước đầu về thực trạng thông tin đối ngoại ở một số Đài Truyền
hình chủ lực, làm nhiệm vụ thông tin đối ngoại tiêu biểu ở nước ta hiện nay,
chỉ rõ các ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của nó; và trên cơ sở nghiên cứu,
tìm hiểu kinh nghiệm làm truyền hình ở các nước, luận văn sẽ rút ra một số
bài học kinh nghiệm đối với truyền hình nước ta, từ đó, đề xuất một số giải
pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin đối ngoại trên truyền hình, góp
phần thúc đẩy hiệu quả thông tin đối ngoại của báo chí nói chung, truyền hình
nói riêng trong bối cảnh tình hình mới.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ các khái niệm: thông tin đối ngoại; báo chí đối ngoại; đối
tượng thông tin đối ngoại.
- Làm rõ quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về thông tin đối
ngoại.
7


Trong những năm qua, đã có khá nhiều đề tài nghiên cứu, khóa luận,
luận văn, bài nghiên cứu về công tác đối ngoại, chính sách đối ngoại; công tác
thông tin đối ngoại trên các phương tiện truyền thông đại chúng Có thể phân
chia các công trình nghiên cứu này theo các nhóm đề tài cụ thể như sau:
- Nhóm nghiên cứu về công tác đối ngoại, chính sách đối ngoại, chủ
yếu tập trung nghiên cứu về tình hình, đặc điểm của bà con Việt kiều ở các
nước; những chính sách của Việt Nam đối với cộng động người Việt Nam ở
nước ngoài trong tình hình mới, thực trạng và giải pháp Nhóm nghiên cứu
này đã có những công trình sau: “Đề tài nghiên cứu cấp Bộ của Ủy ban Nhà
nước về người Việt Nam ở nước ngoài (2007), Công tác đối với người Việt
Nam ở nước ngoài trong tình hình mới giai đoạn từ nay đến năm 2020 vì sự
nghiệp phát triển đất nước”; Trần Trọng Đăng Đàn (1997), Người Việt Nam ở
nước ngoài, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội; Khóa luận tốt nghiệp
của Trần Thị Mai Anh (Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 2009), Hoạt động
ngoại giao nhân dân với việc quảng bá hình ảnh nước Mỹ; Khóa luận tốt
nghiệp của Lê Phương Hoa (Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 2012), Cộng
đồng người Việt Nam ở Mỹ và ảnh hưởng đến quan hệ Việt - Mỹ từ năm 1995
đến nay; Đề tài luận văn thạc sĩ của Nguyễn Bảo Chung (Học Viện Ngoại
giao, 2008), Chính sách của Việt Nam đối với người Việt Nam ở nước ngoài
trong thời kỳ đổi mới”
- Nhóm nghiên cứu về Ngoại giao văn hóa, quảng bá hình ảnh quốc
gia, các công trình này tập trung nghiên cứu về văn hóa Việt Nam và các
nước, trong đó, văn hóa là trụ cột để tiến hành công tác đối ngoại, thông tin
đối ngoại, quảng bá hình ảnh quốc gia, mối quan hệ công chúng với báo chí
9

trong việc quảng bá hình ảnh quốc gia. Nhóm nghiên cứu này đã có một số
công trình nghiên cứu: Khóa luận tốt nghiệp của Tạ Thanh Thủy (Học viện
Báo chí và Tuyên truyền, 2009), Ngoại giao văn hóa trong việc quảng bá hình
ảnh Việt Nam ra thế giới; Khóa luận tốt nghiệp của Bùi Thị Vân Anh (Học

một số đề tài nghiên cứu: PGS.TS. Phạm Minh Sơn và TS. Nguyễn Thị Quế
(2010), Thông tin đối ngoại – một số vấn đề lý luận và thực tiễn; Tô Quốc
Tuấn, (2006), luận văn Thạc sĩ, Nâng cao chất lượng, hiệu quả phát thanh đối
ngoại của Đài Tiếng nói Việt Nam; Trần Thị Thanh Hương (2011), luận văn
thạc sĩ. Công tác thông tin đối ngoại cho người Việt Nam ở nước ngoài – thực
trạng và giải pháp có nhiều nét tương đồng với cá nhân người viết về quan
điểm nghiên cứu.
Khảo sát, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng thông tin đối ngoại trên truyền hình là một đề tài khó và mới. Qua
khảo sát và nghiên cứu tại Ban Tuyên giáo Trung Ương, Bộ Thông tin Truyền
thông, Học Viện báo chí và Tuyên truyền (Khoa quan hệ quốc tế); Trường Đại
học Xã hội và Nhân văn Hà Nội (Khoa báo chí và Truyền thông), cá nhân
người viết thấy rằng hiện nay ở trong và ngoài nước vẫn chưa thực hiện việc
khảo sát và đánh giá thực trạng một cách tổng quát, có hệ thống về công tác
thông tin đối ngoại trên truyền hình, cũng chưa đi sâu phân tích ưu, nhược
điểm và căn nguyên của nó, từ đó đề xuất các giải pháp mang tính thực tiễn
nhằm nâng cao chất lượng thông tin đối ngoại trên truyền hình.
Hiện, ở Ban Tuyên giáo Trung Ương, Bộ Thông tin và Truyền thông có
tổ chức đi khảo sát tình hình thực hiện nhiệm vụ thông tin đối ngoại ở một số
đơn vị báo chí của ta như VTV4, Đài Truyền hình Việt Nam; VOV5, Đài
Tiếng nói Việt Nam; Thông tấn xã Việt Nam, song mới chỉ dừng lại ở bước
đầu thăm, làm việc và đưa ra đánh giá sơ bộ ban đầu, chưa có sự khảo sát và
11

đánh giá thực trạng kỹ lưỡng, cụ thể.
Là một người làm công tác quản lý Nhà nước về thông tin đối ngoại, cá
nhân người viết nhận thức rất rõ trách nhiệm và vai trò của mình trong việc
nghiên cứu nhằm tìm ra các giải pháp để nâng cao chất lượng thông tin đối
ngoại trên báo chí nói chung, truyền hình nói riêng. Hy vọng rằng, với sự nỗ
lực và tâm huyết của bản thân, luận văn sẽ đề xuất được những kiến nghị

nghiệm và đề ra phương hướng, mục tiêu phát triển mới, góp phần quan trọng
vào việc đạt mục tiêu chung của nhiệm vụ thông tin đối ngoại.
Đồng thời, đề tài cũng là một trong những căn cứ giúp cơ quan quản lý
Nhà nước về báo chí và thông tin đối ngoại đề ra những biện pháp, chính sách
và phương hướng chỉ đạo phù hợp để phát triển công tác thông tin đối ngoại.
Và hy vọng rằng, đề tài sẽ là một tài liệu tham khảo cho các phóng
viên, biên tập viên truyền hình làm thông tin đối ngoại, giúp các phóng viên,
biên tập viên có thêm kỹ năng và kinh nghiệm để triển khai thực hiện tốt
nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền đối ngoại trên truyền hình. Đề tài nghiên cứu
cũng sẽ là một tư liệu tham khảo cho những người nghiên cứu thông tin đối
ngoại và báo chí, cũng như các sinh viên, học viên muốn tìm hiểu các vấn đề
liên quan đến đề tài.
7. Cấu trúc của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn còn
có 3 chương sau đây:
Chương I: Những vấn đề lý luận chung về thông tin đối ngoại và nhiệm
vụ của báo chí truyền thông.
13

Chương II: Thực trạng thông tin đối ngoại trên truyền hình hiện nay.
Chương III: Một số vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng,
hiệu quả thông tin đối ngoại trên truyền hình.
Nội dung luận văn sẽ được trình bày theo thứ tự chương, mục trên.
14

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ
THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI VÀ NHIỆM VỤ CỦA BÁO
CHÍ TRUYỀN THÔNG
1.1. Khái niệm thông tin đối ngoại
Có thể nói, “thông tin đối ngoại” là một khái niệm khá mới mẻ ở nước

những hoạt động thông tin ra bên ngoài có định hướng, thông qua những
phương thức khác nhau để giới thiệu và quảng bá hình ảnh đất nước, con
người Việt Nam ra bên ngoài nhằm tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của nhân
dân thế giới, sự đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cho sự
nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước” [38].
Quy chế Quản lý Nhà nước về thông tin đối ngoại, định nghĩa rằng
“Thông tin đối ngoại là thông tin quảng bá hình ảnh quốc gia, đất nước, con
người, lịch sử, văn hóa dân tộc Việt Nam; thông tin về chủ trương, đường lối
của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước Việt Nam ra thế giới và thông
tin về thế giới vào Việt Nam” [44].
Như vậy, lần đầu tiên một định nghĩa chính thức về ‘thông tin đối ngoại
được đưa vào khẳng định trong văn bản quy phạm pháp luật” [39], thể hiện
khá đầy đủ về nội dung của nó. Phạm vi thông tin đối ngoại cũng được xác
định rõ ràng, gồm cả thông tin Việt Nam ra thế giới và cả thông tin thế giới
vào Việt Nam.
Mới đây nhất, Chiến lược Phát triển Thông tin đối ngoại giai đoạn 2011
– 2020 do Bộ chính trị thông qua ngày 14 tháng 2 năm 2012, trong đó nhấn
mạnh rằng “Thông tin đối ngoại là một bộ phận quan trọng trong công tác
tuyên truyền và công tác tư tưởng của Đảng ta góp phần quan trọng vào quá
trình hội nhập quốc tế, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế, từng
16

bước làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính
trị, bảo vệ vững chắc chủ quyền, lãnh thổ…khuyến khích người Việt Nam ở
nước ngoài gắn bó với quê hương, đóng góp vào sự nghiệp đổi mới đất
nước.” [11].
Như vậy, định nghĩa này đã rất bao quát và đầy đủ về nội dung của
thông tin đối ngoại, khẳng định thông tin đối ngoại là bộ phận không thể tách
rời của công tác tuyên truyền và công tác tư tưởng nhằm làm cho nhân dân
trong nước và quốc tế biết và hiểu về Việt Nam, qua đó thúc đẩy sự nghiệp

nước ngoài hiểu về Việt Nam và ủng hộ Việt Nam trên con đường bảo vệ, xây
dựng và phát triển đất nước”.
1.2. Đối tượng thông tin đối ngoại
Để thực hiện tốt nhiệm vụ thông tin đối ngoại, trước hết chúng ta cần
xác định và làm rõ đối tượng thông tin của nó. Trên thực tế, khó có thể phân
định rạch ròi ranh giới giữa tuyên truyền đối nội và đối ngoại, nếu chúng ta
không xác định rõ đối tượng tuyên tuyền. Có thể nói, xác định đúng và trúng
đối tượng cần thông tin sẽ mang lại hiệu quả thông tin cao. Trong nghiên cứu
này, người viết tạm thời chia đối tượng thông tin đối ngoại thành 2 nhóm đối
tượng chính:
1.2.1. Nhóm đối tượng ở ngoài nước
Đây là nhóm đối tượng rất quan trọng, gồm các tổ chức, định chế quốc
tế, chính giới, học giả, báo chí, nhà kinh doanh, bạn bè quốc tế, nhân dân các
nước và người Việt Nam đang sinh sống, học tập, lao động và công tác ở nước
ngoài, đặc biệt là giới trẻ.
Trước hết là nhóm đối tượng người nước ngoài, hay còn gọi là nhân
18

dân thế giới sống ở các nước, bao gồm bộ máy nhà nước của các quốc gia,
các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, các nhà hoạt động xã hội và
đồng đảo tầng lớp quần chúng nhân dân trên thế giới.
Đây là nhóm đối tượng rất quan trọng, chiếm số lượng đông đảo trên
thế giới. Nhóm đối tượng này có tầm ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình bảo vệ,
xây dựng và phát triển đất nước ta. Trong chiến tranh, chính nhóm đối tượng
này đã đứng lên bảo vệ và đòi Chính phủ các nước chấm dứt chiến tranh với
Việt Nam. Hãy ngược dòng thời gian quay lại những năm 1960, 1970. Lúc
bấy giờ, tại Cộng hòa Liên bang Đức, các tầng lớp nhân dân của hơn 50 thành
phố đồng loạt biểu tình, phân phát 20 vạn truyền đơn trong nhân dân và cả
lính Mỹ đóng ở nước này để kêu gọi nhà cầm quyền Mỹ chấm dứt ngay cuộc
chiến tranh phi nghĩa chống nhân dân Việt Nam. Và ngay trong chính đất

không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Nhìn chung, đại đa số
người Việt Nam ta ở nước ngoài đều hướng về quê hương đất nước.
Theo số liệu do Ủy ban nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài
cung cấp, hiện có hơn 4 triệu người Việt Nam đang sinh sống, lao động và
học tập tại 101 nước và vùng lãnh thổ, trong đó khoảng 300.000 người có
trình độ đại học trở lên. Hàng năm có khoảng 500.000 lượt kiều bào về thăm
quê hương, đóng góp chuyên môn, đầu tư, kinh doanh, giao lưu văn hóa, nghệ
thuật, từ thiện, nhân đạo…
Kiều hối những năm gần đây tăng trung bình 10 - 15%. Lượng kiều hối
chuyển về Việt Nam trong năm 2011 vượt xa con số dự báo 6 tỉ USD khi đạt
trên 9 tỉ USD. Năm 2011, lượng kiều hối chuyển về Việt Nam tăng thêm gần
7%. Về đầu tư, hiện có khoảng 3.000 dự án của kiều bào đầu tư về nước với
tổng vốn gần 2 tỷ USD, trong đó 2/3 dự án làm ăn có hiệu quả.
20

Tại Mỹ, hiện có khoảng 2,5 triệu người Việt Nam sinh sống, tập trung
chủ yếu tại các khu vực như bang California (tập trung tại các thành phố San
Jose, Garden Grove, Los Angeles, Westminster, San Francisco, Texas )
Tại Châu Á, cộng đồng người Việt có gần 1 triệu người, tập trung nhiều
nhất ở Đài Loan, Campuchia, Malaysia. Người Việt Nam có mặt tại các quốc
gia này chủ yếu theo 2 diện: xuất khẩu lao động và hôn nhân. Riêng về di cư
bắt nguồn từ hôn nhân, đến nay số lượng phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài
Loan chiếm gần 90% tổng số phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài.
Tại Châu Âu, hiện có trên 700 ngàn người Việt Nam sinh sống, trong
đó, tập trung nhiều nhất tại các quốc gia: Pháp (300 ngàn người), Nga (100
ngàn người), Đức (100 ngàn người), Anh (50 ngàn người) và Séc (35 ngàn).
Cộng đồng người Việt ở Châu Âu không sống tập trung như tại Hoa Kỳ mà
rải rác ở 37 quốc gia. Tuy vậy, mức độ liên kết của cộng đồng khá mật thiết
do khả năng qua lại dễ dàng giữa các quốc gia EU. Đặc điểm chính của nhóm
cộng đồng người Việt ở Châu Âu chủ yếu kinh doanh buôn bán và các du học

và ngoài công việc dĩ nhiên với mức độ khác nhau.
Kết quả “Khảo sát thăm dò tìm hiểu dư luận nước ngoài về Việt Nam”
do Cục Thông tin đối ngoại, Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện vào
tháng 12 năm 2009, với 4 nhóm đối tượng chính, gồm lãnh đạo, đại diện các
tổ chức ngoại giao, phi chính phủ, các định chế nước ngoài khác tại Việt
Nam; Các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; Các phóng viên thông tấn, báo
chí, truyền hình nước ngoài tại Việt Nam và Khách du lịch nước ngoài tại Việt
Nam. Cuộc điều tra được thực hiện trên địa bàn Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Đà
Nẵng và Quảng Ninh, với hơn 1000 số phiếu điều tra, tập trung vào 4 vấn đề
22

trọng tâm: Dư luận nước ngoài về các lĩnh vực kinh tế, du lịch, đầu tư và sinh
hoạt của VN; Nhu cầu thông tin về Việt Nam của người nước ngoài; Khả
năng khai thác những thông tin đó ra sao? Cần thay đổi phương thức, nội
dung thế nào để đưa thông tin tới người nước ngoài tại Việt Nam và trên thế
giới hiệu quả hơn?
Kết quả chỉ ra rằng 24% (cao nhất) số người được hỏi biết đến Việt
Nam vì nhờ chiến thắng trong 2 cuộc chiến với Pháp và Mỹ; trên 20% số
người được hỏi cho rằng biết đến Việt Nam vì có nền văn hóa lâu đời; 20%
biết đến Việt Nam do có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng; 19% biết đến
Việt Nam vì một thị trường đầy tiềm năng và cơ hội làm ăn tốt.
Theo kết quả của cuộc khảo sát, đối với người nước ngoài ở Việt Nam,
hình ảnh Việt Nam trong mắt họ vẫn mang đậm chất lịch sử. Một Việt Nam
năng động, đổi mới vẫn chưa được nhiều người nước ngoài biết đến. Đây
cũng là trách nhiệm của những người làm công tác thông tin đối ngoại trong
việc thông tin, cung cấp các thông tin cần thiết đến nhóm đối tượng trọng
điểm của thông tin đối ngoại ngay chính trên đất nước mình.
Nhóm đối tượng người Việt Nam ở trong nước cũng là một bộ phận
quan trọng cần được thông tin đầy đủ. Để thực hiện tốt nhiệm vụ thông tin đối
ngoại, mỗi người dân Việt Nam phải là một đại sứ để giới thiệu, quảng bá

tình trạng khủng hoảng. Các thế lực thù địch đang đẩy mạnh các hoạt động
thông tin liên lạc nhằm kích động, xuyên tạc và chống lại Chủ nghĩa xã hội
nói chung và Việt Nam nói riêng.
Do đó, Chỉ thị 11 có ý nghĩa vô cùng quan trọng, xác định nhiệm vụ
thông tin đối ngoại phải lật sang một trang sử mới, nhằm làm cho Chính phủ
24

và nhân dân các nước trên thế giới biết đến đất nước, con người của ta, hiểu
rõ chính sách đối ngoại của ta để tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước
trên con đường xây dựng và phát triển. Chỉ thị 11 xác định tăng cường thông
tin về đường lối, chính sách và thành tựu đổi mới toàn diện của ta, gồm chính
sách đối ngoại và chính sách kinh tế, quảng bá hình ảnh đất nước, con người
lịch sử và văn hóa ta. Trong đó, khẳng định truyền hình là lực lượng chủ lực
làm thông tin đối ngoại, với mục tiêu “mở rộng việc trao đổi chương trình và
hợp tác với đài truyền hình các nước”.
Tiếp đó là Thông báo số 188/TB-TW ngày 29 tháng 12 năm 1993 của
Thường vụ Bộ Chính trị về công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới,
trong đó quy định cụ thể chi tiết các nhiệm vụ và giao các đơn vị quản lý chủ
trì thực hiện. Nhiệm vụ của Thông báo số 188/TB-TW tiếp tục xác định đẩy
mạnh công tác thông tin thông qua lực lượng truyền thông đại chúng “tiếp tục
đầu tư và nâng cao chất lượng hệ thống thông tấn báo chí, xuất bản quốc gia
như Thông tấn xã Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt
Nam, một số báo và nhà xuất bản lơn để làm nòng cốt cho công tác thông tin
đối ngoại”.
Đến năm 2000, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 10/2000/CT-
TTg ngày 26 tháng 4 năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản
lý và đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại. Suốt 8 năm thực hiện Chỉ thị 11-
CT/TW của Ban Bí thư và Thông báo số 188/TB-TW của Thường vụ Bộ
Chính trị đã bộc lộ nhiều “hạn chế và yếu kém” về công tác quản lý và phối
hợp giữa các Ban, ngành chỉ đạo, tổ chức thực hiện, thông tin đối ngoại có

thống nhất quản lý Nhà nước về thông tin đối ngoại. Quy chế Quản lý Nhà
nước về thông tin đối ngoại có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, lần đầu tiên
quy định thống nhất hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước từ Trung Ương đến

Trích đoạn Kinh nghiệm của các nước làm truyền hình đối ngoại Bài học kinh nghiệm cho truyền hình Việt Nam Giải pháp nâng cao chất lượng thông tin đối ngoại trên truyền hình
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status