Thực trạng các hệ thống phân phối thép trên thị trường
Việt Nam hiện nay
1. Đặc điểm ngành thép và ảnh hưởng của chúng đến hệ thống phân phối
thép ở Việt Nam
1.1 Đặc điểm của ngành thép ở Việt Nam
* Thực trạng phát triển ngành thép
Cũng giống như các nước đang phát triển khác, sự phát triển của ngành
thép Việt Nam bị coi là đi theo chiều ngược khi công nghiệp cán có trước công
nghiệp luyện, phần lớn do hạn chế về vốn đầu tư, do chính sách phát triển
ngành. Ý kiến khác lại cho rằng ngành thép sở dĩ phát triển ngược là do Việt
nam không có chính sách bảo hộ đúng mức cho phần gốc là luyện phôi thép,
cho nên mặc dù thời gian gần đây ngành thép phát triển được là nhờ nguồn phôi
nhập khẩu, không tận dụng được lợi thế giàu tài nguyên của Việt Nam.
Quy hoạch phát triển tổng ngành thép đến năm 2010, ban hành năm 2001,
đặt ra năm 2005 ngành thép đạt sản lượng sản xuất 1,2-1,4 triệu tấn phôi thép;
2,5-3,0 triệu tấn thép cán các loại; 0,6 triệu tấn sản phẩm thép gia công sau cán.
Kế hoạch đến năm 2010 ngành thép sẽ đạt 1,8 triệu tấn phôi thép; 4,5-5,0 triệu
tấn thép cán các loại và 1,2-1,5 triệu tấn sản phẩm thép gia công sau cán.
Tính đến hết năm 2007, về căn bản ngành thép Việt Nam đã đạt được chỉ
tiêu so với kế hoạch đề ra. Sản lượng phôi thép năm 2007 đạt 782.000 tấn, thép
cán đạt 2,2 triệu tấn thấp hơn so với quy hoạch phát triển ngành phải đạt đến
năm 2005. Tuy rằng sản lượng mục tiêu chưa đạt được nhưng sản lượng tiêu thụ
thép trong nước năm 2007 đã tăng từ 10-14% so với mức tiêu thụ năm 2006.
Năm 2007, mức tiêu thụ thép của người Việt Nam đạt xấp xỉ 100kg/người/năm,
mức được coi là điểm khởi đầu giai đoạn phát triển công nghiệp các quốc gia.
Mức tiêu thụ này vượt xa dự báo về mặt tăng trưởng, đưa Việt Nam trở thành
thị trường có mức tiêu thụ thép thuộc loại cao nhất trên thế giới.
Cuối năm 2007 và đầu năm 2008 do bùng nổ của xây dựng, thị trường thép
thế giới tăng nhanh chóng. Tại Việt Nam, giá thép thời gian này tăng gấp 4 lần
so với thời gian trước đó và có lúc lên đến 18 triệu VND/tấn. Giá thép tăng đã
đẩy giá nhà thầu xây dựng và người tiêu dùng khốn đốn, ảnh hưởng đến nhiều
phôi thép.
+ Sản xuất thép thành phẩm: Năm 2010 đạt 6,3-6,5 triệu tấn (1,8-2,0 triệu
tấn sản phẩm dẹt); năm 2015 đạt 11-12 triệu tấn (6,5-7,0 triệu tấn sản phẩm
dẹt); năm 2020 đạt khoảng 15-18 triệu tấn (8-10 triệu tấn sản phẩm dẹt); năm
2025 đạt khoảng 19-22 triệu tấn thành phẩm (11-13 triệu tấn sản phẩm dẹt và
0,2 triệu tấn thép đặc biệt).
+ Xuất khẩu gang thép các loại: Năm 2010 xuất khẩu đạt 0,5-0,7 triệu tấn;
năm 2015 xuất khẩu đạt 0,7-0,8 triệu tấn; năm 2020 xuất khẩu đạt 0,9-1,0 triệu
tấn; năm 2025 xuất khẩu khoảng 1,2-1,5 triệu tấn. Mục tiêu xuất khẩu trên có
thể được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình cụ thể, nhằm đảm bảo bình ổn thị
trường trong nước.
Cũng theo quy hoạch trên, nội dung quy hoạch như sau:
+ Nhu cầu về các sản phẩm thép: Nhu cầu thép thành phẩm của Việt Nam
dự kiến năm 2010 đạt khoảng 10-11 triệu tấn; năm 2015 khoảng 15-16 triệu tấn;
năm 2020 khoảng 20-21 triệu tấn; năm 2025 khoảng 24-25 triệu tấn.
+ Quy hoạch các dự án đầu tư chủ yếu: Trên cơ sở phân bổ nguồn nguyên
liệu quặng sắt, vị trí địa lý và điều kiện cơ sở hạ tầng cũng như phân bố nhu cầu
thép, thực hiện đầu tư các dự án chu yếu sau:
Giai đoạn 2007 - 2015:
+ Liên hợp thép Hà Tĩnh, sử dụng quặng sắt mỏ Thạch Khê: công suất dự
kiến 4,5 triệu tấn/năm, chia thành 2 giai đoạn, trong đó giai đoạn 1 khoảng 2 -
2,5 triệu tấn. Hình thức đầu tư dự kiến hợp tác đầu tư trong và ngoài nước. Thời
gian đưa vào sản xuất giai đoạn 1 dự kiến 2011 – 2012.
+ Liên hợp thép Dung Quất (Quảng Nghị) công suất 5 triệu tấn/năm, chia
làm 2 giai đoạn, sử dụng quặng sắt trong nước và nhập khẩu. Hình thức đầu tư -
100% vốn nước ngoài. Thời gian đưa vào hoạt động giai đoạn 2 dự kiến 2011 –
2015.
+ Dự án nhà máy thép cuộn cán nóng, cán nguội và mạ kẽm chất lượng cao
với công suất 3 triệu tấn/năm, trong đó giai đoạn 1 đạt 0,7 triệu tấn/năm. Chủ
đầu tư là Tập đoàn Posco (Hàn Quốc), 100% vốn đầu tư nước ngoài.
(đặt tại Bình Thuận để sử dụng khí thiên nhiên khai thác từ bể Phú Khánh và
diện tích phía Bắc của bể Cửu Long).
Hình thức đầu tư: 100% vốn đầu tư nước ngoài hoặc liên doanh trong và
ngoài nước.
+ Nghiên cứu đầu tư một số dự án luyện cán thép tấm, thép hình lớn và
thép ống không hàn với công nghệ tiên tiến, quy mô công suất khoảng 1 triệu
tấn thép thành phẩm/năm phục vụ các ngành đóng tầu, dầu khí, cơ khí chế tạo
thiết bị siêu trường, siêu trọng. Hình thức đầu tư: 100% vốn đầu tư nước ngoài
hoặc liên doanh trong và ngoài nước.
+ Nghiên cứu đầu tư nhà máy thép đặc biệt quy mô công suất khoảng 0,3 -
0,5 triệu tấn/năm phục vụ ngành chế tạo máy và công nghiệp quốc phòng.
Danh mục các dự án dự kiến đầu tư trong giai đoạn 2007 - 2025 của ngành
Thép Việt Nam tại bảng dưới đây:
DANH MỤC CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ CHỦ YẾU CỦA NGÀNH THÉP
VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2007 - 2025
(Ban hành kèm theo Quyết định số 145/2007/QĐ-TTg
ngày 04 tháng 9 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ)
________________
TT Nội dung
Địa
điểm
dự kiến
Dự
kiến
khởi
công-
hoàn
thành
Quất
2008-
10
539 2.000 1.860
Liên hợp thép Quảng
Ngãi: GĐ2
Dung
Quất
2011-
17
500 2500 2.200
3
Dự án POSCO: GĐ1- cán
nguội
BR- VT 2007-
09
340 700
Dự án POSCO: GĐ2- cán
nóng
BR- VT
2010-
12
660 3.000
4
Luyện cán thép không rỉ
Thiên Hưng
BR- VT
2006-
10
(ViMiCo, TKV)
Lào Cai
2006-
08
26,3 100
4
LD Khoáng nghiệp Hằng
Nguyên
Tuyên
Quang
2006-
10
43,5 220
5
Công ty CP gang thép Cao
Bằng
Cao
Bằng
2006-
10
25,0 140
6 N/m gang thép Yên Bái
Yên
Bái
2006-
10
32,5-
35,0
160
7
Phòng
2007 30 300
12
N/m thép tấm cán nóng
VINASHIN
Quảng
Ninh
2008 35 300
13
N/m thép cuộn cán nguội
LILAMA
Vĩnh
Phúc
2006-
10
37,8 250
14
N/m thép cuộn cán nguội
cty Hoa Sen
Bình
Dương
2006-
10
28 120
15 N/m thép cán nguội Phú BR- VT 2006- 25 200
Mỹ: GĐ 2 10
16
N/m thép cán nguội
Fomosa Steel
BR- VT
Sp chu
chuyển
1.450 1.450
Dự án minimill (DR-
EAF- tấm): PA2
Bình
Thuận
2016-
25
1.000 1450 1450
2
Các dự án luyện cán thép
tấm, thép ống không hàn
(2-3 dự án)
Ven
biển ở 3
miền
Bắc,
Trung,
Nam
2016-
25
1.000
1.500-
2.000
1.500-
2.000
3
- Thép tấm, lá, cuộn cán nóng
- Thép tấm, lá, cuộn cán nguội
- Thép xây dựng
- Phôi thép
- Thép hình
- Thép Inox
- Thép đặc chủng
- Thép mạ
- Một số loại sản phẩm khác
Trong thời gian qua, do gặp hạn chế về nguồn vốn đầu tư và nhu cầu thị
trường trong nước còn hạn chế, ngành thép Việt Nam mới chỉ tập trung vào đầu
tư sản xuất các sản phẩm Thép dài để đáp ứng nhu cầu cấp bách trong nước.
* Nguyên vật liệu
Để có thể duy trì sản xuất kinh doanh và đáp úng nhu cầu thị trường tiêu
thụ thép trong nước, ngành thép Việt Nam hiện đang phải nhập khoảng 40%
phôi thép từ nước ngoài, 60% là do trong nước tự chủ được.
Các doanh nghiệp không thể chủ động được nguồn nguyên vật liệu, khi giá
phôi thép thế giới biến động mạnh, doanh nghiệp trong nước sẽ gặp nhiều khó
khăn.
1.2. Ảnh hưởng của đặc điểm ngành thép tới hệ thống phân phối thép ở Việt
Nam
Tính cạnh tranh của sản phẩm ngành thép vẫn phụ thuộc nhiều vào công
nghệ sản xuất nhưng để tạo ra sức cạnh tranh tổng hợp thì thiết lập và quản lý
hệ thống phân phối hiệu quả vừa là đòi hỏi của quy luật kinh tế vừa đảm bảo
cho doanh nghiệp phát triển bền vững.
Địa điểm của các nhà máy sản xuất thép kết hợp với thị trường mục tiêu
ảnh hưởng đến việc thiết lập hệ thống phân phối phải đảm bảo nhanh chóng, kịp
thời về thời gian, địa điểm, hiệu quả về mặt chi phí, đảm bảo tính cạnh tranh và
mang lại hiệu quả kinh tế cho toàn hệ thống.
Trong tương lai, ngành thép sẽ cung ứng một lượng thép vượt so với nhu
phân phối, tổng đại lý, đại lý bán lẻ và các đơn vị trực thuộc các chủ thể này
như chi nhánh, xí nghiệp, cửa hàng bán lẻ. Với sự tham gia của nhiều thành
phần kinh tế và có mạng lưới bán lẻ được phân bố rộng khắp trên phạm vi cả
nước.
Hiện nay, các doanh nghiệp hoạt động trong ngành thép của Việt Nam
thường thiết lập hệ thống phân phối thép theo các kênh sau (xem ví dụ 1, vídụ 2,
3):
+ Kênh 1: Nhà sản xuất→các chi nhánh→các cửa hàng bán lẻ. Đây là kênh
phân phối do người sản xuất thiết lập và quản lý.
+ Kênh 2: Nhà sản xuất→công ty phân phối→ các chi nhánh→các cửa
hàng bán lẻ. Công ty phân phối này là nhà phân phối của nhà sản xuất nhưng có
sự độc lập với nhà sản xuất.
+ Kênh 3: Nhà sản xuất→các tổng đại lý→các đại lý bán lẻ. Tuy các tổng
đại lý, đại lý có độc lập tương đối với nhà sản xuất nhưng có mối quan hệ phân
phối mật thiết với nhà sản xuất.
+ Kênh 4: Kênh phân phối trực tiếp. Với kênh phân phối này thép được nhà
sản xuất bán trực tiếp cho khách hàng, loại này thường được bán cho những
khách hàng công nhiệp.