-1-
MỤC LỤC
Lời mở đầu
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI KHOẢN VÀ HỆ THỐNG TÀI KHOẢN
KẾ TOÁN
1.1 Tài khoản
1.1.1 Khái niệm, ý nghóa tác dụng
1.1.2 Hình thức, kết cấu
1.1.3 Phân loại tài khoản
1.1.4 Phương trình kế toán căn bản, hệ thống kế toán kép và nguyên tắc
ghi Nợ – Có
1.1.5 Cách ghi chép vào các loại tài khoản chủ yếu liên quan đến các yếu tố
của báo cáo tài chính
1.2 Hệ thống tài khoản kế toán
1.2.1 Khái niệm, nội dung
1.2.2 Cơ sở xây dựng hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp
1.2.3 Sơ lược một số hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp
Chương 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG TÀI KHOẢN KẾ TOÁN DOANH
NGHIỆP VIỆT NAM
2.1. Lược sử hình thành và phát triển của hệ thống tài khoản kế toán doanh
nghiệp Việt Nam
2.1.1 Giai đoạn 1954 – 1986
2.1.2 Giai đoạn 1986 – 1995
2.1.3 Giai đoạn 1995 – nay
2.2.Thực trạng ban hành và vận dụng hệ thống tài khoản kế toán doanh
nghiệp Việt Nam
2.2.1 Thực trạng ban hành
-2-
2.2.2 Thực trạng vận dụng
2.3.Đánh giá hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp Việt Nam hiện hành
lý và các cơ quan hữu quan khác (cơ quan thuế, cơ quan chủ quản, cơ quan thanh
tra,cơ quan kiểm toán) trong việc kiểm tra, kiểm soát, giám sát các hoạt động
sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Hệ thống tài khoản kế toán do Bộ Tài
Chính ban hành và áp dụng hiện nay trong các doanh nghiệp ở nước ta mặc dầu
đã có nhiều sửa đổi, cải tiến nhưng vẫn chưa thực sự thống nhất về nội dung và
thể thức, chưa đáp ứng được sự đổi mới của nền kinh tế và phù hợp với thông lệ
quốc tế. Hạn chế này trước hết gây khó khăn, lúng túng cho người làm công tác
kế toán ở doanh nghiệp, sau nữa gây khó khăn cho các cơ quan chức năng cũng
như các cơ quan nghiên cứu và các cơ sở đào tạo kế toán.
Cùng với Luật kế toán và các chuẩn mực kế toán đã và đang được ban hành,
việc hoàn thiện chế độ kế toán doanh nghiệp (trong đó có hệ thống tài khoản) là
một trong những nội dung của chiến lược đổi mới hệ thống kế toán Việt Nam
giai đoạn 2001 – 2010 đã được Bộ Tài Chính thông qua trong hội nghò kế toán
toàn quốc được tổ chức tại Hà Nội vào ngày 14/10/2003: “Căn cứ Luật kế toán,
các văn bản hướng dẫn Luật và các chuẩn mực kế toán mới ban hành cần phải
tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện chế độ kế toán doanh nghiệp, chế
độ kế toán nhà nước… phù hợp với xu hướng đổi mới nền kinh tế và hội nhập
quốc tế”.
Cho nên, việc hoàn thiện hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp Việt Nam
nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người làm công tác kế toán cũng như các cơ
quan có thẩm quyền và cơ sở đào tạo kế toán, đồng thời góp phần vào chiến
lược đổi mới hệ thống kế toán đến năm 2010 của Bộ Tài Chính, thúc đẩy tiến
-4-
trình hội nhập kế toán với khu vực và thế giới là việc làm có tính thời sự hiện
nay.
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nhằm góp phần củng cố, sửa đổi và sắp xếp lại hệ thống tài khoản kế toán
doanh nghiệp hiện hành ở Việt Nam theo hướng phù hợp và đáp ứng yêu cầu
xây dựng, hoàn thiện môi trường pháp lý kế toán trong điều kiện nền kinh tế thò
trường đònh hướng XHCN, đa dạng hoá các hình thức sở hữu, các loại hình doanh
xem báo cáo tài chính là sản phẩm đầu ra của kế toán thì nguyên liệu đầu vào
chính là các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
Nghiệp vụ kinh tế là những sự kiện ảnh hưởng đến tình hình tài chính của
đơn vò kế toán; hoặc cụ thể hơn, nghiệp vụ kinh tế là những hoạt động phát sinh
cụ thể làm tăng, giảm tài sản, nguồn hình thành tài sản của đơn vò kế toán.
Có thể có hàng trăm hoặc thậm chí hàng ngàn nghiệp vụ kinh tế phát sinh
hằng ngày trong đơn vò kế toán. Với khối lượng lớn như thế, làm sao để có thể
tổng hợp các nghiệp vụ có cùng tính chất kinh tế thành các yếu tố của báo cáo
tài chính một cách chính xác, đầy đủ mà lại dễ dàng nhanh chóng, kòp thời phục
vụ cho các đối tượng sử dụng? Sau khi thu thập dưới dạng các chứng từ hoá đơn
hợp lệ hợp pháp, kế toán viên gom các nghiệp vụ kinh tế (căn cứ vào nội dung
cụ thể trên các chứng từ hoá đơn) có cùng tính chất hoặc nội dung kinh tế lại với
nhau và ghi vào trang sổ hay tấm thẻ. Có thể có nhiều trang sổ hay tấm thẻ được
sử dụng để lưu trữ tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong đơn vò kế toán
theo thứ tự thời gian. Sắp xếp các trang sổ hay tấm thẻ lại với nhau thành quyển
sổ. Các trang sổ hay tấm thẻ này gọi là tài khoản, quyển sổ gọi là sổ Cái tài
-6-
khoản hay gọi tắt là sổ cái. Như vậy, tài khoản là trang sổ lưu trữ các nghiệp vụ
kinh tế phát sinh có cùng tính chất hoặc nội dung kinh tế hay nói khác hơn, tài
khoản kế toán dùng để phân loại và hệ thống hoá các nghiệp vụ kinh tế phát
sinh có cùng nội dung kinh tế . Để dễ phân biệt, mỗi tài khoản được đặt một cái
tên hay được đánh số hiệu. Thông thường, tên phải ngắn gọn, dễ hiểu, mô tả
được nội dung kinh tế đặc trưng của các nghiệp vụ kinh tế được lưu trữ vào tài
khoản đó, số hiệu được đánh theo một trật tự nhất đònh và dễ nhận biết. Tuỳ
theo quy đònh trong chế độ kế toán của từng quốc gia mà tên và số hiệu của tài
khoản bắt buộc phải thống nhất theo hướng dẫn hoặc bản thân mỗi đơn vò kế
toán tự đặt tên và kí hiệu theo ý riêng.
1.1.2 Hình thức, kết cấu
Phép biện chứng duy vật khẳng đònh rằng, mỗi sự vật hiện tượng trong thế
giới đều là một thể thống nhất của các mặt, các thuộc tính, các khuynh hướng
Chứng từ Số tiền
Số Ngày
Diễn giải
Tài
khoản
đối ứng
Nợ Có
Ghi chú
Số dư đầu kỳ :
Số phát sinh trong kỳ :
……
……
……
Tổng số phát sinh trong kỳ :
Số dư cuối kỳ :
-8-
Nội dung của các cột như sau:
• Cột chứng từ: ghi số, ngày của chứng từ minh chứng cho các nghiệp vụ kinh
tế phát sinh mà kế toán phải thu thập.
• Cột diễn giải: Nội dung tóm tắt của nghiệp vụ kinh tế phát sinh trên chứng từ
kế toán.
• Cột tài khoản đối ứng: Tên tài khoản đối ứng còn lại có liên quan trong nội
dung của nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
• Cột số tiền : số tiền của nghiệp vụ kinh tế phát sinh được ghi vào bên trái
-9-
+ Loại tài khoản cơ bản: dùng để lưu trữ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trực
tiếp làm tăng, giảm tài sản và nguồn hình thành tài sản.
+ Loại tài khoản điều chỉnh: được sử dụng để tính toán lại số lượng đã được
lưu trữ trên loại tài khoản cơ bản nhằm cung cấp số liệu xác thực về tình hình tài
chính của đơn vò kế toán tại thời điểm tính toán.
+ Loại tài khoản nghiệp vụ: dùng để tập hợp các số liệu cần thiết sau đó sử
dụng các phương pháp mang tính nghiệp vụ để xử lý các số liệu. Loại này chia
ra làm các nhóm như sau:
• Nhóm tài khoản phân phối: dùng để tập hợp các số liệu sau đó phân
phối cho các tài khoản có liên quan.
• Nhóm tài khoản tính giá thành: dùng để tập hợp các nghiệp vụ kinh tế
liên quan đến chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm hoặc lao vụ, dòch vụ.
• Nhóm tài khoản so sánh: dùng để xác đònh các chỉ tiêu cần thiết của quá
trình kinh doanh bằng cách so sánh tổng phát sinh nợ và tổng phát sinh có của
tài khoản.
Việc phân loại tài khoản theo công dụng tạo điều kiện thuận lợi cho việc
tính toán, xác đònh các chỉ tiêu cần thiết cung cấp cho hoạt động quản lý.
1.1.3.3 Theo mối quan hệ với báo cáo tài chính
Các tài khoản được chia thành 3 loại:
+ Loại tài khoản thuộc Bảng cân đối kế toán: dùng để lưu trữ các nghiệp vụ
kinh tế phát sinh liên quan đến các yếu tố tài sản, nguồn vốn để hình thành nên
Bảng cân đối kế toán (là bảng phản ánh một cách khái quát tình hình tài sản,
nguồn hình thành tài sản của đơn vò kế toán tại một thời điểm).
+ Loại tài khoản thuộc Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: dùng để lưu
trữ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến các yếu tố doanh thu, thu nhập,
chi phí, giá vốn, xác đònh kết quả kinh doanh để hình thành nên các chỉ tiêu trên
Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
-10-
+ Loại tài khoản đặc biệt: dùng để lưu trữ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
1.1.4.2 Hệ thống kế toán kép và nguyên tắc ghi Nợ, Có
Kế toán kép là phương pháp kế toán căn bản ra đời trong thời kỳ Phục sinh,
lần đầu tiên được trình bày vào năm 1494 trong một cuốn sách toán của Fra
Luca, một tu só dòng Francis.
Kế toán kép dựa trên nguyên tắc lưỡng diện, nghóa là mọi sự kiện kinh tế
phát sinh đều có hai mặt, hai khía cạnh cân đối nhau. Do đó, mỗi nghiệp vụ kinh
tế phát sinh phải được ghi vào tài khoản ít nhất một lần ghi Nợ và một lần ghi
Có và làm thế nào để tổng số tiền bên Nợ và tổng số tiền bên Có cân bằng
nhau.
1.1.5 Cách ghi chép vào các loại tài khoản chủ yếu liên quan đến các yếu
tố của Báo cáo tài chính
Các yếu tố của Báo cáo tài chính gồm: Tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ
sở hữu, doanh thu thu nhập, chi phí giá vốn.
Để có thể tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, hình thành nên các yếu
tố của báo cáo tài chính phục vụ cho các đối tượng sử dụng thì sau khi thu thập,
kế toán viên phải xác đònh nghiệp vụ kinh tế phát sinh làm tăng, giảm đến yếu
tố nào trên báo các tài chính rồi mới lưu trữ bằng cách ghi chép vào các tài
khoản. Căn cứ vào nguyên tắc ghi Nợ, Có trong hệ thống kế toán kép và phương
trình kế toán cơ bản hình thành các cách ghi chép chủ yếu như sau
1.1.5.1 Cách ghi chép vào tài khoản các nghiệp vụ kinh tế phát sinh làm
tăng, giảm tài sản
Nhìn vào phương trình kế toán (1) Tài sản = nguồn vốn
Ta thấy : _ Về mặt hình thức : Vế trái là tài sản , vế phải là nguồn vốn
_ Về mặt giá trò : tài sản luôn luôn cân bằng với nguồn vốn
-12-
Khi tài sản tăng lên (vế trái tăng) thì nguồn vốn cũng tăng (vế phải cũng
tăng) và ngược lại. Nên với một nghiệp vụ kinh tế phát sinh làm tăng tài sản nếu
được ghi bên trái - ghi Nợ vào tài khoản chữ T thì một nghiệp vụ kinh tế phát
sinh làm tăng nguồn vốn sẽ được ghi bên phải - Ghi Có vào tài khoản chữ T.
Tài sản = Nguồn vốn
Doanh thu, thu nhập là tổng giá trò các lợi ích kinh tế thu được góp phần
làm tăng nguồn vốn chủ sở hữu. Do đó, một nghiệp vụ kinh tế phát sinh làm
tăng doanh thu thu nhập cũng đồng thời làm tăng nguồn vốn chủ sở hữu nên với
một nghiệp vụ kinh tế phát sinh làm tăng nguồn vốn chủ sở hữu được ghi bên
Có thì làm tăng doanh thu thu nhập cũng được ghi Có. Và ngược lại, làm giảm
doanh thu thu nhập ghi Nợ.
Doanh thu , thu nhập
Nợ Có
Phát sinh Phát sinh
giảm tăng
Vậy, với tài khoản doanh thu, thu nhập thì phát sinh tăng ghi bên Có, phát sinh
giảm ghi bên Nợ.
1.1.5.4 Cách ghi chép vào tài khoản các nghiệp vụ làm tăng giảm chi phí
Chi phí là tổng các khoản làm giảm lợi ích kinh tế dưới dạng các khoản
tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm
giảm nguồn vốn chủ sở hữu. Nên, nếu một nghiệp vụ kinh tế phát sinh làm
tăng chi phí nghóa là làm giảm nguồn vốn chủ sở hữu do đó cách ghi chép
nghiệp vụ kinh tế phát sinh làm tăng chi phí sẽ ngược lại với cách ghi chép vào
nguồn vốn chủ sở hữu, nghóa là:
Chi phí , giá vốn
Nợ Có
Phát sinh Phát sinh
tăng giảm
Vậy, với tài khoản chi phí, giá vốn thì phát sinh tăng ghi bên Nợ, phát sinh giảm
ghi bên Có.
-14-
1.2 Hệ thống tài khoản kế toán
1.2.1 Khái niệm, nội dung
1.2.1.1 Khái niệm
Nền kinh tế là một hệ thống các quan hệ kinh tế và tuỳ theo các quan hệ
kinh tế giữa các chủ thể mà xác lập các nền kinh tế khác nhau. Để quản lý nền
kinh tế phải dựa trên cơ sở của một cơ chế quản lý thích hợp.
-15-
Nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung là nền kinh tế dựa trên cơ sở chế độ
sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất. Nhà nước xây dựng và quản lý nền kinh tế
theo môt kế hoạch thống nhất từ trung ương đến cơ sở, các doanh nghiệp hoạt
động dựa trên các chỉ tiêu kế hoạch cấp trên đề ra, hiệu quả hoạt động được
đánh giá theo mức độ hoàn thành kế hoạch và kết quả thực hiện chế độ hạch
toán kinh tế. Với đặc trưng như vậy đòi hỏi việc xây dựng hệ thống tài khoản kế
toán phải được tổ chức trên cơ sở các nguyên tắc đại chúng, công khai, đơn giản,
rõ ràng và đầy đủ. Minh hoạ hệ thống tài khoản kế toán được xây dựng theo yêu
cầu kế hoạch hoá tập trung là hệ thống tài khoản được bộ tài chính Việt Nam
ban hành theo quyết đònh 425 TC/CĐKT ngày 14/12/1970 (xem phụ lục 1.1). Hệ
thống tài khoản kế toán này gồm 11 loại ( với 99 tài khoản cấp 1) và một loại
đặc biệt (9 tài khoản cấp 1). Chỉ có loại tài sản cố đònh nói chung còn nguồn vốn
chủ yếu là vốn ngân sách cấp.
Nền kinh tế thò trường là nền kinh tế mà trong đó quan hệ kinh tế giữa
các chủ thể được biểu hiện qua mua bán hàng hoá, dòch vụ trên thò trường. Trong
đó thái độ ứng xử của từng chủ thể kinh tế hướng vào lợi nhuận theo sự dẫn dắt
của giá cả thò trường, tất cả các quan hệ kinh tế đều được tiền tệ hoá, các yếu tố
nhân tài vật lực đều là hàng hoá, tự doa sở hữu tự do kinh doanh, tự do cạnh
tranh trong khuôn khổ luật pháp, sản xuất và bán sản phẩm theo quan hệ cung
cầu. Yêu cầu quản lý trong cơ chế thò trường đòi hỏi hệ thống tài khoản phải
được xây dựng trên nguyên tắc linh hoạt, thiết thực và đầy đủ. Hệ thống tài
khoản kế toán Mỹ là một điển hình (xem phụ lục 1.2). Hệ thống này được chia
làm 6 loại tương ứng với các yếu tố của nền kinh tế thò trường là tài sản , nợ phải
tra,û nguồn vốn chủ sở hữu , doanh thu, chi phí và lãi lỗ.
Nền kinh tế thò trường có sự quản lý của nhà nước là nền kinh tế hỗn hợp
vừa có cơ chế tự điều chỉnh của thò trường vừa có cơ chế quản lý điều tiết của
Hệ thống kế toán được xây dựng dựa trên cơ sở thể chế chính trò của một
quốc gia. Tuỳ thuộc vào cách thức khác nhau trong sử dụng quyền lực, quan
niệm khác nhau về lợi nhuận và chi phí cũng hình thành nên các hệ thống tài
khoản kế toán khác nhau. Chẳng hạn, chủ nghóa tư bản Keyne ( thế kỷ XX) nội
dung tài khoản được xây dựng trong đó nội dung của chi phí không có thuế
nhưng có chi phí vốn, chỉ tính siêu lợi nhuận so với lợi nhuận bình quân; Chủ
nghóa tư bản nhà nước ( Liên Xô cũ ) nội dung của chi phí không có thuế và các
khoản lãi, mà đó là một phần lợi nhuận của hoạt động kinh doanh và là một yếu
tố cấu thành khi phân chia lợi nhuận; Còn chủ nghóa xã hội ( Việt Nam) thì lợi
nhuận chòu thuế thu nhập doanh nghiệp và lợi nhuận kế toán giống nhau, yếu tố
chi phí không gồm thuế thu nhập doanh nghiệp mà thuế này nằm trong lợi
nhuận.
1.2.2.3 Cơ sở pháp lý
Tại các quốc gia có luật kế toán nằm trong luật quốc gia (chẳng hạn Việt
Nam, Pháp, Trung Quốc …) thì hệ thống tài khoản kế toán nói chung phải hoàn
toàn tuân thủ các điều khoản ghi trong bộ luật, mọi vi phạm đều làm cho công
việc kế toán trở thành phi pháp. Việc tuân thủ các điều luật sẽ làm cho hệ
thống tài khoản kế toán thực sự hữu ích, có giá trò cho các đối tượng sử dụng.
Tại các quốc gia chưa có luật kế toán do đó tính tuân thủ chưa nghiêm, điều này
làm hạn chế giá trò của hệ thống tài khoản kế toán.
1.2.2.4 Cơ sở văn hoá, giáo dục, xã hội
Đây là yếu tố tác động đáng kể đến việc xây dựng hệ thống tài khoản kế
toán hiện nay. Yếu tố về văn hoá giáo dục xã hội được biểu hiện qua khả năng
nhận thức, trình độ hiểu biết, khả năng vận dụng lý thuyết, chế độ kế toán áp
dụng vào công tác kế toán của từng quốc gia hoặc từng đơn vò kế toán.
-18-
1.2.2.5 Xu hướng xây dựng hệ thống tài khoản kế toán của các quốc gia
Nhìn chung, trên thế giới có hai xu hướng xây dựng hệ thống tài khoản kế toán:
Xu hướng 1: Doanh nghiệp tự xây dựng hệ thống tài khoản, trên cơ sở các chuẩn
doanh nghiệp căn cứ vào các chuẩn mực kế toán và đặc điểm cụ thể của doanh
nghiệp về lónh vực kinh doanh, quy mô của doanh nghiệp và yêu cầu quản lý để
lựa chọn các tài khoản sử dụng riêng cho doanh nghiệp mình. Doanh nghiệp tự
đặt tên cho tài khoản và số hiệu của chúng.
Theo hệ thống tài khoản Mỹ dưới đây (xem phụ lục 1.2), các tài khoản
được xắp xếp vào 6 loại, tương ứng với từng yếu tố trong báo cáo tài chính: Loại
1 – Tài sản; loại 2 – Nợ phải trả; Loại 3 – Nguồn vốn chủ sở hữu; Loại 4 –
Doanh thu; Loại 5 – Chi phí; Loại 6 – Lãi lỗ. Mỗi loại tài khoản được chia
thành nhiều nhóm tài khoản khác nhau. Mỗi nhóm tài khoản cũng được xây
dựng thành những tài khoản tổng hợp và tài khoản chi tiết. Mỗi tài khoản được
ký hiệu tối thiểu 3 chữ số, không hạn chế các chữ số hiệu (có thể có 4, 5 … chữ
số). Số hiệu được đánh theo một nguyên tắc nhất quán dựa vào mức độ tổng hợp
hoặc chi tiết theo từng nội dung kinh tế được ghi vào tài khoản.
Tuy nhiên, tuỳ theo yêu cầu quản lý cụ thể, mỗi nhóm tài khoản được
đánh số hiệu khác nhau, và số hiệu của mỗi tài khoản được đánh số hiệu trong
giới hạn quy đònh cho nhóm tài khoản đó. Ví dụ, một tài khoản có thể được đánh
số hiệu là 3 số từ 100 đến 199 hoặc 4 chữ số từ 1000 đến 1999.
Nói chung, việc xây dựng hệ thống tài khoản ở Mỹ có cách gọi tên, đánh
số hiệu của các tài khoản đơn giản, chặt chẽ, dễ làm, có khả năng linh hoạt cao
tạo khả năng tư duy sáng tạo cho kế toán viên.
-20-
1.2.3.2 Hệ thống tài khoản kế toán Pháp
Hệ thống tài khoản kế toán đầu tiên ở Pháp được ban hành năm 1947, sau đó
được sửa đổi bổ sung rất nhiều vào năm 1957, được xét dêt lại toàn bộ vào
năm 1982 (do hội đồng quốc gia về kế toán soạn thảo và được phê chuẩn theo
nghò đònh ngày 27/4/1982 của Bộ Kinh tế Tài chính).
Hệ thống tài khoản năm 1982 được chia thành 09 loại, mỗi loại có nhiều tài
khoản tổng hợp và chi tiết căn cứ vào nội dung kinh tế của các nghiệp vụ kinh
tế. (Xem phụ lục 1.4 và 1.5)
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HỆ THỐNG TÀI KHOẢN
KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
2.1. Lược sử hình thành và phát triển
Lòch sử là tấm gương để nhìn lại quá khứ và là kim chỉ nam giúp ta thấy
được xu hướng phát triển tất yếu trong tương lai.
Từ ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (02/09/1945) đến
nay, cùng với sự phát triển của đất nước, hệ thống tài khoản kế toán doanh
nghiệp Việt Nam nói riêng và hệ thống chế độ kế toán nói chung không ngừng
phát triển và hoàn thiện. Quá trình phát triển của hệ thống tài khoản kế toán
doanh nghiệp Việt Nam có thể tạm chia thành 3 giai đoạn sau:
2.1.1.Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1986
Sau khi giành được độc lập (1945) cho đến những năm đầu của cuộc
kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954), kế toán nước ta chỉ đơn thuần là việc
ghi chép thu chi sơ khai trong các công xưởng, kho thóc, các cơ sở kinh tế nhỏ
của Nhà nước. Năm 1948, lần đầu tiên Bộ Tài Chính ban hành “thể lệ thu chi và
kế toán đại cương của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà”. Hoà bình lập lại
(1954) cùng với việc tiếp quản cơ sở kinh tế do chế độ phong kiến để lại, các xí
nghiệp và tổ chức kinh tế của Nhà nước lần lượt ra đời, hình thành dần hệ thống
kinh tế quốc doanh đòi hỏi cấp thiết phải có hệ thống, chế độ kế toán đầy đủ,
đồng bộ hơn. Ngày 11/10/1986, thay mặt thủ tướng chính phủ, phó thủ tướng
Phan Kế Toại đã ký nghò đònh số 1076 – TTG thành lập “Vụ chế độ kế toán”
thuộc Bộ Tài Chính, từ đó các “chế độ kế toán công, chế độ kế toán công
nghiệp, chế độ kế toán kiến thiết cơ bản” (1957), “điều lệ tổ chức kế toán nhà
nước” (Nghò đònh 175 CP); “chế độ kế toán vật liệu, kho hàng hoá, tài sản cố
-22-
đònh, kiểm kê kho…” trong những năm 1960 lần lượt ra đời và hệ thống kế toán
kép cũng bắt đầu được áp dụng (theo hệ thống tài khoản kế toán Trung Quốc).
Đến năm 1970, do yêu cầu cải tiến tổ chức quản lý xí nghiệp phục vụ
chế cấp bù lỗ đã gây ra tính ỷ lại của các doanh nghiệp, và không tạo động lực
thúc đẩy doanh nghiệp phát huy tính năng động, sáng tạo trong sản xuất kinh
doanh. Nhận thấy những nhược điểm như vậy, đến năm 1986, Nhà nước chủ
trương đổi mới kinh tế, xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng cơ
chế quản lý kinh tế phù hợp với sự vận động của các quy luật kinh tế khách
quan để phát huy tính chủ động sáng tạo của doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất
phát triển. Cùng với sự thay đổi của cơ chế quản lý kinh tế thì hệ thống kế toán
doanh nghiệp nói chung và hệ thống tài khoản kế toán nói riêng cũng phải được
thay đổi cho phù hợp.
2.1.2.Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1995
Đây là giai đoạn đầu đổi mới công tác kế toán từ cơ chế tập trung bao cấp sang
cơ chế kinh tế thò trường. Sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1986, do sai lầm
trong tổng điều chỉnh giá – lương – tiền (1985) của Nhà nước, chủ trương phát
triển nền kinh tế nhiều thành phần và mở cửa nền kinh tế đã được Đại Hội
Đảng toàn Quốc lần VI (1986) và lần VII (1991) thông qua trong chiến lược
phát triển kinh tế xã hội ở nước ta giai đoạn 1986 -1990 và 1990 -1995. Để phù
hợp với cơ chế hiện hành và đổi mới công tác kế toán, năm 1989, Bộ Tài Chính
ban hành hệ thống tài khoản kế toán thống nhất theo quyết đònh số
212TC/CĐKT ngày 15/12/1989 và được bổ sung theo Thông tư 50TC/CĐKT
ngày 20/10/1990. Hệ thống tài khoản này đã được xây dựng một cách khoa học
hơn so với hệ thống tài khoản kế toán cũ, dựa vào quá trình tái sản xuất (quá
-24-
trình tuần hoàn và luân chuyển của vốn) và tính chất cân đối giữa vốn và nguồn
vốn, giữa chi phí và thu nhập. Hệ thống tài khoản kế toán thống nhất gồm 41 tài
khoản trong bảng cân đối kế toán và 8 tài khoản ngoài bảng cân đối kế toán,
các tài khoản trong bảng được chia thành các loại như sau:
- Loại 1: Từ tài khoản 10 đến 11 : Tài sản cố đònh
- Loại 2: Từ tài khoản 20 đến 25 : Dự trữ sản xuất, kinh doanh
- Loại 3: Từ tài khoản 30 đến 38 : Chi phí
- Loại 4: Từ tài khoản 40 đến 48 : Tiêu thụ và kết quả
được khẳng đònh trong đại hội Đảng lần VIII (năm 1996) và IX (năm 2001) là
phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, đa dạng hoá các hình thức sở hữu, các
loại hình doanh nghiệp và mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Đây cũng là
giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ công tác kế toán ở nước ta.
Mở đầu giai đoạn này là hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp thống
nhất được Bộ Tài chính ban hành theo quyết đònh 1141-TC/CĐKT ngày
01/11/1995 áp dụng thống nhất cho các doanh nghiệp thuộc mọi lónh vực hoạt
động, mọi thành phần kinh tế kể từ ngày 01/01/1996. Hệ thống tài khoản kế
toán này cũng được chia làm 10 loại, từ loại 1 đến loại 9 được gọi là tài khoản
trong bảng cân đối kế toán và được đánh số từ 111 đến 911, và một loại đặc biệt
là loại 0 được đánh số từ 001 đến 009 gọi là tài khoản ngoài bảng cân đối kế
toán.
Mỗi loại được chia thành nhiều nhóm (được ký hiệu bằng 2 chữ số) khác nhau,
(Xem chi tiết ở phụ lục 1.3)
Để phù hợp với cơ chế chính sách hiện hành, hệ thống tài khoản theo
quyết đònh 1141 này đã được sửa đổi bổ sung nhiều lần qua các năm sau :