Tóm tắt Luận án Tiến sĩ Báo chí học: Xu hướng phát triển thông tin chuyên đề trên báo in Việt Nam hiện nay (Khảo sát chuyên san Hồ sơ sự kiện, Tạp chí Xây dựng Đảng, Báo Lao Động cuối tuần, - Pdf 59

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO             HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC 
GIA
  

HỒ CHÍ MINH      

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN TRI THỨC

XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ 
TRÊN BÁO IN VIỆT NAM HIỆN NAY
(Khảo sát chuyên san Hồ sơ sự kiện, Tạp chí Xây dựng Đảng, Báo Lao Động
cuối tuần, báo An ninh thế giới cuối tháng, trong 3 năm, 2012 ­ 2014)

NGÀNH: BÁO CHÍ HỌC
MàSỐ: 62.32.01.01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ BÁO CHÍ HỌC


2

HÀ NỘI – 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO             HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC 
GIA
  

HỒ CHÍ MINH      

  Tác giả luận án

Nguyễn Tri Thức


4

MỤC LỤC

Trang
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục biểu đồ, bảng, ảnh
MỞ ĐẦU

1

Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

11

1.1. Khái quát về vấn đề nghiên cứu

11

1.2. Các nghiên cứu ở nước ngoài

13

1.3. Các nghiên cứu trong nước


Chương 3: THỰC TRẠNG THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ 
TRÊN BÁO IN VIỆT NAM

83

3.1. Tổng quan về các báo, tạp chí thuộc diện khảo sát

83

3.2. Thực trạng nội dung thông tin chuyên đề trên các báo, tạp chí 
thuộc diện khảo sát

92

3.3. Thực trạng hình thức tổ chức thông tin chuyên đề trên các báo, 
tạp chí thuộc diện khảo sát

111

Chương 4: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC 
TỔ CHỨC THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ BÁO IN

127

4.1. Đánh giá về việc tổ chức thông tin chuyên đề trên báo in Việt 
Nam

127

4.2. Những yếu tố tác động đến xu hướng phát triển thông tin chuyên 


in Việt Nam hiện nay
KẾT LUẬN

177


6

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM  KHẢO
PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Xu hướng phát triển: 

XHPT

Thông tin chuyên đề: 

TTCĐ

Báo in Việt Nam: 

BIVN

Cơ quan báo chí: 

CQBC

Báo chí – Truyền thông: 

Biểu đồ  3.3. Đánh giá của bạn đọc về  thông tin chuyên đề 

96

4

trên Hồ sơ sự kiện
Biểu đồ 3.4. Tỷ lệ dung lượng thông tin chuyên đề trên Tạp 

98

5

chí Xây dựng Đảng
Biểu đồ 3.5. Số lượng bài trong chuyên đề trên An ninh thế 

100

6

giới
Bảng 3.6. Tỷ lệ thông tin chuyên đề phản ánh theo lĩnh vực  

101

7

trên Hồ sơ sự kiện
Biểu đồ 3.7. Tỷ lệ lĩnh vực phản ánh của thông tin chuyên đề 


Biểu đồ 3.11. Tỷ lệ thể loại báo chí dùng trên Lao động cuối 

119

12

tuần
Bảng 3.1. Tỷ lệ số người hài lòng về việc trình bày của Hồ 

121

13

sơ sự kiện
Biểu đồ 3.12. Tỷ lệ giới thiệu thông tin chuyên đề  trên Báo  

123

14

Lao động cuối tuần ở trang bìa
Biểu đồ 3.13. Tỷ lệ sử dụng ảnh chân dung trên Báo An ninh 

124

15

thế giới
Ảnh 4.1. Sinh viên năm thứ  tư  Khoa Báo chí, Học viện Báo 



thực tiễn? Mỗi loại hình báo chí sẽ  có sự  biến đổi như  thế  nào để  không 
chỉ  tồn tại, mà còn cùng phát triển, phát huy hết khả  năng của mỗi loại 
hình trong hệ thống BCTT thời đại toàn cầu hóa. Đó là câu hỏi đặt ra cần  
có lời giải đáp một cách thỏa đáng.
Thứ  hai, thực tế  những năm qua cho thấy, sự  phát triển mạnh mẽ 
của báo mạng điện tử và truyền hình khiến báo in gặp nhiều khó khăn. Số 
lượng phát hành các tờ báo hàng đầu trên thế giới sụt giảm đáng kể. Nhiều  
tờ báo thị trường phải giảm kỳ, thậm chí tự đình bản, do không thể cân đối 
được nguồn tài chính để duy trì hoạt động. Nhưng, loại hình báo in không 
thể  “chết”, bởi nó vẫn có những giá trị  với những đối tượng, mục đích, 
phân khúc bạn đọc khác nhau. Vấn đề đặt ra là báo in sẽ phải thay đổi như 
thế  nào về  nội dung thông tin và hình thức trình bày để  duy trì được bạn 
đọc và nguồn thu? Đây là câu hỏi đặt ra cần có lời giải đáp cả  về  mặt lý 
luận và thực tiễn.
Thứ  ba, TTCĐ, dưới nhiều hình thức khác nhau, đã được thế  giới 
thực hiện từ lâu, với lợi thế về sự phân tích, bình luận, lý giải chuyên sâu, 
thể  hiện tầm khái quát vấn đề. Việc tổ  chức TTCĐ nhằm nêu bật, chỉ  rõ 
bản chất của vấn đề, sự kiện với những thông tin đa chiều, khách quan, sự 
phân tích, bình luận, kiến giải thông tin giàu hàm lượng trí tuệ, khoa học,  
tạo sức thuyết phục cao cho công chúng. Việc làm rõ sự  cần thiết của 
XHPT TTCĐ cùng những yêu cầu cụ  thể  về  nội dung, hình thức cho phù 
hợp với mỗi mô thức thông tin khác nhau... là những câu hỏi đặt ra cần có 
sự nghiên cứu và giải đáp.
Thứ tư, hiện nay còn rất ít công trình nghiên cứu hệ thống về TTCĐ 
trên báo in. Một số tác giả các công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề tổ 
chức TTCĐ trên báo chí, nhưng còn  ở  dạng riêng lẻ, tính khái quát chưa 


11

xuất một số giải pháp, khuyến nghị  nhằm phát triển, nâng cao chất lượng 
TTCĐ trên báo in.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
­ Thứ  nhất, hệ  thống hóa những vấn đề  lý luận liên quan đến vấn 
đề  nghiên cứu; xây dựng, hình thành khung lý thuyết về  TTCĐ trên báo in 
hiện nay. Cụ thể: Làm rõ các khái niệm cơ  bản liên quan đến đề  tài, như: 
xu hướng, XHPT, thông tin, chuyên đề, TTCĐ, báo in; nêu bật vai trò của  
TTCĐ; những đặc điểm của TTCĐ báo in, như: Thông tin bám sát, đi cùng  
sự kiện thời sự; thông tin khái quát, toàn cảnh, đa chiều; thông tin có chiều  
sâu, chi tiết; thông tin sự kiện, vấn đề  có hệ  thống, tác động xã hội mạnh 
mẽ; thông tin có giá trị  học thuật, lưu trữ, tham khảo; thông tin thuộc thể 
loại chính luận báo chí; thông tin được tổ chức khoa học; thông tin được tổ 
chức hiện đại, nhiều “cửa sổ”. Trên cơ  sở  đó, nghiên cứu sinh có cơ  sở 
phân loại TTCĐ, dựa vào loại hình báo chí, đối tượng thông tin, lĩnh vực  
phản ánh, quy mô tổ chức thông tin… và chỉ ra những loại TTCĐ phổ biến.  
Đồng thời, nghiên cứu sinh đưa ra những yêu cầu đối với việc tổ  chức  
TTCĐ báo in về mặt nội dung và hình thức.
­ Thứ hai, khảo sát, đánh giá thực trạng sản phẩm TTCĐ trên báo in  
hiện nay qua một số tờ báo, tạp chí trong diện khảo sát; làm rõ đặc điểm, 
vai trò của sản phẩm TTCĐ cũng như  những yếu tố  tác động đến sản 
phẩm   TTCĐ   báo   in   hiện   nay.   Cụ   thể,   thông   qua   khảo   sát   TTCĐ   trên 
Chuyên san Hồ  sơ  sự  kiện (Tạp chí Cộng sản), Tạp chí Xây dựng Đảng,  
Báo Lao động cuối tuần và Chuyên đề  An ninh thế giới giữa tháng – cuối  
tháng (Báo Công an nhân dân), nghiên cứu sinh chỉ rõ các loại TTCĐ, đánh 
giá thực trạng nội dung, hình thức TTCĐ trên các báo, tạp chí thuộc diện 
khảo sát phù hợp với khung lý thuyết đã xây dựng ở phần trước đó. 


13


dựng mới, sẽ  là cơ  sở  để  các CQBC có thể  nghiên cứu, áp dụng vào thực  
tiễn tổ chức các dạng TTCĐ khác nhau, tùy thuộc vào mục đích, thời điểm  
tiến hành, cũng như  việc tổ  chức các mô hình thông tin chuyên đề  khác 
nhau, như thông tin sự kiện, vấn đề, chỉ dẫn, giải trí, lý luận…
­ Phạm vi nghiên cứu:Luận án đánh giá thực trạng tổ  chức TTCĐ, 
tác động, hiệu quả  của nó trên các  ấn phẩm báo in thuộc diện khảo sát,  
thời gian khảo sát,trong 3 năm, 2012­2014.
4. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
4.1. Câu hỏi nghiên cứu
­ Báo chí sẽ có những biến đổi mạnh mẽ trong thời gian tới, bởi tác  
động của các thành tựu khoa học kỹ thuật có liên quan đến BCTT ?
­ Các loại hình báo chí sẽ có nhiều biến đổi, tiếp tục cạnh tranh gay  
gắt trong thời gian tới ?
­ Báo in Việt Nam tiếp tục gặp nhiều bất lợi trong quá trình cạnh  
tranh  ở  thời đại số, và buộc phải tìm nhiều giải pháp phù hợp để  tồn tại 
cùng các loại hình báo chí khác?
­ Việc phát triển TTCĐ sẽ  là một trong những thế  mạnh, là sự  lựa  
chọn của báo in khi không còn thế  mạnh về  việc đưa tin so với các loại  
hình báo chí khác, bởi tính định kỳ, quy trình xuất bản?
4.2. Giả thuyết nghiên cứu
Đề  tài “Xu hướng phát triển thông tin chuyên đề  trên báo in Việt  
Nam hiện nay”  (Khảo sát Chuyên san Hồ  sơ  sự  kiện, Tạp chí Xây dựng  
Đảng, Báo Lao động cuối tuần, Báo An ninh thế giới giữa tháng ­ cuối tháng,  
trong 3 năm, 2012­2014) được thực hiện nhằm kiểm chứng giả  thuyết cho  
rằng báo in sẽ  tiếp tục phải đương đầu với nhiều thách thức trong tương  
lai và XHPT TTCĐ là một trong những sự  lựa chọn quan trọng của BIVN  


15



­   Phương   pháp   nghiên   cứu   bảng   hỏi   (an­két):   Phương   pháp   này 
được tiến hành thông qua việc lập bảng hỏi, phiếu điều tra nhằm thu nhận 
các ý kiến, đánh giá của công chúng về  đối tượng nghiên cứu của đề  tài. 
Phương pháp này chỉ  tiến hành riêng cho chuyên san Hồ  sơ  sự  kiện, kết  
quả  cũng chỉ phù hợp với rất ít nội dung có liên quan đến thực trạng việc  
tổ chức TTCĐ trên chuyên san Hồ sơ sự kiện.
­  Phương pháp phỏng vấn sâu (phương pháp chuyên gia): Phương 
pháp này được tiến hành thông qua việc phỏng vấn sâu những nhà khoa  
học, các chuyên gia, nhà báo có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của 
luận án, nhằm có cái nhìn về  thực trạng tổ  chức TTCĐ trên BIVN, chỉ  ra 
những thế  mạnh, hạn chế  của nó đồng thời đưa ra những dự  báo khách  
quan về XHPT TTCĐ trên BIVN trong tương lai.
­   Phương   pháp  tọa  đàm,   thảo  luận  nhóm:  Để   có   được   kết  quả 
khách quan, tác giả luận án tiến hành tọa đàm, thảo luận nhóm giữa một số 
nhà báo, sinh viên báo chí tại tòa soạn, trường đại học... về  các vấn đề 
chính liên quan đến TTCĐ trên BIVN. Đặc biệt, buổi tọa đàm tại  chuyên  
san Hồ sơ sự kiện, Tạp chí Cộng sản thu hút đông đảo biên tập viên, cộng 
tác viên thường xuyên của Hồ sơ sự kiện, những người am hiểu nghiệp vụ 
báo chí, đặc biệt là báo in và trực tiếp thực hiện các chuyên đề  nên có 
những nhận xét xác đáng về  các vấn đề  liên quan như: thực trạng việc tổ 
chức   TTCĐ,   những   ưu   điểm,   hạn   chế,   giải   pháp   nâng   cao   chất   lượng 
TTCĐ trong thời gian tới. 
­ Phương pháp dự  báo: Nghiên cứu sinh sử dụng các phương pháp 
dự báo định đính và dự báo định lượng. Với phương pháp dự báo định tính, 
nghiên cứu sinhphân tích định tính dựa vào suy đoán, cảm nhận về  thực 
tiễn cũng như  dự  báo XHPT TTCĐ dựa trên kinh nghiệm nghiên cứu và  
thực tiễn của cá nhân. Với phương pháp dự  báo định lượng, nghiên cứu 




18

Hồ  sơ  sự kiện (số  chuyên đề), cùng việc nghiên cứu lý thuyết khẳng định 
rõ thế mạnh, hạn chế của thông tin chuyên đề trên báo in.
­ Trên cơ  sở  phân tích các cấp độ  của thông tin chuyên đề  theo quy 
mô tổ chức thông tin, với việc phân tích chuyên sâu, đáp ứng hiểu biết sâu  
sắc về vấn đề, sự kiện nào đó; luận án khẳng định đây là lợi thế của báo in 
trong việc phát huy thế  mạnh của mình trong cuộc cạnh tranh gay gắt với 
các loại hình báo chí khác, và truyền thông xã hội trong tương lai.
­ Trên cơ sở nghiên cứu, hệ thống hóa lý thuyết về  thông tin chuyên 
đề trên báo in, khảo sát, đánh giá thông tin chuyên đề trên báo in Việt Nam, 
luận án là sự tổng hợp làn đầu tiên trong nghiên cứu về tính chất, hiệu quả 
của phương thức thông tin chuyên đề ở Việt Nam.
­ Luận án là cơ sở có tính thuyết phục để khẳng định rằng báo in sẽ 
tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức trong tương lai và buộc phải tìm 
những “thị trường ngách” để tồn tại, thông qua việc duy trì, phát huy những  
thế mạnh chuyên sâu, đa chiều, phản biện của mình.
­ Những kết quả  nghiên cứu mới của luận án là cơ  sở  lý luận cho  
việc định hướng hoạt động báo chí trong thực tiễn. Đây là tài liệu tham 
khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu, nhà quản lý, nhà báo, giảng viên và  
sinh viên báo chí về thông tin chuyên đề trên báo in, cũng như các loại hình 
báo chí khác. 
7. Ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn của đề tài
Đề  tài  “Xu hướng phát triển thông tin chuyên đề  trên báo in Việt  
Nam hiện nay”  (Khảo sát Chuyên san Hồ  sơ  sự  kiện, Tạp chí Xây dựng  
Đảng, Báo Lao động cuối tuần, Báo An ninh thế giới giữa tháng ­ cuối tháng,  
trong 3 năm, 2012­2014) là một đề tài có những ý nghĩa cụ thể sau:
+Ý nghĩa lý luận:


20

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, đề tài 
gồm 5 chương,18tiết, 191 trang, 15hình minh họa. Cụ thể:
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thông tin chuyên đề trên báo chí – những vấn đề lý luận  
cơ bản
Chương 3: Thực trạng thông tin chuyên đề trên báo in Việt Nam
Chương   4:   Những   vấn  đề   đặt  ra  đối  với   việc  tổ   chức   thông  tin 
chuyên đề báo in
Chương 5: Dự  báo xu hướng phát triển thông tin chuyên đềở  Việt 
Nam và một số giải pháp, khuyến nghị
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Khái quát về vấn đề nghiên cứu
Thời đại bùng nổ truyền thông, với sự hỗ trợ tích cực của các thành 
tựu về khoa học công nghệ, đặc biệt là thiết bị di động thông minh và mạng  
Internet giúp báo chí phát triển mạnh mẽ, với những khác biệt rõ ràng so với 
trước đây, cả về  nội dung lẫn hình thức chuyển tải thông tin. Công chúng 
không chỉ  có nhiều cơ  hội lựa chọn thông tin, mà họ  còn là những người  
chuyển tải thông tin, hình  ảnh đầu tiên tại nơi sự  kiện diễn ra bằng các 
thiết bị  di độngthông minh có kết nối Internet... Nói như  tác giả  Mitchell  
Stephens, trong cuốn “Hơn cả tin tức – tương lai của báo chí”, đó là: 
“Mạng Internet khiến ai cũng có thể  ra một “tờ  báo” của  
riêng mình. Khi luôn có cơ hội rằng điều ta “đăng lên mạng” có thể  
tiếp cận được một lượng khán giả  cực kỳ  lớn, khi điều ta chọn để  


21


22

Facebook đối với những thông tin mà báo chí, các nhà xuất bản cung cấp...  
Tuy nhiên, “sự  bắt tay” giữa MXH này và các CQBC sẽ  tác động không 
nhỏ   đến   sự   phát   triển   của   báo   chí   trong   tương   lai.   Vào   tháng   3­2016,  
Facebook cho ra đời tính năng truyền hình trực tiếp (live) từ  Facebook cá 
nhân cho tất cả người dùng, khiến mỗi chủ tài khoản của MXH này đều có 
thể  làm truyền hình trực tiếp. Điều này tác động mạnh đến các loại hình 
báo chí, và cần có những sự  đổi thay về  luật pháp, sự  hành nghề  của cơ 
quan quản lý báo chí và các CQBC, nhà báo.
Vấn đề  đáng chú ý khác,  sự  phát triển mạnh mẽ  của báo mạng 
điện tử, truyền hình khiến báo in đã, đang và sẽ  còn bị  chao đảo dữ  dội.  
Số lượng phát hành các tờ báo hàng đầu đều sụt giảm, thậm chí giảm tới 
gần 50% so với thời hoàng kim. Nhiều tờ  báo phải giảm kỳ, thậm chí 
đình bản,  do không  thể  tự  cân   đối  đượ c  tài  chính  để  duy  trì  sự  hoạt 
động. Mới đây nhất, ngày 26­3­2016,  The Independent ­ một trong nh ững  
tờ  báo uy tín nhất  ở  Anh ­ đã ra mắt  ấn phẩm cuối cùng để  ngừng xuất 
bản báo giấy, chỉ còn tập trung vào phát triển phiên bản điện tử, bởi trực  
tuyến sẽ là xu hướng của tương lai. T ại Vi ệt Nam, k ể t ừ ngày 1­4­2016,  
tờ  Thể  thao 24h thông báo tạm ngừng xuất bản trong 3 tháng để  cơ  cấu 
lại hoạt động…
Trong những sự chuyển hướng, thích ứng đầy khó khăn của báo in,  
việc tổ  chức TTCĐ theo các hình thức khác nhau, nhằm phục vụ  các đối 
tượng bạn đọc riêng biệt, đặc biệt là việc tổ  chức TTCĐ theo quy mô về 
nội dung thông tin chuyên sâu về một chủ đề, đề  tài nào đó, với những lợi  
thế  về  sự  phân tích, bình luận, lý giải một cách đa chiều, khái quát, giàu  
hàm lượng trí tuệ, mang định hướng vấn đề  được sử  dụng, coi đó là thế 
mạnh của mình, giúp bạn đọc thấy được những thông tin bản chất, tổng  
quan về các vấn đề được đề cập, chuyển tải. Có thể khẳng định rằng, đây 




24

những hướng đi độc đáo, phù hợp với yêu cầu của bạn đọc, góp phần nâng 
cao uy tín, vị  thế  của báo chí trong đời sống chính trị­xã hội. Báo chí Mỹ 
nhanh chóng vượt qua việc thông tin kiểu tường thuật, mạnh dạn đột phá 
vào việc cung cấp những thông tin chuyên sâu, mang tính lý giải, bình luận, 
định hướng cho công chúng. Có thể  khẳng định rằng, sau khi xuất hiện  
không lâu, báo in đã tổ chức TTCĐ theo những lĩnh vực, phạm vi phản ánh 
khác nhau, như chính trị, kinh tế, xã hội, quốc gia, khu vực, thế giới... Tiếp 
đến, các dạng TTCĐ cho lứa tuổi, giới tính, ngành nghề... dần xuất hiện,  
phục vụ những đối tượng công chúng khác nhau.
Thực tế, nhiều thập niên qua có rất nhiều đề  tài nghiên cứu về  các 
vấn đề của báo chí hiện đại; sự tác động của toàn cầu hóa đến các phương  
tiện truyền thông đại chúng; những xu hướng phát triển của báo chí hiện 
đại; cách tổ  chức thông tin, trình bày báo chí; những vấn đề  liên quan đến 
tương lai của báo in trong kỷ  nguyên số... Theo tìm hiểu của nghiên cứu 
sinh, các cuốn sách, những công trình nghiên cứu, các bài viết, bài nghiên 
cứu đăng tải trên các phương tiện truyền thông đại chúng có liên quan trực  
tiếp đến TTCĐ thường chỉ  mổ  xẻ  một khía cạnh, bộ  phận nào đó hoặc 
gián tiếp có liên quan chứ không đề  cập một cách sâu đậm, riêng biệt, hệ 
thống. Việc có đề  cập đến TTCĐ cũng hết sức khái lược, mang tính nhận 
diện và thiên về  các kỹ  năng, kinh nghiệm viết bài, tổ  chức các loại hình  
TTCĐ trên báo chí.
1.2.2. Sách
+Nhóm sách về lý luận và thực tiễn hoạt động báo chí 
­  E.P. Prôkhôrốp;  Cơ  sở  lý luận của báo chí (tập 1,2 ­ 2005); Nxb 
Thông tấn, Hà Nội [96]. Ở tập 1, tác giả giới thiệu về quá trình xuất hiện 
và phát triển của báo chí; bản chất của thông tin đại chúng; vị trí, vai trò và 

­ Claudia Mast;  Truyền thông đại chúng, công tác biên tập  (2003), 
Nxb Thông tấn, Hà Nội [93]. Cuốn sách gồm 7 chương, ngoài chương 1 đề 



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status