BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRỪỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH
*****
NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG
TÁC ĐỘNG CỦA
NỢ NƯỚC NGOÀI ĐẾN
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 9.34.02.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRỪỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH
*****
NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG
TÁC ĐỘNG CỦA
cực của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn nghiên
cứu. Ngoài ra, các biến số về độ mở nền kinh tế, tỷ giá cũng như lạm
phát cũng tác động đến tăng trưởng kinh tế.
Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đã sử dụng phương pháp định
lượngVECM để xem xét, đánh giá tác động của ngưỡng nợ nước ngoài
đến tăng trưởng kinh tế. Kết quả đã cho thấy tồn tại ngưỡng nợ nước
ngoài trong giai đoạn nghiên cứu. Đây là cơ sở quan trọng để đưa ra
các khuyến nghị chính sách trong công tác quản lý, sử dụng nợ nước
ngoài của Việt Nam trong tương lai.
Tóm lại, nghiên cứu là bằng chứng thực nghiệm để minh
chứng về tác động tích cực của nợ nước ngoài của Việt Nam, là cơ sở
đưa ra các khuyến nghị chính sách cho các nhà quản lý, hoạch định
chính sách về vấn đề này để sử dụng hiệu quả nguồn vốn nợ nước
ngoài trong đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội quốc gia.
Từ khóa: nợ nước ngoài, tăng trưởng kinh tế, Việt Nam.
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU
1.1. Tính cấp thiết của luận án
Xét dưới góc độ lý thuyết và thực tiễn, mối quan hệ giữa nợ
nước ngoài và tăng trưởng kinh tế là chủ đề được nhiều nhà nghiên
cứu quan tâm. Các lý thuyết về nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế
tập trung giải thích mối quan hệ này dựa trên các mô hình kinh tế động
trong các nền kinh tế mở với một bên là vay nợ nước ngoài để phát
triển kinh tế, qua đó sử dụng nguồn lực tiết kiệm bên ngoài để đầu tư
vào nền kinh tế. Điều này càng trở nên đúng với các nước đang phát
triển khi sử dụng nguồn lực bên ngoài dồi dào, công nghệ hiện đại để
rút ngắn thời gian phát triển với hy vọng thoát nghèo, đuổi kịp các
nước phát triển, tăng thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, bên còn lại
là vấn đề hiệu quả sử dụng vốn vay và gia tăng nghĩa vụ nợ trong
quan sát nhỏ (dưới 30 mẫu quan sát) hoặc giai đoạn nghiên cứu có
nhiều biến động. Dựa trên những phân tích từ thực tiến và lý thuyết
nêu trên, luận án nhận thấy chưa có nghiên cứu nào về đánh giá tác
động của nợ nước ngoài cũng như một số biến vĩ mô khác (độ mở, tỷ
giá, lạm phát) đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam trên cơ sở kết hợp
các dữ liệu có tần suất khác nhau trong mô hình nghiên cứu. Các mô
hình nghiên cứu trước đó chủ yếu sử dụng mô hình ARDL, VECM
cho các biến số có cùng tần suất (Moore và Thomas, 2010). Vì vậy,
nghiên cứu tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế của
Việt Nam trên cơ sở kết hợp các biến nghiên cứu có tần suất khác nhau
bằng phương pháp MIDAS chính là khoảng trống nghiên cứu của luận
án.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là đánh giá tác động của nợ nước
ngoài đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam bằng mô hình nghiên cứu định
lượng. Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận án sẽ hướng đến hai mục
tiêu cụ thể sau:
(i) Đánh giá thực nghiệm tác động của nợ nước ngoài này đến tăng
trưởng kinh tế của Việt Nam bằng các mô hình định lượng với dữ liệu
vĩ mô được các tổ chức quốc tế công bố công khai.
(ii) Phân tích mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế
nhằm xác định ngưỡng nợ nước ngoài cho Việt Nam.
1.4. Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là tác động của nợ nước ngoài
đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000-2016, dữ liệu được
thu thập theo quý.
1.5. Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu
Để đánh giá tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế
Thứ nhất, nghiên cứu thực nghiệm bằng mô hình MIDAS cho
phép kết hợp dữ liệu với các tần suất khác nhau mà không bỏ sót các
thông tin quan trọng như các mô hình khác khi quy các biến số về
cùng một tần suất, góp phần cập nhật được dữ liệu nghiên cứu do một
số năm nợ nước ngoài không được cập nhật dữ liệu theo quý. Kết quả
nghiên cứu cho thấy tác động tích cực của nợ nước ngoài đến tăng
trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2000-2016, so với nghiên
cứu trước đây về vấn đề này của Nguyễn Hoàng Bảo và Đoàn Kim
Thanh (2009) lại cho kết quả tiêu cực.
Thứ hai, luận án đã đánh giá tác động của ngưỡng nợ nước
ngoài đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam trên cơ sở chỉ ra sự tồn tại
ngưỡng nợ này dựa trên mô hình VECM với biến giả ngưỡng nợ là
biến ngoại sinh. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy ngưỡng nợ
có tác động đến tăng trưởng và có ý nghĩa thống kê trong ngắn hạn
cũng như tác động tích cực của nợ nước ngoài đến tăng trưởng trong
dài hạn. So với các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ phi tuyến
giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế Việt Nam của Nguyễn Hữu
Tuấn (2012), Nguyễn Ngọc Thạch và Trần Thị Kim Oanh (2016), mô
hình phi tuyến của luận án đã sử dụng dữ liệu theo tần suất quý để
tăng số quan sát của mẫu nghiên cứu cũng như tăng độ tin cậy cho kết
quả nghiên cứu.
Thứ ba, luận án đã xem xét tác động của nợ nước ngoài đến
tăng trưởng kinh tế Việt Nam dưới hai góc độ tuyến tính và phi tuyến.
Các nghiên cứu trước đây về nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế của
Việt Nam chủ yếu nghiên cứu dưới góc độ tuyến tính.
1.7. Khung nghiên cứu của luận án
Hình 1.1. Khung nghiên cứu của luận án
TÁC ĐỘNG NỢ NƯỚC NGOÀI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
hiểu là các khoản nợ của người không cư trú vay người cư trú của một
nền kinh tế, không phân biệt pháp nhân hay thể nhân, nhưng phải chịu
trách nhiệm trả nợ đối với các khoản vay nợ của mình, phù hợp với
các qui định của pháp luật hiện hành.
2.1.2. Phân loại nợ nước ngoài
Theo IMF (2013), phân loại nợ nước ngoài dựa trên chủ thể đi
vay, cho vay và điều kiện vay. Nếu căn cứ vào chủ thể cho vay thì
gồm chủ nợ chính thức và chủ nợ tư nhân. Nếu căn cứ vào chủ thể đi
vay thì gồm nợ nước ngoài khu vực công và nợ nước goài khu vực tư
nhân. Cuối cùng, nếu căn cứ vào điều kiện vay thì có vay ưu đãi
(ODA) và vay không ưu đãi.
2.1.3. Tăng trưởng kinh tế
Todaro và Smith (2006) xem tăng trưởng kinh tế là quá trình gia
tăng năng lực sản xuất của quốc gia để mang lại mức tăng sản lượng
và thu nhập. Chaudhuri (1989), tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên của
sản lượng hàng hóa và dịch vụ mà sự tăng lên này được duy trì trong
thời gian dài. Tóm lại, tăng trưởng kinh tế được hiểu là sản xuất hàng
hóa, dịch vụ tăng lên trong một quốc gia và cùng với nó là thu nhập
trung bình tăng, đồng thời tạo ra sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế.
2.1.4. Lý thuyết về tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh
tế
2.1.4.1. Mô hình hai khoảng cách
Chenery và Strout (1966) trong mô hình hai khoảng cách trên cơ
sở phân tích tác động nguồn vốn bên ngoài đến tăng trưởng kinh tế
trên cơ sở phân tích khung lý thuyết các yếu tố đầu vào cho nền kinh
tế. Mô hình phân tích dựa trên nghiên cứu của Chenery và Bruno
(1962) như sau:
Y=C+I+X-M
- Bacha (1990), Taylor (1994) đã đưa thêm khoảng cách ngân
sách (Fiscal gap-thiếu hụt ngân sách) vào mô hình ba khoảng cách.
Theo Bacha, chính phủ các nước đang phát triển bội chi ngân sách để
đầu tư phát triển để trong xây dựng cơ sở hạ tầng và các ngành công
nghiệp làm nền móng cho phát triển đầu tư tư nhân. Khi đó các khoản
bội chi này được bù đắp thông qua các khoản vay nước ngoài. Mô
hình ba khoảng cách tiếp cận nợ công nói chung và nợ nước ngoài nói
riêng trên cơ sở kiểm soát thâm hụt ngân sách. Để tăng trưởng kinh tế
bền vững, các quốc gia cần thu hẹp ba khoảng cách này. Một trong
những biện pháp để thu hẹp là sử dụng nguồn lực bên ngoài như FDI,
FII, ODA.. Mô hình ba khoảng cách nhấn mạnh việc điều chỉnh để
cân bằng giữa ba khoảng cách. Nếu khoảng cách ngân sách lớn hơn
khoảng cách tiết kiệm nên giảm chi tiêu chính phủ, tốc độ tăng đầu tư
phải phù hợp với tăng tiết kiệm trong tiêu dùng của người dân. Nếu
khoảng cách thương mại lớn hơn khoảng cách ngân sách nên tăng
nguồn thu thông qua thuế và gia tăng hoạt động xuất siêu để giảm
khoảng cách thương mại.
2.1.4.3. Cơ chế truyền dẫn
Kamin và cộng sự (1989) nghiên cứu các kênh tác động của nợ
nước ngoài đến tăng trưởng thông qua ba kênh truyền dẫn, (i) thông
qua kênh đầu tư, (ii) tổng cầu, (iii) nghĩa vụ trả nợ trong tương lai. Đối
với kênh đầu tư, các nước bù đắp nguồn vốn thiếu hụt bằng cách tham
gia thị trường vốn quốc tế. Khi các nguồn vốn vay được đầu tư hiệu
quả sẽ tăng GDP cho nền kinh tế. Đối với kênh tổng cầu, nợ nước
ngoài tác động đến tăng trưởng kinh tế thông qua thu nhập bình quân
đầu người. Vay nước ngoài làm cho chi tiêu của khu vực công và tư
nhân tăng lên. Việc gia tăng chi tiêu khu vực tư nhân sẽ ảnh hưởng
đến chính sách tài khóa, dẫn đến gia tăng tổng cầu và sản lượng cho
phí lãi
vay
Phần bù
rủi ro
Chi phí sản
xuất khu vực
công
Thuế đánh vào
thu nhập
Năng suất
lao động
GDP
Cung
lao
động
Khác
Nguồn: Nautet và Meensel (2011).
Nautet và Meensel (2011) cho rằng nợ công và nợ nước ngoài tác
động đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn thông qua khoảng cách tài
khóa. Cơ chế thực hiện được mô tả trên cơ sở khi tiết kiệm quốc gia
thấp được bù đắp thông qua vay nợ nước ngoài để bù đắp thâm hụt
ngân sách. Điều này đồng nghĩa trong dài hạn lãi suất sẽ tăng, kéo theo
hệ quả làm đầu tư giảm, dẫn đến tích lũy vốn giảm và làm giảm năng
suất lao động. Bên cạnh đó, nợ tăng cao làm cho nghĩa vụ nợ tăng dẫn
ngoài nước, hiệu quả phân bổ và sử dụng vốn cũng như thời điểm trả
nợ.
Were (2001) cũng đã nghiên cứu tác động của nợ nước ngoài đến
tăng trưởng kinh tế của Keyna giai đoạn 1970-1995 bằng phương pháp
VECM. ). Kết quả nghiên cứu cho thấy nợ nước ngoài tác động tiêu
cực đến tăng trưởng kinh tế và đầu tư tư nhân tại Keynea, nợ nước
ngoài tăng 1% làm tăng trưởng GDP thực giảm 0.05%.
Adegbite và cộng sự (2008) nghiên cứu nợ nước ngoài ở Nigeria
giai đoạn 1975-2005 cho thấy nợ nước ngoài có tác động tiêu cực đến
thu nhập quốc gia. Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến tăng trưởng
xuất khẩu, tỷ lệ nợ nước ngoài trên GDP, tỷ lệ đầu tư trên GDP và tỷ
lệ tiết kiệm có tác động đến tăng trưởng kinh tế của Nigeria trong giai
đoạn nghiên cứu, trong đó tăng trưởng xuất khẩu, nợ nước ngoài tác
động tích cực đến tăng trưởng kinh tế.
Mahmud và Shahida (2012) đã nghiên cứu tính độc lập của nền
kinh tế Bangladesh so với nợ nước ngoài của chính phủ và được chính
phủ bảo lãnh ở cả góc độ ngắn hạn và dài hạn theo mô hình VECM.
Tác giả đã sử dụng bộ dữ liệu chuỗi thời gian theo năm giai đoạn 19742010. Vấn đề đặt ra thông qua nghiên cứu này là sử dụng hiệu quả nợ
nước ngoài cũng như quan tâm đến lãi suất vay, không vay nợ bằng
mọi giá và nên thay thế nợ nước ngoài bằng nguồn lực trong nước trên
cơ sở gia tăng tiết kiệm nội địa, đẩy mạnh xuất khẩu bằng sử dụng
nguồn lực trong nước. Bên cạnh đó, minh bạch thông tin cũng như
giảm tỷ lệ tham những cũng là các vấn đề quan tâm khi sử dụng nợ
nước ngoài.
Adamu và Rasiah (2016) đã nghiên cứu nợ nước ngoài của
Nigeria giai đoạn 1970-2013 bằng mô hình ARDL. Kết quả nghiên
cứu cho thấy trong dài hạn nợ nước ngoài tác động tiêu cực đến tăng
trưởng kinh tế với tỷ lệ -0.069%. Tuy nhiên, chỉ số ổn định nợ nước
nghiên cứu cũng cho thấy tác động của thâm hụt ngân sách đến nợ
nước ngoài và ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.
Mohamed (2013) đã nghiên cứu tác động của nợ nước ngoài trong
ngắn hạn và dài hạn đến tăng trưởng kinh tế của Tunisia giai đoạn
1970-2010 bằng mô hình VECM. Kết quả nghiên cứu cho thấy nợ tác
động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn nghiên cứu, cứ
1% nợ tăng làm tăng trưởng kinh tế giảm 0.15-0.17%. Về dài hạn, cứ
1% nợ tăng làm tăng trưởng kinh tế giảm 0.27%. Ngoài ra, nghiên cứu
cũng chỉ ra sự tồn tại đường cong Laffer nợ với ngưỡng nợ là 30%
GDP.
Daud (2016) đã nghiên cứu tác động của nợ chính phủ tới tăng
trưởng kinh tế Malaysia trong giai đoạn 1996Q1-2011Q4 bằng mô
hình ARDL. Tác giả đã xem xét hai mô hình với biến GDP và INV là
biến phụ thuộc, trong mỗi mô hình lại xem xét thành hai mô hình với
các biến độc lập khác nhau. Kết qủa nghiên cứu cho thấy tồn tại quan
hệ phi tuyến tính trong dài hạn giữa nợ chính phủ và tăng trưởng kinh
tế với ngưỡng nợ được tính toán là khoảng 362.386 triệu RM (đồng
tiền Malaysia), trong khi nợ Chính phủ hiện tại đã là 456.128 triệu
RM. Do đó, nghiên cứu chỉ ra là nợ chính phủ tác động tiêu cực tới
tăng trưởng kinh tế của Malaysia trong giai đoạn nghiên cứu.
CHƯƠNG 3. MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1. Mô hình nghiên cứu
3.1.1. Mô hình tác động tuyến tính
Mục tiêu nghiên cứu thứ nhất, dựa trên các mô hình thực nghiệm
của các nghiên cứu trước, luận án xây dựng mô hình nghiên cứu tác
đông nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế. Mô hình nghiên cứu dựa
trên nghiên cứu của Pattillo và các cộng sự (2002). Việc lựa chọn các
EXD thể hiện tỷ lệ nợ nước ngoài so với GDP, đơn vị tính là
% GDP, dữ liệu tính theo năm. Biến này được sử dụng phổ
biến trong các nghiên cứu về nợ nước ngoài như của Fosu
(1996), Were (2001), Pattillo (2002), Clements (2005), Ayadi
(2008), Tokunbo và cộng sự (2010) và Korkmaz (2015). Kết
quả nghiên chứ cho thấy nợ nước ngoài tác động cùng chiều
hoặc ngược chiều đến tăng trưởng kinh tế.
OPE là độ mở của nền kinh tế, được tính bằng cách lấy giá trị
xuất nhập khẩu so với GDP, đơn vị tính là %/GDP theo quý.
Chỉ tiêu này được sử dụng trong các nghiên cứu của Clements
(2005), Tokunbo và cộng sự (2010), Daud và cộng sự
(2003)…
M2 là cung tiền trong nền kinh tế, tính theo % thay đổi giữa
các kỳ nghiên cứu của năm này so với năm trước, dữ liệu theo
tháng. Chỉ tiêu này được sử dụng trong các nghiên cứu của
Mohamed (2013).
được sử dụng trong các nghiên cứu Clements (2005), Adegbite
và cộng sự (2008)…
EXD là biến tỷ lệ nợ nước ngoài so với GDP, đơn vị tính là %
GDP, dữ liệu tính theo quý. Các nghiên cứu của Pattillo
(2002), Clements (2005), Adegbite và cộng sự (2008), Ayadi
(2008), Tokunbo và cộng sự (2010) và Korkmaz (2015) sử
dụng biến này đánh giá tác động đến tăng trưởng kinh tế. Kết
quả nghiên cứu cho thấy nợ nước ngoài tác động cùng chiều
hoặc ngược chiều đến tăng trưởng kinh tế.
Bảng 3.1. Mô tả các biến dùng trong mô hình nghiên cứu
BIẾN
STT
Ý NGHĨA
DẤU KỲ VỌNG
Biến phụ thuộc
GDP
1
Tốc độ tăng trưởng GDP/năm
1
EXD
Biến độc lập
Tỷ trọng nợ nước ngoài/GDP
Tỷ giá hối đoái thực
+
6
DUM
Biến giả
+
OPE là biến độ mở của nền kinh tế, được tính bằng cách lấy
giá trị xuất nhập khẩu so với GDP, đơn vị tính là %/GDP theo
quý. Chỉ tiêu này được sử dụng trong các nghiên cứu của
Clements (2005), Tokunbo và các cộng sự (2010), Daud và
cộng sự (2003)…
DUM là biến giả, thể hiện tác động của ngưỡng nợ nước ngoài
đến GDP, Ϭ=0 khi ngưỡng nợ nước ngoài lớn hơn tỷ lệ nợ
nước ngoài thực tế tại các thời điểm nghiên cứu và ngược lại
Ϭ=1 khi ngưỡng nợ nước ngoài nhỏ hơn tỷ lệ nợ nước ngoài.
lường mức độ điều chỉnh từ sự mất cân bằng của thời kỳ trước.
3.3. Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu nghiên cứu là dữ liệu chuỗi thời gian theo qúy được thu
thập từ nhiều nguồn khác nhau trong giai đoạn quý I/2000 – quý
IV/2016. Việc lựa chọn giai đoạn này để nghiên cứu đảm bảo tính
khách quan và nhất quán sau khi Việt Nam đã xử lý xong các khoản
nợ trước đây với Liên Xô. Các nguồn dữ liệu được các tổ chức quốc
tế công khai như Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng phát triển
Châu Á (ADB), Ngân hàng thế giới (WB) và Tổng cục thống kê Việt
Nam (GSO). Bên cạnh đó, các nguồn dữ liệu khác được sử dụng trong
luận án đều có nguồn rõ ràng và chính thống.
3.4. Tóm lược
Luận án này sử dụng mô hình MIDAS để kiểm tra tác động của
nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Luận án cũng đo
lường và đánh giá ngưỡng nợ nước ngoài bằng mô hình VECM. Với
các mô hình và dữ liệu được trình bày ở phần này, chương tiếp theo
sử dụng mô hình trên để trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm.
CHƯƠNG 4. THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Thống kê mô tả
Mô tả thống kê được trình bày trong Bảng 4.1 cho thấy biến GDP,
CPI, EX, M2 và EXD có giá trị trung bình và trung vị gần như bằng
nhau, không chênh lệch nhiều. Độ nghiêng các biến OPE, CPI, EX và
M2 có độ nghiêng lớn hơn 0. Các biến OPE, CPI, EX và EXD có độ
nghiêng nhỏ hơn 3. Các giá trị này cho biết hình dáng phân phối của
các biến nghiên cứu trong mô hình định lượng.
Bảng 4.1. Thống kê mô tả các biến trong nghiên cứu
24.49
38.68
Giá trị lớn nhất
9.26 1,216.04 153.51 8.2
73.53
43.69
Giá trị nhỏ nhất
3.14
123.70
47.60 -4.49 10.39
29.22
Độ lệch chuẩn
1.24
318.50
38.03 2.66
Jarque-Bera
0.045
6.22
7.50
1.65 237.76
Xác suất
0.977
Tổng
454.54 34,448
Độ nghiêng
Số quan sát
68
CPI
EX
0.0445 0.0234 0.439
68
OPE
EX(-1)
Độ dốc
EXD
Beta 1
Beta2
Độ dốc
M2
Beta 1
Beta2
R2
R2 điều chỉnh
Hệ số
3.6598
0.303
-0.218
0.114
0.0102
-0.0726
0.9905
0.9810
0.9760
0.03742
0.1303
0.9320
Giá trị p
0.2669
0.0678
trưởng GDP với biến nợ nước ngoài theo đường cong bậc hai và xác
định điểm tối đa. Mô phỏng đường cong Laffer nợ được mô tả như ở
Hình 4.1. Đỉnh của đường cong này được xem như là ngưỡng nợ tối
ưu cho phát triển kinh tế, kết quả cho thấy ngưỡng nợ nước ngoài của
Việt Nam là 21.5%/quý.
Hình 4.1. Ngưỡng nợ nước ngoài của Việt Nam
4.3.2. Kết quả mô hình VECM
Tiến hành kiểm định mối quan hệ đồng liên kết nhằm chứng minh mối
quan hệ dài hạn giữa các biến trong mô hình thông qua kiểm định
Trace và Max-Eigen với bậc trễ tương ứng là 3 (Bảng 4.3). Từ đó lựa
chọn mô hình VECM tốt nhất. Kết quả cho thấy phương trình 4 (có
hằng số và có xu hướng trong phương trình đồng liên kết).
Bảng 4.3. Độ trễ của mô hình nghiên cứu
Với phương trình 4, bậc trễ là 3, nghiên cứu tiếp tục lựa chọn số
đồng liên kết cho mô hình bằng kiểm định Trace và Max-Eigen cho
phương trình đồng liên kết được lựa chọn. Kết quả cho thấy có 2 liên
hệ đồng liên kết theo kiểm định Trace và 1 liên hệ đồng liên kết theo
kiểm định Max – Eigen giữa các biến trong mô hình ở mức ý nghĩa
5%, phản ánh mối quan hệ tương quan dài hạn của mô hình VECM.
Tiến hành ước lượng hồi qui với VECM để xác định tác động và
tương quan giữa các biến trong mô hình tương ứng với 2 đồng liên kết
đã tìm ra ở bước 3. Kết quả ước lượng mô hình VECM cho thấy các
biến đều có dấu như kỳ vọng. Mô hình cân bằng trong dài hạn cho kết
quả ở Bảng 4.4. Các hệ số hồi qui của nợ nước ngoài đạt dấu như kỳ
vọng và có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Việc đưa biến
0.068312
1.62521
-18.85489
9.63728
C
Thống kê
t
27.17890
Phương trình
2
Thống kê t
-2,457.312
Nguồn: Trích xuất từ Eviews 10.0
Kết quả ước lượng trong ngắn hạn đều có ý nghĩa thống kê được
trình bày ở Bảng 4.5. Để làm rõ hơn mối quan hệ giữa các biến trong
ngắn hạn của mô hình VECM, nghiên cứu thực hiện kiểm định nhân
quả Granger. Kết quả kiểm định nhân quả Granger cho thấy mối quan
hệ ở Hình 4.2.
-0.090696
-0.59340
11.68078
2.51681**
D(GDP_SA(-3))
0.213791
1.52368
-0.546524
-0.12827
D(OPE_SA(-1))
0.027120
5.02892***
0.169866
1.03731
D(OPE_SA(-2))
-0.013053
-0.27856
1.137998
0.79975
D(EXD_SA (-3))
-0.070817
-1.65972
1.231295
0.95033
C
-0.059691
-0.18438
0.274720
0.02795
DUM
D(GDP_SA(-2))
-0.113970
-0.78436
D(GDP_SA(-3))
-0.005954
-0.04463
D(OPE_SA(-1))
0.007583
1.47901
D(OPE_SA(-2))
0.005660
0.86986
D(OPE_SA(-3))
0.005836
0.84947
R2
0.959415
***, **, * có ý nghĩa thống kê lần lượt ở mức 1%, 5% và 10%.