Tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế nghiên cứu trường hợp các quốc gia đông nam á - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THÀNH ĐỒNG

TÁC ĐỘNG CỦA NỢ NƯỚC NGOÀI ĐẾN
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÁC QUỐC
GIA ĐÔNG NAM Á

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp. Hồ Chí Minh - Năm 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THÀNH ĐỒNG

TÁC ĐỘNG CỦA NỢ NƯỚC NGOÀI ĐẾN
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÁC QUỐC
GIA ĐÔNG NAM Á
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. SỬ ĐÌNH THÀNH



CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ............................................................. 6
2.1. Nợ nước ngoài ................................................................................................. 6
2.1.1. Khái niệm ................................................................................................. 6
2.1.2. Vai trò của nguồn vốn vay nước ngoài .................................................... 6
2.1.3. Tiêu chí đánh giá mức độ an toàn nợ nước ngoài .................................... 9
2.2. Tăng trưởng kinh tế ....................................................................................... 15
2.2.1. Khái niệm ............................................................................................... 15
2.2.2. Một số mô hình tăng trưởng kinh tế ....................................................... 16
2.3. Giá trị tới hạn của nợ nước ngoài với tăng trưởng kinh tế .......................... 23
2.4. Tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế ................................. 25
2.5. Tổng quan các nghiên cứu về tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng
kinh tế ........................................................................................................................ 28
CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................. 40
3.1. Mô hình nghiên cứu ....................................................................................... 40
3.2. Dữ liệu nghiên cứu......................................................................................... 40
3.3. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 41
3.4. Các biến độc lập và giả thuyết nghiên cứu .................................................... 41
3.5. Mô tả dữ liệu .................................................................................................. 42
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................................. 45
4.1. Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa nợ nước ngoài với tăng trưởng kinh tế
của từng quốc gia ...................................................................................................... 45
4.1.1. Kết quả.................................................................................................... 46


4.1.2. Kiểm tra tính thích hợp của mô hình ...................................................... 47
4.2. Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa nợ nước ngoài với tăng trưởng kinh tế
các quốc gia ............................................................................................................... 52
4.2.1. Thống kê mô tả ....................................................................................... 53
4.2.2. Kết quả hồi quy ...................................................................................... 53

Hình 2.3: Mối liên hệ “threshold effect” giữa nợ và tăng trưởng ............................... 30


1

CHƢƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài
Ngay cả khi thị trường chứng khoán cải thiện, thu hút nguồn vốn từ các
nhà đầu tư nước ngoài thì nợ vẫn là một trong những mối đe dọa lớn nhất với sự
ổn định kinh tế trong khu vực Đông Nam Á.
Trong những năm qua, để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong
điều kiện tiết kiệm trong nước còn hạn chế, Việt Nam cũng như các nước khác ở
khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia, Singapore, Myanmar, Indonesia
thường thu hút các nguồn vốn nước ngoài bằng nhiều hình thức khác nhau, trong
đó vay nợ là một phương thức phổ biến.
Đối với các quốc gia nói trên thì nguồn vốn vay nước ngoài đã và đang
được xem là một trong những nguồn tài chính quan trọng cho đầu tư phát triển,
xây dựng cơ sở hạ tầng và góp phần bù đắp những thiếu hụt cho các cán cân cơ
bản của nền kinh tế (như bù đắp thâm hụt thương mại, thâm hụt ngân sách và
thâm hụt tiết kiệm - đầu tư), qua đó ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng kinh tế và
nâng cao vị thế của quốc gia mình trên trường quốc tế. Đồng thời, tăng trưởng
kinh tế bền vững là mối quan tâm chủ yếu của tất cả các nền kinh tế đặc biệt là
những nền kinh tế đang phát triển thường xuyên phải đối mặt với thâm hụt tài
chính, nguyên nhân thâm hụt chủ yếu là do mức độ nợ nước ngoài và thâm hụt
tài khoản vãng lai. Trong quá khứ, không ít các tập đoàn và ngân hàng không chỉ
riêng ở khu vực Đông Nam Á mà trên khắp châu Á đã sụp đổ bởi họ không có
khả năng hoàn trả các khoản vay nợ nước ngoài trong bối cảnh khủng hoảng tiền
tệ. Đồng nội tệ mất giá trị khiến các khoản nợ nước ngoài tăng giá, gây thêm áp
lực cho các nền kinh tế các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á vốn đang gặp

trung hướng đến phân tích định lượng mối quan hệ giữa tỷ lệ nợ nước ngoài trên


3

GDP, cân đối ngân sách so với GDP với tốc độ tăng trưởng kinh tế tại các nước
trong khu vực Đông Nam Á giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2014.
Luận văn không xem xét giá trị và đặc điểm của từng khoản nợ vay nước
ngoài cụ thể, mà tiếp cận tổng thể ở dạng vĩ mô về toàn bộ nợ nước ngoài và
mức độ nợ nước ngoài mà tại đó tác động của nó đối với tăng trưởng kinh tế.
1.5. Khung nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên cơ sở lý thuyết về nợ nước ngoài và
tổng hợp các nghiên cứu về nợ nước ngoài ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.
Bước tiếp theo là thu thập dữ liệu để phục vụ cho các biến kinh tế. Từ dữ liệu
nghiên cứu, đề tài tiến hành xây dựng mô hình, định lượng và phân tích nghiên
cứu. Cách thức thực hiện được tác giả tóm tắt qua các bước như sau:


4

Cơ sở lý thuyết về nợ nước ngoài và
tăng trưởng kinh tế

Các nghiên cứu có liên quan

Thu thập và đánh giá dữ liệu
nghiên cứu

Xây dựng mô hình nghiên cứu


Chương 5: Kết luận và khuyến nghị.


6

CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1. Nợ nƣớc ngoài
2.1.1. Khái niệm
- Theo IMF định nghĩa: “Tổng nợ nước ngoài, tại bất kỳ thời điểm nào là
tổng dư nợ của các nghĩa vụ nợ thực tế hiện thời chưa thanh toán, không bao
gồm các nghĩa vụ nợ dự phòng, đòi hỏi bên nợ phải thanh toán nợ gốc và/hoặc
lãi tại một (hoặc một vài) thời điểm trong tương lai, và đây là khoản nợ của
người cư trú nợ người không cư trú”.
Tóm lại, nợ nước ngoài là tổng các khoản nợ nước ngoài của Chính phủ,
nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ của doanh nghiệp và tổ chức khác được vay
theo phương thức tự vay, tự trả.
2.1.2. Vai trò của nguồn vốn vay nƣớc ngoài
Thứ nhất, tạo ra nguồn vốn bổ sung cho quá trình tăng trưởng và phát
triển kinh tế. Đối với các nước đang phát triển đang trong quá trình công nghiệp
hóa và thực hiện công cuộc xóa đói, giảm nghèo thì việc vay nợ nước ngoài
đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đó. Hơn nữa, việc vay vốn
còn có ý nghĩa đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia. Việc huy
động vốn đúng thời điểm sẽ giảm bớt được tình trạng căng thẳng về nguồn vốn
đối với việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế trong từng giai đoạn.
Thứ hai, góp phần hỗ trợ cho các nước vay nợ tiếp thu được công nghệ
tiên tiến, học hỏi được kinh nghiệm quản lý của các nhà tài trợ nước ngoài. Do
trình độ phát triển kinh tế - xã hội và giáo dục - khoa học ở các nước đang phát
triển rất thấp cho nên các nước này ít có khả năng nhập khẩu công nghệ mới.
Ngoài ra, khả năng nhập khẩu công nghệ, tri thức quản lý của các nước này cũng

quản lý không tốt, cụ thể như:


8

Thứ nhất, có thể làm tăng gánh nặng nợ nần cho đất nước trong tương lai.
Một nền kinh tế phát triển hướng ngoại đến mức phụ thuộc rất lớn vào các nguồn
lực bên ngoài sẽ không được coi là một nền kinh tế phát triển bền vững. Nếu đầu
tư không có hiệu quả thì không những hoạt động đầu tư đó không mang lại hiệu
quả theo mục đích định trước mà còn mất thêm cả phần của cải mà xã hội sẽ tạo
ra. Hậu quả là nợ nước ngoài sẽ làm cho mức sống của dân cư nước con nợ vốn
đã thấp lại càng thấp hơn và uy tín của quốc gia sẽ bị giảm sút trong các quan hệ
quốc tế. Hơn nữa, nếu tỷ lệ nợ nước ngoài quá cao sẽ làm giảm lòng tin của các
nước cho vay vào khả năng quản lý của nước đi vay.
Thứ hai, nguy cơ làm giảm trách nhiệm của chính phủ và dân cư. Khi xuất
hiện nhu cầu về vay vốn nước ngoài, thay vì việc khai thác các nguồn nội lực,
các Chính phủ đi vay sẽ dễ dàng chọn phương án dựa vào các nguồn ngoại lực.
Ngoài ra, sau khi vay được nguồn vốn nước ngoài, các nước đang phát triển và
kém phát triển lại chi tiêu một cách lãng phí. Điều này làm cho các nước rơi vào
tình trạng khủng hoảng không thể vượt qua được. Nếu là các khoản nợ trong
nước, chính phủ có thể tuyên bố là luôn có khả năng trả hết nợ vì chính phủ có
thể in tiền vô hạn để trả nợ.
Còn các khoản nợ nước ngoài do phải trả bằng vàng hoặc ngoại tệ nên đã
có nhiều trường hợp Chính phủ phải tuyên bố vỡ nợ. Chính phủ được lợi là thoái
thác trách nhiệm trả nợ. Nhưng Chính phủ sẽ chịu nhiều bất lợi từ cộng đồng tài
chính quốc tế như: bị ngăn cấm không được tham gia vào hoạt động kinh tế quốc
tế, đặc biệt là thương mại quốc tế; bị tịch biên tài sản ở nước ngoài, kể cả tài sản
của Chính phủ và tài sản của công dân quốc gia đó; hầu như bị cắt hết các khoản
tài trợ quốc tế kể cả vay nợ, viện trợ và đầu tư nước ngoài (Đinh Trọng Thịnh,
2006, trang 152).


Bảng 2.1: Tiêu chí đánh giá an toàn nợ theo IMF

Thể chế yếu
Thể chế vừa
Thể chế mạnh

Gánh nặng nợ theo tiêu chí DSF
Hiện giá của nợ so với (%)
Dịch vụ nợ so với (%)
Xuất khẩu
GDP
Thu ngân
Xuất khẩu
Thu ngân
(X)
sách (DBR)
(%)
sách (DBR)
100
30
200
15
18
150
40
250
20
20
200

11

Để xếp loại các con nợ theo mức độ nợ, Ngân hàng thế giới sử dụng các
chỉ số đánh giá mức độ nợ nần của các quốc gia vay nợ như ở bảng sau.
Bảng 2.2: Tiêu chí đánh giá an toàn nợ theo WB
Chỉ số

Mức độ bình
thƣờng

Mức độ
khó khăn

Mức độ trầm
trọng

≤ 30%

30 – 50%

≥ 50%

≤ 165%

165 – 200%

≥ 200%

≤ 18%


5. Tỷ lệ % nghĩa vụ trả
lãi so với kim ngạch
xuất khẩu hàng hóa và
dịch vụ

(Nguồn: www.worldbank.org)

Dựa vào các chỉ số trên, các tổ chức tài chính quốc tế có thể đánh giá mức
độ nợ nần và khả năng tài trợ cho các nước thành viên. Các chỉ số này cũng là
căn cứ để các quốc gia vay nợ tham khảo, xác định tình trạng nợ để hoạch định
chiến lược vay nợ cho quốc gia.
Quy mô nợ và trả nợ, trả lãi so với nguồn thu trực tiếp và gián tiếp để trả
nợ thường được dùng để đánh giá mức độ nợ. Mức độ nợ cũng ngầm cho biết
khả năng trả nợ của các quốc gia trong trung và dài hạn. Các chỉ tiêu thường
dùng:


12

* Khả năng hoàn trả nợ vay nước ngoài (EDT/XGS)
Tổng nợ/Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa dịch vụ: Chỉ tiêu này biểu
diễn tỷ lệ nợ nước ngoài bao gồm nợ tư nhân, nợ được chính phủ bảo lãnh trên
thu nhập xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ. Ý tưởng sử dụng chỉ tiêu này là nhằm
phản ánh nguồn thu xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ là phương tiện mà một quốc
gia có thể sử dụng để trả nợ nước ngoài.
* Tỷ lệ nợ nước ngoài so với tổng sản phẩm quốc nội (EDT/GDP)
Nợ/GDP: Đây là chỉ tiêu đánh giá khả năng trả nợ thông qua tổng sản
phẩm quốc nội được tạo ra. Hay nói cách khác, nó phản ánh khả năng hấp thụ
vốn vay nước ngoài. Thông thường các nước đang phát triển thường đánh giá
cao giá trị đồng nội tệ hoặc sử dụng chế độ đa tỷ giá dẫn tới làm giảm tình trạng


Mức ngƣỡng

VN (2005)

150%

36%

250%

95%

15%

2%

10%

6%

(Nguồn: UNDP, Dự án VIE/01/010)
Dịch vụ nợ/xuất khẩu (TDS/X) và dịch vụ nợ/nguồn thu ngân sách
(TDS/DBR): là những chỉ tiêu đo lường thanh khoản được Ngân hàng Thế
giới và IMF đưa vào để đánh giá mức độ bền vững nợ công. TDS/X đo lường
khả năng thanh toán dịch vụ nợ từ nguồn thu xuất khẩu. Còn TDS/DBR đo
lường khả năng thanh toán dịch vụ nợ từ thu ngân sách nhà nước. Một quốc
gia đảm bảo thanh khoản, TDS/X phải thấp hơn 15% và TDS/DBR thấp hơn
10%.
– Đánh giá sức mạnh thể chế và chất lượng chính sách quản lý nợ

nợ/GDP

vụ

Dịch vụ nợ/thu
ngân sách trừ
các khoản hỗ
trợ

Kém
CPIA ≤3

Vừa
3< CPIA
300%, tỷ lệ NPV/thu ngân sách (trừ đi các khoản hỗ trợ) thấp hơn 350%; tỷ lệ
dịch vụ nợ/xuất khẩu thấp hơn 35% tỷ lệ dịch vụ nợ/thu ngân sách (trừ đi các
khoản hỗ trợ) thấp hơn 40%. Cách tiếp cận này hiện vẫn còn nhiều tranh luận
về tính chính xác của nó.
Theo cách tiếp cận mới và với số liệu của VN về NPV của nợ ở bảng 1,
cho thấy thể chế và chính sách quản lý nợ nước ngoài của VN xếp vào chỉ số
CPIA ≤ 3, tức là ở mức kém.
2.2. Tăng trƣởng kinh tế
2.2.1. Khái niệm
Tăng trưởng kinh tế là sự biến đổi kinh tế theo chiều hướng tiến bộ, mở
rộng quy mô về mặt số lượng của các yếu tố của nền kinh tế trong một thời kỳ
nhất định nhưng trong khuôn khổ giữ nguyên về mặt cơ cấu và chất lượng. Hay
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng
sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên
đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định.
Tăng trưởng kinh tế được phản ánh ở nhiều chỉ tiêu nhưng chỉ tiêu thường
được sử dụng là Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân
(GNP), tổng thu nhập quốc dân (GNI), tăng trưởng vốn, lao động, sự gia tăng
dung lượng thị trường... Sự tương tác giữa các bộ phận cấu thành GDP như tiêu
dùng nội địa, đầu tư, chi tiêu chính phủ và cán cân thương mại sẽ làm thay đổi
tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Quá trình tăng trưởng thể hiện các nguồn lực tăng trưởng như tài nguyên
thiên nhiên, vốn, lao động, công nghệ, quản lý, quan hệ, thị trường... được khai
thác và sử dụng có hiệu quả cao nhất. Tăng trưởng kinh tế bao hàm cả tăng
trưởng theo chiều rộng và chiều sâu, số lượng và chất lượng, ngắn hạn và dài
hạn... Nhiều công trình nghiên cứu trong ngoài nước đã lượng hoá tác động của


16


y là sản lượng trên đầu lao động.
k là lượng tư bản trên đầu lao động.
S là tiết kiệm của cả nền kinh tế.
s là tỷ lệ tiết kiệm.
I là đầu tư.
i là đầu tư trên đầu lao động.
C là tiêu dùng cá nhân trong nền kinh tế.
c là tiêu dùng cá nhân trên đầu lao động.
δ là tỷ lệ khấu hao vốn tư bản.
Δ là lượng vốn tư bản tăng thêm ròng.
n là tốc độ tăng dân số, đồng thời là tốc độ tăng lực lượng lao động.
Mô hình Solow-Swan nguyên mẫu được thiết lập trong một thế giới với thời
gian liên tục, không có sự tham gia của chính phủ hay thương mại quốc tế. Một
hàng hóa (đầu ra) duy nhất được sản xuất từ hai yếu tố sản xuất là lao động (L)
và vốn (K) trong một hàm tổng sản xuất thỏa mãn điều kiện Inada, ám chỉ rằng
độ co giãn của sự thay thế phải tiệm cận bằng 1


Y(t) =K(t)α(A(t)L(t))1-α

Với thời gian ký hiệu là t, 0
^


Trích đoạn Một số kiến nghị chính sách
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status