Ngôn ngữ truyền hình việt nam vấn đề và thảo luận - Pdf 30

Ngôn ngữ truyền hình Việt Nam - Vấn đề và
thảo luận

Phan Quốc Hải

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Luận văn Thạc sĩ ngành: Báo chí học; Mã số: 60.32.01
Người hướng dẫn: PGS. TS. Vũ Quang Hào
Năm bảo vệ: 2010

Abstract: Giới thiệu những vấn đề cơ bản của truyền hình Việt Nam hiện nay dưới
góc độ ngôn ngữ thông qua các tin, bài được sử dụng phát sóng trên các kênh sóng
truyền hình trong cả nước. Nghiên cứu đặc điểm của ngôn ngữ truyền hình Việt Nam
và vai trò của các yếu tố ngôn ngữ âm thanh và ngôn ngữ hình ảnh trong hệ thống tin,
bài của truyền hình Việt Nam. Phân tích, so sánh một cách tổng quát về hiện trạng sử
dụng các yếu tố ngôn ngữ truyền hình ở Việt Nam. Trình bày các phương thức sử
dụng các yếu tố ngôn ngữ truyền hình Việt Nam, rút ra một số kết luận về đặc điểm
ngôn ngữ truyền hình ở các đài truyền hình từng khu vực trong cả nước và nêu lên
những biện pháp xây dựng tin, bài trong tương lai.

Keywords: Báo chí; Ngôn ngữ truyền hình; Truyền hình

Content
PHẦN MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, truyền hình đã trở thành phương tiện truyền thông mạnh mẽ và quan trọng
bậc nhất đối với công chúng khắp nơi trên thế giới. Chính truyền hình đã tạo nên một cuộc
cách mạng thông tin và làm nên sự bùng nổ truyền thông bắt đầu từ những năm nửa cuối thế
kỷ 20. Truyền hình đã được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau với những mục đích khác
nhau: về vai trò, vị trí của nó đối với các vấn đề xã hội, chính trị, kinh tế; về phương thức,

ngữ thông qua các tin, bài được sử dụng phát sóng trên các kênh sóng truyền hình trong cả
nước.
Làm rõ đặc điểm của ngôn ngữ truyền hình Việt Nam và vai trò của các yếu tố ngôn
ngữ âm thanh và ngôn ngữ hình ảnh trong hệ thống tin, bài của truyền hình Việt Nam. Phân
tích, so sánh một cách tổng quát về hiện trạng sử dụng các yếu tố ngôn ngữ truyền hình ở Việt
Nam.
Phân tích các phương thức sử dụng các yếu tố ngôn ngữ truyền hình Việt Nam, rút ra
một số kết luận về đặc điểm ngôn ngữ truyền hình ở các đài truyền hình từng khu vực trong
cả nước và nêu lên những biện pháp xây dựng tin, bài trong tương lai.
3. Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu ngôn ngữ truyền hình là địa hạt tương đối mới mẽ so với các lĩnh vực
nghiên cứu báo chí khác.Hầu hết các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đều có đề cập
đến ngôn ngữ truyền hình như ở những góc độ liên quan chứ chưa trực tiếp đi vào nghiên cứu
ngôn ngữ truyền hình với tư cách là đối tượng cụ thể. Công trình đầu tiên đáng chú ý phải kể

3
đến là Media Writing của nhóm tác giả W. Richard Whitaker, Janet E. Ramsay, Ronald
D.Smith [68]. Trong tác phẩm này, các tác giả đã dành một chương, chương 11 từ trang 284-
318 với tiêu đề Reporting for TV để nói về những chức năng của âm thanh và hình ảnh trong
truyền hình.Theo các tác giả này, ngôn ngữ nói trong truyền hình phải là một bàn đỡ mà ở
trên trên đó hình ảnh được sắp xếp một cách hợp lý. Ở đây các tác giả muốn nói đến lời bình
của một tác phẩm truyền hình. Tiếp đến là The Language of Television của Jill Marshall,
Angela Werndly [67]. Đây là tác phẩm dày 128 trang nhưng chủ yếu chỉ nói về lịch sử, các
thể loại, có bàn về ngôn ngữ của một vài thể loại cụ thể như tin, phóng sự truyền hình. Trong
khi đó, tác phẩm Văn hóa, phương tiện truyền thông, ngôn ngữ của Staurt Hall, dành một
chương là “Mã hóa và giải mã trong ngôn bản truyền hình”dài 12 trang, được Đỗ Anh Đức
dịch, thì chỉ bàn đến cách mã hóa và giải mã ngôn ngữ hình ảnh của các tác phẩm truyền hình.
Một số sách dịch khác của nước ngoài được Nhà xuất bản thông tấn ấn hành những năm gần
đây cũng có đề cập đến ngôn ngữ truyền hình. Đáng chú ý là cuốn Báo chí truyền hình (T1,
T2) của G.V.Cuwdonhetxop, X.L Xvich, A.la.lưropxki [60]. Trong cuốn sách này, tác giả bàn

hình dù không đối thoại trực tiếp với công chúng nhưng phải tưởng tượng đang đứng trước
công chúng để ý thức về lời nói hơn. Trong khi đó ngay phần mở đầu của bài báo “Ngôn ngữ
truyền hình”(Tạp chí Người làm báo, số 12/2007), Khiếu Quang Bảo đã khẳng định: ngôn
ngữ truyền hình là loại ngôn ngữ tổng hợp, có ngôn ngữ viết cho độc giả báo in, có ngôn ngữ
nói cho thính giả phát thanh, hơn thế nữa có ngôn ngữ hình ảnh cho khán giả truyền hình.
Đặc biệt trong bài báo này tác giả còn đi sâu phân tích lời bình của tác phẩm truyền hình như
một yếu tố quan trọng làm nên chất lượng của sản phẩm truyền hình.
Ngoài ra, một số luận văn thạc sĩ trong nước cũng có đề cập đến ngôn ngữ truyền hình
như Ngôn ngữ truyền hình trong bản tin thời sự lúc 19h00 (2004) của Mai Thị Minh Thảo,
Tìm hiểu những dạng lỗi thường gặp về ngôn ngữ trong chương trình thời sự của truyền hình
Hà Nội (2004) của Vũ Thị Kim Dung…
Nhìn chung, các công trình đã được xuất bản nêu trên mới chỉ tiếp cận ngôn ngữ
truyền hình ở những khía cạnh đơn lẽ, chưa có tính hệ thống và chưa khái quát thành vấn đề
lý luận ngôn ngữ truyền hình thống nhất. Khắc phục những thiếu sót trên, Luận văn Ngôn ngữ
truyền hình Việt Nam-những vấn đề và thảo luận sẽ lần lượt nêu và đi đến giải quyết thấu đáo
các vấn đề về ngôn ngữ truyền hình Việt Nam, đồng thời khái quát những vấn đề đó thành lý
thuyết có tính lý luận về ngôn ngữ truyền hình ở Việt Nam. Ngoài ra, Luận văn cũng nêu ra
những vấn đề đang còn gây tranh cãi, thảo luận và đi đến những kết luận hợp lý bổ sung cho
lý luận báo truyền hình hiện nay ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn khảo sát các yếu tố ngôn ngữ ở truyền hình Việt Nam những năm gần đây
gồm ngôn ngữ âm thanh và ngôn ngữ hình ảnh thông qua các tin, bài truyền hình từ 5/2009
cho đến khi thực hiện viết luận văn. Các đài truyền hình mà luận văn chọn để nghiên cứu
khảo sát là Đài Truyền hình Việt Nam (VTV), đại diện cho truyền hình quốc gia, Đài PT-TH
Hà Nội (HTV), Đài PT-TH Hải Phòng (THP), Đài PT-TH Thái Nguyên, đại diện cho các tỉnh,
thành phía Bắc; Đài Truyền hình Tp HCM (HTV), Đài PT-TH Vĩnh Long (THVL), Đài PT-
TH An Giang (ATV), đại diện cho các tỉnh, thành phía Nam (TV); Đài PT-TH Thừa Thiên-

5
Huế (TRT),Trung tâm truyền hình Việt Nam tại Huế (HVTV), Trung tâm Truyền hình Việt

Ngoài Phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về ngôn ngữ truyền hình
Chương 2: Những vấn đề về ngôn ngữ truyền hình Việt Nam

6
Chương 3: Thảo luận về ngôn ngữ truyền hình Việt Nam và hướng giải quyết nhằm
nâng cao hiệu quả sử dụng ngôn ngữ truyền hình trên truyền hình Việt Nam

References
A. Tài liệu tiếng Việt
1. Nhật An (2006), Đường vào nghề Phát thanh-Truyền hình, Nhà xuất bản Trẻ, Tp
Hồ Chí Minh.
2. Hoàng Anh (2008), Những kỹ năng về sử dụng ngôn ngữ trong truyền đại chúng,
Nhà xuất bản ĐHQG Hà Nội.
3. Khiếu Quang Bảo (2007), “Ngôn ngữ truyền hình”, Tạp chí Người làm báo, số 12.
4. Phạm Thị Sao Băng (2005), Công nghệ sản xuất chương trình truyền hình, Nhà
xuất bản KH-KT, Hà Nội.
5. Nguyễn Thị Thanh Bình (1999) “ Vài nét về sự đa dạng của phong cách ngôn ngữ
trên truyền hình” Tiếng Việt trên các phương tiện thông tin đại chúng, Hội ngôn ngữ học,Viện
ngôn ngữ học Việt Nam,Trường ĐHKHXH&NV TPHCM.
6. Nguyễn Thị Thanh Bình “Suy nghĩ về hệ quả của ngôn ngữ trên vô tuyến truyền
hình”, (1999) Tiếng Việt trên các phương tiện thông tin đại chúng, Hội ngôn ngữ học,Viện
ngôn ngữ học Việt Nam, Trường ĐHKHXH&NV TPHCM.
7. Hoàng Thị Châu (2004), Phương ngữ học tiếng Việt, Nhà xuất bản Đại học Quốc
gia Hà Nội, Hà Nội.
8. Hoàng Thị Châu (1989), Tiếng Việt trên các miền đất nước (phương ngữ học), Nhà
xuất bản KH-XH, Hà Nội.
9. Đỗ Hữu Châu (2001), Đại cương ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.
10. Mai Văn Chừ và…(1992), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nhà xuất bản
ĐH&THCN, Hà Nội.

Chí Minh, ĐHSP TP. Hồ Chí Minh, Viện Khoa học Xã hội tại TP. Hồ Chí Minh-
ĐHKHXH&NV Hà Nội (2002), Bảo vệ và phát triển tiếng Việt trong thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, TP.Hồ Chí Minh.
27. Hội Ngôn ngữ học TP. Hồ Chí Minh, Viện Ngôn ngữ học Việt Nam,Trường
ĐHKHXH&NV TP.Hồ Chí Minh (1999), Tiếng Việt trên các phương tiện thông tin đại
chúng, TP.Hồ Chí Minh.
28. Nguyễn Quang Hồng (2004), “Vấn đề chuẩn mực phát âm của tiếng Việt hiện
đại”, tạp chí Ngôn ngữ, số 04.
29.Nguyễn Minh Huyền (1999), Tìm một lối thông tin khoa học từ trực trạng của
danh pháp báo chí, Khóa luận Cử nhân, khoa Báo chí-Truyền thông, ĐHKHXH&NV, ĐHQG
Hà Nội.
30. Phạm Thành Hưng (2007), Thuật ngữ báo chí-Truyền thông, Nhà xuất bản ĐHQG
Hà Nội, Hà Nội.
31. Nguyễn Thế Kỷ (1999), “Mấy nhận xét về nói và viết trên đài truyền hình”, Tạp
chí Ngôn Ngữ và Đời sống, số 8.
32. Nguyễn Thế Kỷ (1999), “Vài nhận xét về dạng thức nói trên đài truyền hình từ vai
trò giao tiếp với công chúng”,Tạp chí Ngôn ngữ số 4.
33. Nguyễn Bá Kỷ (2004) Dạng thức nói trên truyền hình, Luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ,
ĐHKHXH&NV, ĐHQG Hà Nội.

8
34. Nguyễn Thế Kỷ, Phạm Văn Tình (2002), “Tính ngẫu phát của các chương trình
truyền hình”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 16.
35.Trần Bảo Khánh (2003), Sản xuất chương trình truyền hình, Nhà xuất bản VH-TT,
Hà Nội.
36. Nguyễn Hiến Lê (2006), Nghệ thuật nói trước công chúng, Nhà xuất bản VH-TT,
Hà Nội.
37. Bùi Văn Nguyên,(1977) “Thử tìm giọng nói Nghệ Tĩnh trong hệ thống giọng nói
chung cả nước”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 4.
38. Lê Thị Thanh Nhàn (2009), Viết cho truyền hình, Tài liệu lưu hành nội bộ,

và Tuyên truyền, số 5.
53. Nguyễn Quyết Thắng (2008), Lý thuyết thông tin, Đại học Bách khoa Hà Nội.
54. Nguyễn Đức Tồn (1999), “Hoạt động ngôn ngữ phát thanh và truyền hình từ cách
nhìn của tâm lý học”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 09.
55. Nguyễn Quốc Việt (2010), Phong cách dẫn chương trình của các BTV chương
trình truyền hình, Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân báo chí, ĐHKH Huế.
B. Tài liệu dịch sang tiếng Việt
56. Alvin Toffler (2002), Làn sóng thứ ba, Nhà xuất bản Thanh Niên, Hà Nội.
57. Alvin Toffler (2002),Cú sốc tương lai, Nhà xuất bản Thanh Niên, Hà Nội.
58. Alvin Toffler (2002), Thăng trầm quyền lực (T1, T2), Nhà xuất bản Thanh Niên,
Hà Nội.
59. Bruno Toussaint (2007), Ngôn ngữ điện ảnh và truyền hình, Nhà xuất bản Dixit và
Hội Điện ảnh Việt Nam đồng xuất bản.
60. G.V.Cudonhepxop, X.L.Xvich, A.la.Iuropxki (2004), Báo chí truyền hình, Tập 1,
Nhà xuất bản Thông Tấn, Hà Nội.
61. G.V.Cudonhepxop, X.L.Xvich, A.la.Iuropxki (2004), Báo chí truyền hình, Tập 2,
Nhà xuất bản Thông Tấn, Hà Nội.
62. Loic Hervouet (1999), Viết cho độc giả, Hội Nhà báo Việt Nam, Hà Nội.
63. Michael Schudson (2003), Sức mạnh của tin tức truyền thông, Nhà xuất bản Chính
trị Quốc gia, Hà Nội.
64. X.A.Muratop (2004), Giao tiếp trên truyền hình, Nhà xuất bản Thông Tấn, Hà
Nội.
65. Neil Everton (1999), Làm tin, phóng sự truyền hình, Quỹ Reuter xuất bản.
66. Robert Dagary (1998), “Sự đóng góp của nhân loại vào việc nghiên cứu các
phương tiện thông tin đại chúng”, Tạp chí Thông tin Khoa học, số 2.
C. Tài liệu tiếng nước ngoài
67. Angela Werndly, Jill Marshall (2002), The Language of Television, Published by
Routledge Publication.
68. Richard Whitaker (2004), Media Writing, Lawrence Erlbaum Associates,
Publishers, London.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status