Ngôn ngữ truyền hình trong bản tin thời sự đài truyền hình Việt Nam - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MAI THỊ MINH THẢO
NGÔN NGỮ TRUYỀN HÌNH TRONG BẢN TIN
THỜI SỰ ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM

Chuyên ngành: Báo chí
Mã số: 5.04.03

1.2.3. Đặc điểm của bản tin thời sự 20
1.2.3.1. Về thể loại 20
1.2.3.2. Thời lƣợng 23
1.2.3.3. Kết cấu bản tin 24
1.2.3.4. Tính chất thông tin của Bản tin thời sự 19 giờ 26
1.2.4. Ngôn ngữ thời sự 30
Chƣơng II: Khảo sát ngôn ngữ truyền hình trong bản tin thời sự
Đài Truyền hình Việt Nam (2003 - 2004) 33
2.1. Về ngôn ngữ hình ảnh 33
2.1.1. Hình ảnh tĩnh 34
2.1.2. Hình ảnh động 37
2.1.2.1. Phân tích về cỡ cảnh của thể loại, phóng sự thời sự 38
2.1.2.2. Phân tích về góc độ ghi hình trong Bản tin thời sự 45
2.1.2.3. Phân tích về bố cục khuôn hình trong Bản tin thời
sự 47

5
2.1.2.4. Phân tích về chuyển động máy trong Bản tin thời sự 50
2.1.2.5. Dựng - Ngữ pháp của hình ảnh 52
2.2. Về ngôn ngữ âm thanh 60
2.2.1. Âm nhạc 61
2.2.2. Tiếng động 62
2.2.3. Ngôn ngữ lời 64
2.2.3.1. Ngôn ngữ lời bao gồm lời dẫn, lời bình
và lời phỏng vấn 65
2.2.3.2. Về phƣơng diện ngữ pháp của ngôn ngữ lời 74
2.2.3.3. Về phong cách ngôn ngữ trong Bản tin thời sự 84
2.2.3.4. Phong cách thể hiện ngôn ngữ trong Bản tin thời sự 91
2.3. Mối quan hệ giữa lời và hình ảnh 92
2.4. Một số yếu tố ngôn ngữ bổ trợ 95

nhất chức năng thông tin của báo chí, thể hiện ở tính cập nhật, sự ngắn
gọn và ý nghĩa của sự kiện đƣợc phản ánh. Trong đó, đặc biệt phải kể đến
bản tin thời sự 19 giờ. Bởi đây là bản tin chính và quan trọng nhất trong
ngày, tất cả những sự kiện, tin tức quan trọng nhất đều đƣợc đƣa trong
bản tin 19 giờ. Chỉ với 45 phút mỗi ngày, bản tin thời sự này đã mang đến
cho khán giả cả nƣớc những thông tin vô cùng quý giá mà họ không dễ gì
tìm thấy đƣợc ở những phƣơng tiện truyền thông khác. Nhiều ngƣời ví
chƣơng trình thời sự 19 giờ trên Đài Truyền hình Việt Nam nhƣ trang
nhất của tờ báo, ở đó phản ánh tất cả những sự kiện, tin tức quan trọng
xảy ra trong ngày trên khắp mọi miền đất nƣớc, có tác động hết sức mạnh
mẽ đến toàn xã hội.
Theo số liệu điều tra của Trung tâm nghiên cứu dƣ luận xã hội, Ban
tƣ tƣởng văn hóa thông tin trung ƣơng, số lƣợng khán giả thƣờng xuyên
theo dõi chƣơng trình thời sự của Đài Truyền hình Việt Nam luôn nằm ở
mức trên 60% liên tục trong nhiều năm, là một trong số các chƣơng trình
có lƣợng khán giả đông đảo nhất và yêu thích nhất. [29, 8]
Chƣơng trình thời sự truyền hình đã đáp ứng nhu cầu thông tin tức
thời cho công chúng với cách tiếp cận và nhìn nhận những vấn đề, hiện
tƣợng nảy sinh từ dòng chảy của cuộc sống đời thƣờng bằng các yếu tố

7
hình ảnh, tiếng động, lời bình và âm nhạc theo phƣơng pháp ghi hình và
phƣơng pháp dựng hình.
Những thông tin trong bản tin thời sự đƣợc công chúng tin tƣởng bởi
họ đƣợc trực tiếp thấy hình ảnh sự kiện diễn ra và do vậy, cũng hình
thành nên một thói quen ở công chúng là họ nghiễm nhiên tin vào thông
tin của truyền hình mà đôi khi không cần kiểm chứng và trải nghiệm. Sự
tin tƣởng này buộc những ngƣời làm truyền hình nói chung mà đặc biệt là
những ngƣời thực hiện bản tin thời sự phải thực sự cẩn trọng trong tất cả
các thông tin mà mình đƣa đến cho khán giả, về nội dung thông tin và kể

các phƣơng tiện ngôn ngữ của khán giả không cho phép phóng viên
truyền hình dễ dãi trong việc cung cấp thông tin. Thông thƣờng, những lỗi
sai về mặt ngôn ngữ lời đƣợc họ phát hiện nhiều hơn cả. Và việc sử dụng
ngôn ngữ yếu kém của phóng viên sẽ không thuyết phục đƣợc công
chúng, hơn thế nữa còn có thể làm xói mòn lòng tin mà họ đã dành cho
truyền hình. Thực tế, cho dù đội ngũ phóng viên nói chung đã nỗ lực
không ngừng nhằm nâng cao chất lƣợng mọi mặt bản tin thời sự nhƣng rõ
ràng ngôn ngữ đƣợc sử dụng trên bản tin vẫn chƣa hoàn hảo, còn ảnh
hƣởng đến việc tiếp nhận thông tin của khán giả.
Trƣớc tầm quan trọng nhƣ thế nhƣng trên thực tế ở nƣớc ta, hệ thống
lý thuyết nghiên cứu về lĩnh vực báo chí truyền hình gần nhƣ là một địa
hạt bị bỏ trống. Những ngƣời bắt đầu bƣớc vào truyền hình khá vất vả vì
phải “vừa làm vừa học” theo kiểu “ngƣời trƣớc dạy ngƣời sau” và trông
chờ vào những khóa đào tạo, tập huấn nghề của các chuyên gia nƣớc
ngoài, ngƣợc lại, những nhà nghiên cứu thì cũng gặp khó khăn do ít có cơ
hội trải nghiệm thực tế; còn một số ít những ngƣời vừa đƣợc đào tạo bài
bản về truyền hình vừa có kinh nghiệm thực tế thì lại quá bận bịu để có
thể cho ra đời những công trình nghiên cứu có giá trị. Và vì vậy, chúng ta
chƣa có những tài liệu nghiên cứu toàn diện về truyền hình, nếu có chăng
chỉ là những mảng đề tài liên quan đến lĩnh vực truyền hình nói chung
đƣợc chẻ nhỏ ở nhiều góc độ. Trong đó, lĩnh vực ngôn ngữ truyền hình,
đặc biệt là ngôn ngữ trong bản tin thời sự - nằm ở trang nhất của tờ báo
hình vẫn chƣa đƣợc nghiên cứu một cách thấu đáo.
Vì vậy, việc tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu về truyền hình mà đặc biệt
là nghiên cứu về bản tin thời sự cả về lý luận và thực tiễn là một yêu cầu
rất cấp thiết, nó thôi thúc chúng tôi lựa chọn đề tài “Ngôn ngữ truyền hình
trong bản tin thời sự Đài Truyền hình Việt Nam” để nghiên cứu chuyên
sâu nhằm góp phần nâng cao chất lƣợng bản tin.

9


10
Truyền hình Việt Nam từ năm 2003 đến tháng 9 năm 2004. Chƣơng trình
này bao gồm tin tức thuộc nhiều lĩnh vực: chính trị, kinh tế, giáo dục, văn
hóa xã hội, thể thao…Tuy nhiên, ở đây chúng tôi chỉ khảo sát phần ngôn
ngữ truyền hình (bao gồm hình ảnh, âm thanh) của phần thời sự trong
nƣớc, vì phần thời sự quốc tế không phải do các phóng viên thời sự của
Đài Truyền hình Việt Nam thực hiện mà chỉ là biên tập lại từ nguồn tin
của các hãng tin nƣớc ngoài.
4. CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU:
4.1. Luận văn đƣợc thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa
Mác – Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, đƣờng lối quan điểm, chính sách
của Đảng và Nhà nƣớc ta.
4.2. Cơ sở thực tiễn của luận văn là việc thực hiện và sử dụng tin tức
trên chƣơng trình thời sự bản tin 19 giờ của Đài Truyền hình Việt Nam.
Tác giả đã trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất bản tin thời sự cũng
nhƣ thu thập các bản tin bằng văn bản và sao chép lại các bản tin trong
chƣơng trình thời sự trong phạm vi nghiên cứu ra băng từ, sau đó khảo sát
ngôn ngữ âm thanh và hình ảnh.
4.3. Phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn là phân tích, so sánh, tổng
hợp và quy nạp. Trong quá trình khảo sát, tác giả cũng sử dụng phƣơng
pháp phỏng vấn, trao đổi trực tiếp để tập trung ý kiến của các nhà báo,
nhà quản lý và khán giả cũng nhƣ sử dụng những nhận xét của Ban cố
vấn Đài Truyền hình Việt Nam. Đồng thời, luận văn cũng có kế thừa chọn
lọc những kết quả nghiên cứu có liên quan.
5. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN:
Luận văn dày 118 trang, gồm phần mở đầu, phần nội dung có 3
chƣơng, phần kết luận, ngoài ra là tài liệu tham khảo và phụ lục.
Chƣơng I: Một số vấn đề lý luận chung về ngôn ngữ truyền hình và

phối toàn bộ các thành tố cấu thành nên ngôn ngữ truyền hình.
-Về thế mạnh:
+Tính công chúng rộng rãi: Truyền hình Việt Nam phủ sóng hơn
80% dân số, khán giả trên khắp các miền đất nƣớc đều có thể xem truyền
hình với nhiều chƣơng trình, thể loại khác nhau, đáp ứng nhu cầu của
khán giả cho dù ở các lứa tuổi, trình độ học vấn, giới tính…khác nhau.
Với nội dung phong phú dựa trên phƣơng tiện chuyển tải hấp dẫn, có thể
nói truyền hình thu hút hết sức đông đảo khán giả.
+Tính tức thời, trực tiếp: khán giả ngồi trƣớc máy thu hình có cảm
giác đƣợc nhìn thấy trực tiếp sự kiện diễn ra mà không phải qua một
phƣơng pháp tƣ duy hay một trung gian nào. Nhƣ vậy, việc tạo ra hiệu
quả “có mặt” và tính “trực tiếp” của sự kiện cho ngƣời xem là đặc trƣng
riêng biệt của thể loại báo chí truyền hình.
+Sự kết hợp giữa âm thanh và hình ảnh: khác với các phƣơng tiện
thông tin đại chúng khác, đặc trƣng cơ bản và nổi bật nhất của truyền hình
là thông tin truyền tải đến khán giả thông qua hình ảnh và âm thanh. Âm
thanh bao gồm lời nói, tiếng động, âm nhạc và hình ảnh bao gồm cả hình
ảnh tĩnh và hình ảnh động.
-Về điểm yếu:
+Khả năng lƣu trữ tài liệu: Khác với báo viết, báo điện tử…, nếu
nhƣ không có chủ đích trƣớc, khán giả truyền hình không thể lƣu giữ
những thông tin mà truyền hình cung cấp. Đối với phần đông khán giả
xem truyền hình thông thƣờng, nếu không có chuẩn bị thì họ không thể

13
lƣu giữ lại đƣợc những thông tin cho riêng mình với mục đích cá nhân vì
thông tin truyền hình thoảng qua rất nhanh, chỉ đƣợc nghe, xem một lần.
Ngƣời xem chỉ có thể lƣu giữ đƣợc sự kiện nếu họ dùng đầu thu ghi
chƣơng trình mình quan tâm lại và để thực hiện đƣợc điều này, nó cũng
đòi hỏi sự đầu tƣ về thiết bị khá tốn kém nên khả năng lƣu trữ tài liệu của

của anh em nhà Lumière (Pháp 1859), trong khi đó mầm móng của truyền
hình lại là con lắc truyền ảnh (1843). Mục đích của những thử nghiệm
đầu tiên là những hình ảnh tĩnh, có nghĩa là nó có mối liên hệ với nhiếp
ảnh trong giai đoạn tiền thân này. Thế nhƣng truyền hình hiện đại “màn
ảnh nhỏ” đã kế thừa từ điện ảnh những hình ảnh chuyển động và thành
quả phim có tiếng. Hơn thế nữa, truyền hình còn đƣợc thừa hƣởng những
điểm mạnh của nền nghệ thuật thứ bảy nhƣ montage, cỡ cảnh, góc máy
mà điện ảnh sơ khai đã phải mất hàng chục năm thử nghiệm mới gặt hái
đƣợc. Và ngôn ngữ truyền hình gần nhƣ đồng nhất và kế thừa ngôn ngữ
tạo hình điện ảnh. Trong truyền hình tuy có sự gần gũi về mặt hình thức
và thẩm mỹ với sân khấu và điện ảnh, thực ra sự gần gũi này xuất hiện
ngay trong giai đoạn hình thành các chƣơng trình và hình thức thể hiện là
tạo hình cộng với lời nói, hoặc có thể thấy ở một số các yếu tố quan trọng
khác nhƣ: đoạn phim, khoảng cách, dựng phim…
Truyền hình là một tổ hợp của nhiều thành phần nội dung, trong đó
ngoài mảng báo chí còn có nhiều tác phẩm của những bộ môn nghệ thuật
nhƣ điện ảnh, sân khấu, ca nhạc, mỹ thuật, kiến trúc. Vậy có thể hiểu
ngôn ngữ truyền hình nhƣ tổ hợp nhiều loại ngôn ngữ nhƣ ngôn ngữ báo
chí, ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ tạo hình, ngôn ngữ sân khấu…[ 5, 12]
Từ điển tiếng Việt đƣa ra định nghĩa về ngôn ngữ nhƣ sau: Ngôn ngữ
là hệ thống ký hiệu dùng làm phƣơng tiện để diễn đạt, thông báo. [17,
688]
Từ những tìm hiểu trên, thử đƣa ra một quan niệm về ngôn ngữ
truyền hình: Ngôn ngữ truyền hình là hệ thống ký hiệu, biểu tƣợng, quy
tắc để diễn đạt nội dung của tác phẩm truyền hình.
Để phân biệt với những tác phẩm từ các ngành nghệ thuật khác đƣợc
chiếu trên truyền hình cần lƣu ý rằng tác phẩm truyền hình là tác phẩm
đƣợc thực hiện bởi kỹ thuật truyền hình, do đạo diễn truyền hình xây
dựng. Nhƣ vậy chúng ta không tính đến một bộ phim điện ảnh đƣợc chiếu


đại diện cho một thứ gì đó, mà thứ đó với một vài đặc điểm chung – ta gọi
là phép ẩn dụ.

16
Loại ẩn dụ rõ nhất là phép so sánh, là sự so sánh một thứ với một thứ
khác, thƣờng đƣợc sử dụng trong các tiết mục phim hay truyền hình. Một
diễn viên đập vỡ ly rƣợu hay làm ngã ly rƣợu đỏ vào miếng vải trắng có
thể hiểu ẩn ý nhƣ bắt đầu của một mối hận thù hay chiến tranh, hoặc cho
sự mất trinh trắng. Màn cửa hé mở cho ánh sáng mặt trời tràn vào phòng
có thể là một sự phục hồi hy vọng hay niềm hạnh phúc.
Hoán dụ: Một từ hay hình ảnh cũng có thể biểu thị một cái gì đó một
cách súc tích nhƣ cách tốc ký, dùng sự vật này để đề cập đến sự vật khác,
chẳng hạn đại diện chỉ một phần nhƣng nói lên cái tổng thể, ta gọi là phép
hoán dụ. Phép này rất hữu ích để kiệm lời, khi nó có thể gợi nhớ đến cả
một hệ thống phía trƣớc.
Một ví dụ có thể thấy ở phóng sự truyền hình chẳng hạn, cùng với lời
bình “tre già, măng mọc”, trong phóng sự nói về lễ kỷ niệm thành lập một
ngôi trƣờng có truyền thống lâu đời, phóng viên đã cho khán giả xem
hình ảnh bức tranh vẽ một cây cổ thụ lớn. Hoặc trong phóng sự nói về
một em thiếu nhi sắp đại diện Việt Nam đi dự diễn đàn thiếu nhi thế giới,
phóng viên đã cận cảnh hình ảnh em bé khệ nệ nhấc chiếc va-li rất to so
với thân ngƣời em – cũng giống nhƣ là trọng trách mà em đang gánh vác.
Nghĩa bóng: Ở mức độ đầu tiên, những dấu hiệu xác định sự vật. Ví
dụ, hoa hồng là từ hoặc hình ảnh biểu thị một loại hoa. Nghĩa đen là nghĩa
gốc hay nghĩa đƣợc lấy trong từ điển. Mặc dù vậy, còn có một tầng nghĩa
thứ hai đƣợc gắn cho từ hoa hồng. Đối với văn hóa một số nƣớc, hoa
hồng còn là sự lãng mạn, tình yêu (một tá hoa hồng đỏ nghĩa là anh yêu
em).
Nghĩa bóng là một từ ngữ hay hình ảnh, âm thanh có ý nghĩa cụ thể
riêng và liên quan tới văn hóa. Thông qua nghĩa hàm ẩn này chúng ta có

trở nên gần gũi với cuộc sống, phản ánh đƣợc hơi thở, động thái của cuộc
sống. Trong lĩnh vực báo chí sức mạnh của truyền hình khác các loại hình
báo chí khác là ở chỗ nó kết hợp đƣợc sức mạnh của mối quan hệ hai
thành tố đó.
Ngoài ra trong các tác phẩm báo chí, ngôn ngữ Truyền hình mang
những đặc điểm chung của ngôn ngữ báo chí. Đó là:
-Chính xác, khách quan: Đặc điểm này đƣợc thể hiện bởi phƣơng
thức hoạt động của báo chí, vì truyền hình phản ánh trực tiếp các sự kiện,
hiện tƣợng thông qua hình ảnh và âm thanh. Đặc điểm hình ảnh kết hợp
với âm thanh đã mang lại tính xác thực là giá trị đầu tiên và quý nhất của

18
thông tin truyền hình. Để thông tin về bất cứ vấn đề gì thì truyền hình cố
gắng bằng mọi giá để có hình ảnh về vấn đề, sự kiện đó, và để thực hiện
đƣợc điều đó thì phóng viên truyền hình phải có mặt nơi xảy ra sự kiện và
kể lại cho ngƣời xem truyền hình bằng những hình ảnh thực qua phƣơng
pháp ghi hình. Về mặt tâm lý, ngƣời xem có trạng thái có mặt, đƣợc
chứng kiến cùng lúc với sự kiện đang diễn ra, cho thấy cuộc sống thực ở
những chi tiết, những trạng thái của bản thân cuộc sống. Nhờ thứ ngôn
ngữ đặc biệt là hình ảnh, truyền hình mang đến cho khán giả hiệu ứng
hiện diện - là hiệu quả của sự đồng bộ giữa sự kiện và sự trình chiếu nó
bằng truyền hình. Khán giả cảm thấy không có sự khác biệt giữa thực tế
và hình ảnh của nó trên màn hình. Tuy vậy độ xác thực của thông tin
truyền hình không phải là tuyệt đối.
-Tiết kiệm, ngắn gọn: Những yếu tố qui định tính chất này là: tính
chất thời sự của thông tin, thời lƣợng các chƣơng trình và điều kiện tiếp
nhận thông tin của khán giả. Tiết kiệm, ngắn gọn với ý nghĩa là biểu đạt
các thông điệp một cách chính xác nhất, dễ hiểu nhất trong khuôn khổ văn
bản nhỏ nhất.
-Đại chúng, phổ cập: Khác với ngôn ngữ của báo in có tính phân

1.2.1. Sự ra đời và các bước phát triển:
Sự ra đời và các bƣớc phát triển của bản tin thời sự gắn với sự ra đời
và phát triển của Đài Truyền hình Việt Nam. Vì tin tức thời sự là thể loại
cơ bản của báo chí Truyền hình nên nó ra đời ngay từ buổi đầu tiên phát
sóng thử nghiệm chƣơng trình truyền hình: lúc 19 giờ ngày 7/9/1970 tại
58 Quán Sứ, Hà Nội. Chƣơng trình thử nghiệm này bao gồm 60 phút thời
sự, ca nhạc, thiếu nhi. Trong đó, tin tức có thời lƣợng 15 phút, do phát
thanh viên đọc trực tiếp trên micro. Phát thanh viên nữ là chị Lan Hƣơng
và phát thanh viên nam là anh Việt Khoa. Từ đó, ngày 7/9/1970 trở thành
ngày kỷ niệm truyền thống của Truyền hình Việt Nam. [11, 24-30]
Sau ngày 7/9/1970, Chính phủ chính thức giao cho Đài Tiếng nói
Việt Nam nhiệm vụ làm truyền hình thử nghiệm. Với những thiết bị
chuyên dùng đầu tiên, tối ngày 27/1/1971 (tức tối 30 Tết Tân Hợi) nhân
dân thủ đô Hà Nội đƣợc xem chƣơng trình truyền hình đầu tiên của Việt
Nam. Chƣơng trình đƣợc phát sóng từ 19 giờ đến 22 giờ với các chuyên
mục Thời sự, ca nhạc, phim tài liệu, phim truyện Việt Nam. Trong đó, có
30 phút thời sự trong nƣớc và thế giới do các phát thanh viên nam, nữ
thay nhau đọc trƣớc micro, thu vào camera điện tử chuyển thẳng đến máy

20
phát đƣa lên cột ăng ten. Sau đó, mỗi tuần lễ phát chƣơng trình thử
nghiệm hai tối, mỗi tối hai tiếng rƣỡi, rồi tiến lên ba tối, bốn tối một tuần.
Ngày 18-5-1971, thủ tƣớng Phạm Văn Đồng đã ký nghị định 91/CP trong
đó ghi rõ “thành lập Ban vô tuyến truyền hình thuộc Đài tiếng nói Việt
Nam”. Chính ban vô tuyến truyền hình với số cán bộ ít ỏi và phƣơng tiện
kỹ thuật thô sơ đó là tiền thân của Đài Truyền hình Việt Nam ngày nay.
Sau ngày thống nhất đất nƣớc, Đảng và nhân dân ta có điều kiện đầu
tƣ nhiều hơn cho ngành truyền hình. Giữa năm 1976, Ban biên tập vô
tuyến truyền hình đƣợc chuyển thành Đài truyền hình trung ƣơng, có trụ
sở làm việc mới đƣợc xây tại trung tâm Giảng Võ. Từ ngày 16-6-1976,

8-1995. Trong qui hoạch chung, một số dự án nhƣ “đưa truyền hình về
vùng núi cao, hải đảo” hay dự án “phủ sóng cho vùng lõm”… đã đƣợc
thông qua. Đặc biệt, hai dự án “phủ sóng chương trình truyền hình quốc
gia” và “phủ sóng chương trình VTV3” đƣợc triển khai nhanh đã đƣa
sóng truyền hình VTV1 và VTV3 đến các trung tâm dân cƣ và đô thị, các
vùng công nghiệp và đồng bằng với số dân tập trung cao.
Qua hơn 5 năm thực hiện, cả nƣớc đã hình thành một hệ thống các
trạm phát lại truyền hình quốc gia trên khắp cả nƣớc gồm hơn 600 trạm
có công suất 500W đến 20 KW, ngoài ra còn hàng trăm điểm thu TVRO
(tín hiệu truyền hình trực tiếp từ vệ tinh) đặt tại các vùng lõm phục vụ
đồng bào miền núi. Nếu nhƣ năm 1995, khi bắt đầu thực hiện qui hoạch,
mới có 58,8% số dân trong cả nƣớc có thể xem đƣợc chƣơng trình truyền
hình quốc gia thì đến đầu năm 2000, tỷ lệ đó đã đạt 78,7%. Hiện nay, cả
nƣớc đã có hơn 80% ngƣời dân theo dõi đƣợc sóng truyền hình Việt Nam
với khoảng trên 9 triệu chiếc máy thu hình.
Do đƣợc sự quan tâm, đầu tƣ của Đảng và Nhà nƣớc cùng sự nỗ lực
không mệt mỏi của đội ngũ cán bộ công nhân viên, phóng viên, biên tập
viên, phát thanh viên, Đài Truyền hình Việt Nam ngày một trƣởng thành
về nội dung chƣơng trình, thiết bị kỹ thuật. Hiện Đài có 4 kênh trực thuộc
với những nội dung chƣơng trình tƣơng đối độc lập. Đó là:
-VTV1: Chƣơng trình tổng hợp bao gồm các mặt chính trị, kinh tế,
văn hoá, xã hội, nhằm phục vụ cho mọi đối tƣợng của toàn xã hội.
Chƣơng trình thời sự mà chúng tôi khảo sát nằm trên kênh này.
-VTV2: Chƣơng trình khoa học, giáo dục, truyền tải kiến thức về
khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.

22
-VTV3: Chƣơng trình văn hóa-thể thao, giải trí và thông tin kinh tế.
-VTV4: Chƣơng trình đối ngoại dành cho ngƣời Việt Nam đang sống
ở nƣớc ngoài.

tục đƣợc cập nhật trong ngày, trong buổi. Những sự kiện vừa xảy ra buổi
sáng đã đƣợc cung cấp cho đông đảo khán giả vào bản tin trƣa. Cũng
trong thời điểm này, bản tin thời sự đã nâng cao tính chuyên nghiệp khi
đƣa vào sử dụng cue (màn hình chạy chữ) và tai nghe giúp phát thanh
viên, biên tập viên thuận lợi hơn rất nhiều trong việc đọc trôi chảy các
bản tin và giúp liên lạc tốt với đạo diễn, tránh đƣợc tối đa những sai sót
trong quá trình phát sóng trực tiếp.
Năm 2002 Đài Truyền hình Việt Nam tách VTV2 ra riêng, thời
lƣợng phát sóng cũng tăng từ 40,5 giờ lên 60,5 giờ/ngày và tết 2002 bắt
đầu phát VTV5.
Đầu năm 2004, Ban Thời sự bắt đầu đƣa vào sử dụng phòng dựng kỹ
thuật số. Việc số hóa hình ảnh cũng nhƣ thông tin sẽ giúp việc xử lý
thông tin nhanh chóng, chính xác cũng nhƣ tận dụng đƣợc kho tài nguyên
hình ảnh lƣu trữ của thông tin.
1.2.2. Cơ cấu tổ chức, bộ máy Ban Thời sự:
Theo quyết định của Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam ký
ngày 21-11-2003 về việc ban hành chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ
cấu tổ chức của Ban Thời sự Đài Truyền hình Việt Nam nhƣ sau:
-Ban Thời sự là đơn vị sự nghiệp thuộc Đài Truyền hình Việt Nam,
có chức năng tổ chức sản xuất và khai thác các chƣơng trình thời sự thuộc
mọi lĩnh vực trong nƣớc, quốc tế theo chỉ đạo của Tổng Giám đốc, trên cơ
sở đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà
nƣớc.
-Ban Thời sự có những nhiệm vụ và quyền hạn nhƣ sau:
Xây dựng kế hoạch công tác hàng năm và dài hạn, trong đó có kế
hoạch về định hƣớng tuyên truyền, sản xuất, khai thác các thể loại chƣơng
trình thời sự trong nƣớc, quốc tế và tổ chức thực hiện kế hoạch đã đƣợc
phê duyệt.
Tổ chức nghiệm thu các thể loại chƣơng trình thời sự theo qui định.
Chịu trách nhiệm trƣớc Tổng Giám đốc về nội dung, chất lƣợng và chi

nhất và tập trung sự đầu tƣ lớn nhất cũng nhƣ đƣợc đông đảo khán giả
quan tâm nhất.

25
1.2.3. Đặc điểm của Bản tin Thời sự:
1.2.3.1. Về thể loại:
Ngôn ngữ trong bản tin thời sự thuộc loại tác phẩm thông tin mang
tính chất sự kiện - phản ánh khách quan trực tiếp sự kiện, hiện tƣợng,
ngắn gọn và mạch lạc, dễ hiểu. Kết cấu của các tác phẩm thuộc loại này
thƣờng là năng động nhằm mục đích phản ánh rõ nhất, nhanh nhất những
nhận thức đầu tiên về sự kiện khách quan. Trong loại tác phẩm thông tin
có nhiều thể loại, trong đó có tin, phóng sự và ghi nhanh. [24, 183]
Bản tin thời sự của Đài truyền hình Việt Nam gồm tin, phóng sự
ngắn và ghi nhanh. Qua khảo sát của chúng tôi thì trung bình một bản tin
thời sự 19 giờ có từ 15 đến 22 tin, phóng sự ngắn và ghi nhanh (không kể
tin thế giới). Trong đó, phóng sự ngắn chiếm từ 4 đến 8 phóng sự, ghi
nhanh chỉ 1-2 hoặc không có; còn lại chiếm một số lƣợng đáng kể nhất là
tin.
-Tin: Tin truyền hình thƣờng thông báo tức thời sự kiện theo mặt cắt
ngang, nó đƣợc phát sóng ngay sau khi sự kiện diễn ra nhằm cung cấp
cho ngƣời xem những thông tin cơ bản nhất: trả lời câu hỏi 5W và 1H
(thời gian, địa điểm diễn ra sự kiện, diễn ra cái gì, ai tham gia và kết quả
nhƣ thế nào ). Tin không đòi hỏi phóng viên kể lại toàn bộ diễn biến quá
trình sự kiện, không yêu cầu phân tích ý nghĩa sự kiện và không để lộ thái
độ của nhà báo.
Thông thƣờng, căn cứ vào hình thức thể hiện ngƣời ta phân chia các
dạng tin: tin bình, tin ảnh, tin lời. Nhƣ vậy, hình ảnh không chỉ là yếu tố
chủ yếu của ngôn ngữ hình thành thể loại tin tức trên truyền hình, mà còn
trở thành tiêu chí quan trọng trong việc hình thành các dạng tin khác
nhau. Dạng tin mà phóng viên không có khả năng ghi hình và đƣợc khai

định. Tin trên truyền hình vẫn áp dụng các mô thức truyền thống, nó có
sự gần gũi hơn với tin trên phát thanh về lối viết, câu chữ, cách làm tròn
số
-Phóng sự: Phóng sự ngắn truyền hình là một thể loại chủ yếu của
chƣơng trình thời sự truyền hình, có thời lƣợng ngắn (vài phút) phản ánh
và phân tích những sự kiện, sự việc nóng bỏng, nổi cộm “có vấn đề” xảy
ra trong một quá trình phát sinh và phát triển mà công chúng rất quan tâm
theo dõi, để kịp thời phát hiện, khám phá bản chất vấn đề, đồng thời có
kiến nghị và đề xuất giải pháp về vấn đề đó. Trong phóng sự truyền hình,
hình ảnh, ngôn ngữ, tiếng động và âm nhạc đều thống nhất trong một mục

27
đích thông tin mô tả trực tiếp, khách quan các sự kiện nằm trong dòng
thời sự chủ lƣu, đƣợc xã hội quan tâm. Ở đây, những suy nghĩ, tƣ tƣởng
của các tác giả đƣợc thể hiện qua việc lựa chọn, phân tích các chi tiết cụ
thể của sự kiện.
Phóng sự truyền hình phản ánh cuộc sống bằng hình ảnh và âm thanh
do máy quay ghi lại. Nhƣng yêu cầu đặt ra là phải rút ngắn khoảng thời
gian từ lúc sự kiện xảy ra trên màn ảnh nhỏ, càng ngắn bao nhiêu càng tốt
bấy nhiêu. Trong cách thể hiện, phóng sự gây cho ngƣời xem cảm giác là
họ đang cùng với phóng viên theo dõi diễn biến của sự kiện và vẫn giữ
nguyên những đặc tính chủ yếu là phản ánh tính logic phát triển của sự
kiện bằng hình ảnh, đánh giá bình luận sự kiện. Một đặc điểm của phóng
sự truyền hình là có sự xuất hiện của phóng viên dẫn chuyện, nhƣ một
nhân chứng, kể và bình về sự kiện, phỏng vấn những ngƣời trong cuộc
nhằm làm sáng tỏ chủ đề, thể hiện thái độ thẩm định hiện thực của tác giả
trƣớc vấn đề mà phóng sự nêu ra.
Theo ý kiến của một số phóng viên kỳ cựu của Ban thời sự Đài
Truyền hình Việt Nam thì phóng sự ngắn (còn gọi là phóng sự thời sự) đi
vào những vấn đề gắn với yếu tố thời sự. Trƣớc kia một phóng sự dài 7-8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status