nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trên đai bàn huyện võ nhai tỉnh quảng ninh - Pdf 22


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

DƢƠNG VĂN HÀO
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VÕ NHAI
TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Ngƣời giáo viên hƣớng dẫn: TS. Phạm Thị Minh Nguyệt

THÁI NGUYÊN - 2014


nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên bài báo cáo không thể tránh khỏi những thiếu
sót, rất mong nhận được ý kiến nhận xét của Thầy, Cô để tôi có thêm được
nhiều kinh nghiệm trong thực tiễn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn Dƣơng Văn Hào

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

iii
MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu của đề tài 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4. Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu 4
5. Đóng góp mới của đề tài nghiên cứu 5
6. Bố cục của luận văn 5
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN QUẢN LÝ NHÀ
NƢỚC VỀ ĐẤT ĐAI 6
1.1. Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về đất đai 6

TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VÕ NHAI 40
3.1. Tình hình cơ bản của huyện Võ Nhai 40
3.1.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên 40
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội huyện Võ Nhai 45
3.1.3. Tình hình phát triển kinh tế xã hội huyện Võ Nhai giai đoạn
2011 - 2013 48
3.2. Thực trạng quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Võ Nhai 50
3.2.1. Thông tin chung về mẫu điều tra 50
3.2.2. Tình hình QLNN đối với đất đai trên địa bàn huyện Võ Nhai 51
3.3. Đánh giá chung về công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn
huyện Võ Nhai 76
3.3.1. Những kết quả đạt được 76

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

v
3.3.2. Những hạn chế, tồn tại, nguyên nhân của hạn chế, tồn tại 80
Chƣơng 4. GIẢ ẢN LÝ NHÀ
NƢỚC VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VÕ NHAI 87
4.1. Quan điểm, định hướng, mục tiêu hoàn nâ lý nhà nước
về đất đai trên địa bàn huyện Võ Nhai 87
4.1.1. Quan điể ản lý nhà nước về đất đai trên địa
bàn huyện Võ Nhai 87
4.1.2. Định hướng quản lý nhà nước về đất đai trên
địa bàn huyện Võ Nhai 88
4.1.3. Mục tiêu quản lý nhà nước về đất đai trên địa
bàn huyện Võ Nhai 90
4.2. Một số giải pháp quản lý nhà nước về đất đai trên
địa bàn huyện Võ Nhai 90
4.2.1. Hoàn thiện công cụ và phương pháp quản lý nhà nước về đất đai. 91
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Đánh giá chung về công tác quản lý, sử dụng đất 52
Biểu đồ 3.2. Sự khác biệt giữa các nhóm về đánh giá chung công tác quản lý
sử dụng đất 53
Biểu đồ 3.3. Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 56
Biểu đồ 3.4. Đánh giá việc lập quy hoạch và kế hoạch 59
Biểu đồ 3.5. Việc lấy ý kiến nhân dân trong quá trình lập quy hoạch, kế
hoạch đất 62
Biểu đồ 3.6. Tham gia ý kiến vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 62
Biểu đồ 3.7. Việc công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 63
Biểu đồ 3.8. Về tình trạng quy hoạch “treo” 64
Biểu đồ 3.9. Đánh giá việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 68
Biểu đồ 3.10. Ý thức chấp hành pháp luật về đất của nhân dân 71
Biểu đồ 3.11. Việc xử lý các hành vi vi phạm về đất đai 73
Biểu đồ 3.12. Công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật về đất đai 74
Biều đồ 3.13. Năng lực, phẩm chất cán bộ 75
Biểu đồ 3.14. Giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo 76 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

vững mạnh, một xã hội văn minh, trong đó việc quản lý tốt tài nguyên đất có
vai trò quan trọng cho sự ổn định và phát triển đó.
Trong thực tiễn cho thấy Quản lý nhà nước về đất đai tốt hay xấu có tác
động rất lớn đến nhiều lĩnh vực, nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội, nhất
là trong giai đoạn phát triển kinh tế thị trường, đất đai không những là tư liệu
sản xuất quan trọng mà còn được xem như là hàng hoá, nguồn lực tài chính
(thể hiện qua việc thế chấp, góp vốn, ), chúng ta đang thực hiện các giải
pháp nhằm thu hút đầu tư (trong đó yếu tố bằng đất đai là vấn đề quan trọng),
ổn định chính trị - xã hội (liên quan đến thu nhập của người dân, tình hình
khiếu kiện, tranh chấp đất đai, ) vì vậy việc quản lý đất đai có vai trò hết sức
quan trọng cho sự phát triển.
Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách về đất đai nhằm cụ thể hoá
quyền sở hữu toàn dân về đất đai, khởi nguồn là luật đất đai năm 1987, tiếp
đó là luật đất đai năm 1993, đã được sửa đổi bổ sung năm 1998, 2003, mới
đây nhất là Luật đất đai năm 2013 cùng với hệ thống các văn bản dưới luật.
Những văn bản đó là định hướng quan trọng để nhà nước thực hiện tốt vai trò
quản lý nhà nước về đất đai trong những năm qua.
Mặc dù các quy định, các văn bản phục vụ công tác quản lý nhà nước
về đất đai đã tương đối đầy đủ, các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung
ương đến địa phương đã cụ thể hoá các văn bản về đất đai để quản lý và
khai thác có hiệu quả các tiềm năng từ đất song vấn đề quản lý và sở hữu
đất đai vẫn luôn là nội dung phức tạp. Cùng với xu hướng phát triển của
đất nước, diễn biến quan hệ về đất đai luôn xuất hiện những vấn đề mới và
phức tạp, những quy định về công tác quản lý đất đai hiện hành mặc dù đã
được điều chỉnh, bổ sung thường xuyên nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu
cầu đổi mới của nền kinh tế thị trường và xu hướng hội nhập. Bên cạnh đó
vai trò quản lý của nhà nước về đất đai trên cơ sở các quy định của luật với

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

4
- Góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý và
quản lý nhà nước về đất đai.
- Chỉ ra được những điểm mạnh, điểm yếu trong công tác quản lý nhà
nước về đất đai trên địa bàn huyện Võ Nhai, nguyên nhân của những tồn tại,
những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về đất đai, từ đó đề ra giải
pháp khắc phục.
- Thông qua kết quả thu thập số liệu sơ cấp xác định sự hài lòng của
cán bộ, nhân dân đối với công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn
huyện Võ Nhai.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vai trò quản lý của nhà nước đối với
lĩnh vực đất đai bao gồm cả công tác quản lý và khai thác tài nguyên đất phục
vụ phát triển kinh tế xã hội tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Nghiên cứu công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất
đai tại huyện Võ Nhai tỉnh thái Nguyên, bao gồm hệ thống bộ máy quản lý
nhà nước, việc cụ thể hoá các văn bản Luật và hệ thống văn bản hướng dẫn
vào công tác quản lý nhà nước, những kết quả đạt được, chưa đạt được từ đó
đề ra giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn
huyện Võ Nhai.
Về không gian: Nghiên cứu vấn đề quản lý nhà nước đối với đất đai
trong phạm vi huyện Võ Nhai.
Về thời gian: từ năm 2011 đến năm 2013.
4. Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu
Từ nội dung nghiên cứu nêu ra được các vấn đề lý luận về đất đai, các
nội dung quản lý nhà nước về đất đai, những hạn chế, tồn tại cần khắc phục.

Quản lý là sự tác động lên một hệ thống nào đó với mục tiêu đưa hệ
thống đó đến trạng thái cần đạt được. Quản lý là một phạm trù xuất hiện trước
khi có Nhà nước với tính chất là một loại lao động xã hội hay lao động chung
được thực hiện ở quy mô lớn. Quản lý được phát sinh từ lao động, không tách
rời với lao động và bản thân quản lý cũng là một loại hoạt động lao động.
Như vậy, quản lý không phải là sản phẩm của sự phân chia quyền lực,
mà là sản phẩm của sự phân công lao động nhằm liên kết và phối hợp hoạt
động chung của con người.
Quản lý nhà nước là một phạm trù gắn liền với sự xuất hiện của Nhà
nước, quản lý nhà nước ra đời với tính chất là loại hoạt động quản lý xã hội.
Quản lý nhà nước, hiểu theo nghĩa rộng, được thực hiện bởi tất cả các cơ quan
nhà nước. Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành và điều
hành được đặc trưng bởi các yếu tố có tính tổ chức; được thực hiện trên cơ sở
và để thi hành pháp luật; được bảo đảm thực hiện chủ yếu bởi hệ thống các cơ
quan hành chính nhà nước (hoặc một số tổ chức xã hội trong trường hợp được
giao nhiệm vụ quản lý nhà nước). Quản lý nhà nước cũng là sản phẩm của
việc phân công lao động nhằm liên kết và phối hợp các đối tượng bị quản lý.
Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu nhà nước về đất
đai, đó là các hoạt động: Nhà nước nắm chắc về tình hình đất đai, Nhà nước
thực hiện phân phối và phân phối lại đất đai theo quy hoạch, kế hoạch, Nhà

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

7
nước thường xuyên thanh tra, kiểm tra về chế độ quản lý, sử dụng đất đai,
Nhà nước thực hiện điều tiết các nguồn lợi từ đất.
Công tác quản lý nhà nước về đất đai gắn liền với quyền sở hữu đất đai
và quan hệ đất đai được quy định bởi các Luật và các văn bản dưới luật.
Các quan hệ đất đai là các quan hệ xã hội trong lĩnh vực kinh tế, bao

cho thuê đất, thu tiền sử dụng từ đất, )
1.1.2. Đất đai
1.1.2.1. Khái niệm đất đai
Ðất là một dạng tài nguyên vật liệu của con người. Ðất có hai nghĩa:
đất đai là nơi ở, xây dựng cơ sở hạ tầng của con người và thổ nhưỡng là mặt
bằng để sản xuất nông lâm nghiệp.
Ðất theo nghĩa thổ nhưỡng là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập lâu
đời, hình thành do kết quả của nhiều yếu tố: đá gốc, động thực vật, khí hậu,
địa hình và thời gian. Thành phần cấu tạo của đất gồm các hạt khoáng chiếm
40%, hợp chất humic 5%, không khí 20% và nước 35%. Giá trị tài nguyên đất
được đo bằng số lượng diện tích (ha, km2) và độ phì (độ mầu mỡ thích hợp
cho trồng cây công nghiệp và lương thực).
1.1.2.2. Vai trò, đặc điểm của đất đai
Đất đai là một tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia và nó
cũng là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người, các
sinh vật khác trên trái đất. Nếu không có đất đai thì không có bất kỳ một
ngành sản xuất nào, con người không thể tiến hành sản xuất ra của cải vật
chất để duy trì cuộc sống và duy trì nòi giống đến ngày nay.
Đất đai có tính cố định vị trí, không thể di chuyển được, tính cố định vị
trí quyết định tính giới hạn về quy mô theo không gian và chịu sự chi phối của
các yếu tố môi trường nơi có đất. Mặt khác, đất đai không giống các hàng hóa
khác có thể sản sinh qua quá trình sản xuất do đó, đất đai là có hạn. Đất đai là
một tài sản không hao mòn theo thời gian và giá trị đất đai luôn có xu hướng
tăng lên theo thời gian.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

9
Đất đai có tính đa dạng phong phú tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng đất
đai và phù hợp với từng vùng địa lý. Đất đai là một tư liệu sản xuất gắn liền


10
Đất đai là tài nguyên quốc gia, là tài sản chung của toàn dân, vì vậy
không thể có bất cứ cá nhân hay một nhóm người nào chiếm đoạt tài sản
chung thành của riêng mình được. Chỉ có Nhà nước - chủ thể duy nhất đại
diện hợp pháp cho toàn dân mới có quyền quyết định số phận pháp lý của đất
đai, thể hiện sự tập trung quyền lực và thống nhất của Nhà nước trong quản lý
nói chung và trong lĩnh vực đất đai nói riêng. Vấn đề này được quy định tại
điều 18, Hiến pháp năm 1992: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai
theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả”
và được cụ thể hơn tại Luật đất đai “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà
nước đại diện chủ sở hữu”, “ Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với đất
đai”, “Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất thông qua các
chính sách tài chính về đất đai” (Điều 5 Luật đất đai năm 2003)
- Nguyên tắc đảm bảo sự kết hợp hài hoà giữa quyền sở hữu đất đai và
quyền sử dụng đất đai, giữa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người trực
tiếp sử dụng
Theo Luật dân sự thì quyền sở hữu đất đai bao gồm quyền chiếm hữu
đất đai, quyền sử dụng đất đai, quyền định đoạt đất đai của chủ sở hữu đất đai.
Quyền sử dụng đất đai là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ
đất đai của chủ sở hữu đất đai hoặc chủ sử dụng đất đai khi được chủ sở hữu
chuyển giao quyền sử dụng. Từ khi Hiến pháp 1980 ra đời quyền sở hữu đất
đai ở nước ta chỉ nằm trong tay Nhà nước còn quyền sử dụng đất đai vừa có ở
Nhà nước, vừa có ở trong từng chủ sử dụng cụ thể. Nhà nước không trực tiếp
sử dụng đất đai mà thực hiện quyền sử dụng đất đai thông qua việc thu thuế,
thu tiền sử dụng từ những chủ thể trực tiếp sử dụng đất đai. Vì vậy, để sử
dụng đất đai có hiệu quả, Nhà nước phải giao đất cho các chủ thể trực tiếp sử
dụng và phải quy định một hành lang pháp lý cho phù hợp để vừa đảm bảo lợi
ích cho người trực tiếp sử dụng, vừa đảm bảo lợi ích của Nhà nước. Vấn đề
này được thể hiện ở Luật đất đai "Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người

(Chính phủ, các Bộ); mặt khác, phát huy dân chủ một cách mạnh mẽ, giao đầy
đủ quyền và trách nhiệm giải quyết cho các cấp ở địa phương.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

12
Những biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ được thể hiện trong
năm điểm sau:
+ Sự phụ thuộc của cơ quan quản lý nhà nước vào cơ quan quyền lực
nhà nước cùng cấp.
+ Sự tuân thủ của địa phương đối với Trung ương, của cấp dưới đối với
cấp trên.
+ Sự phân cấp quản lý.
+ Sự hướng về cơ sở.
+ Sự phụ thuộc hai chiều của cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương.
1.1.4. Chủ thể quản lý nhà nước về đất đai
Quản lý nhà nước về đất đai được xây dựng và phân cấp gồm các cơ
quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương. Hệ thống này bao gồm
các cơ quan có thẩm quyền chung là Chính phủ, UBND (Uỷ ban nhân dân)
cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, UBND cấp huyện, thành phố, thị
xã trực thuộc tỉnh, UBND xã, phường, thị trấn; Hệ thống cơ quan quản lý nhà
nước có thẩm quyền riêng gồm Bộ Tài nguyên - Môi trường, Sở Tài nguyên -
Môi trường, Phòng Tài nguyên - Môi trường, cán bộ địa chính xã, phường, thị
trấn. Bên cạnh đó còn có sự tham gia của hệ thống cơ quan quyền lực vào
hoạt động quản lý nhà nước về đất đai với vai trò đại diện cho nhân dân thực
hiện chức năng giám sát.
1.1.5. Nội dung quản lý nhà nước về đất đai
Quản lý nhà nước về đất đai là một trong các hoạt động quản lý của
nhà nước mang tính chất chuyên ngành. Công tác quản lý nhà nước về đất
đai gắn liền với quyền sở hữu đất đai được quy định bởi các luật và các

xác định nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế xã
hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.
Chính vì thế cho nên pháp luật sẽ có tác động mạnh mẽ đến công tác quản
lý. Một hệ thống pháp luật đồng bộ, rõ ràng, cụ thể làm cho công tác quản
lý được hiệu quả và thuận lợi. Vì các cơ quan quản lý theo đúng pháp luật
quy định mà thực hiện, không gặp những vướng mắc trở ngại nào nếu như

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

14
văn bản pháp luật đó mang tính khoa học và cụ thể. Pháp luật có ý nghĩa
quan trọng đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Cơ cấu kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh đa
dạng cùng với các mối quan hệ sử dụng đất đai phức tạp đòi hỏi pháp luật
nói chung và luật đất đai nói riêng phải tạo nên một môi trường pháp lý
thuận lợi cho hoạt động tự do kinh doanh phát triển, tạo cơ hội cho mọi
người làm ăn sinh sống theo pháp luật. Bên cạnh đó, pháp luật còn tạo điều
kiện để nhà nước thực hiện được vai trò người điều hành nền kinh tế thị
trường, pháp luật còn là công cụ để nhà nước kiểm tra các hoạt động kinh
doanh, trừng trị các hành vi vi phạm pháp luật. Ngoài ra, pháp luật còn xác
lập, củng cố và hoàn thiện những cơ sở pháp lý của nhà nước, đặc biệt là
trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai nhằm phát huy cao nhất hiệu lực
của cơ quan quản lý. Để đạt được điều đó, pháp luật phải xác định rõ các
nguyên tắc tổ chức và hoạt động cũng như thẩm quyền của cơ quan Nhà
nước. Pháp luật của nhà nước ta hiện nay phải là cơ sở để hoàn thiện bộ
máy nhà nước phù hợp với cơ chế mới mà trước hết phải cải cách một bước
nền hành chính quốc gia. Nhưng thực tế luật đất đai hiện nay cho thấy vẫn
còn có một số hạn chế làm giảm hiệu lực của cơ quan nhà nước. Đó là do
luật đất đai được xây dựng trong điều kiện kinh tế đang từng bước hoàn
thiện, chưa lường trước được sự chuyển biến tình hình vì vậy luật còn quy

người là việc làm quan trọng, để cho mọi người thấy rõ được chủ trương,
đường lối chính sách của Đảng trong công tác quản lý. Sự ổn định về mặt xã
hội là yếu tố để nâng cao hiệu quả quản lý đất đai. Một yếu tố quan trọng
khác cũng có ảnh hưởng đến quản lý đất đai đó là phong tục tập quán của
người dân cũng như tâm lý của họ trong đời sống xã hội. Tập quán sinh sống
làng xã, cộng đồng, nhiều thế hệ cùng chung sống trong một gia đình, đất đai
do ông bà tổ tiên để lại không có giấy tờ hợp pháp cũng chẳng làm cho họ bận
tâm vì họ nghĩ chẳng ai có thể đuổi họ đi chỉ vì không có giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất hay sở hữu nhà ở. Mặt khác đất sử dụng lại không có chủ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

16
cụ thể do chuyển đổi từ nhiều đời không có giấy tờ chứng minh vì vậy gây
khó khăn cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai nhất là ở khu vực nông
thôn hiện nay.
- Nhân tố kinh tế
Công tác quản lý nói chung và quản lý đất đai nói riêng phải có cơ sở
vật chất kỹ thuật, máy móc hiện đại để đáp ứng cho yêu cầu quản lý hiện nay.
Đào tạo nhân lực là cốt lõi để thực hiện quản lý. Thực hiện những nội dung
trên phải có một nguồn kinh phí lớn. Sự phát triển của nền kinh tế với nhịp độ
cao và ổn định tạo ra được giá trị sản phẩm to lớn từ đó có thể tập trung
nguồn lực để đầu tư cho việc đào tạo nhân lực. Mặt khác một nền kinh tế phát
triển sẽ kích thích sự phát triển của khoa học công nghệ, kích thích sự phát
triển sản xuất, tăng năng suất lao động, thúc đẩy chuyên môn hoá sản xuất và
phân công lao động xã hội,… giúp cho công tác quản lý được thuận lợi hơn,
giảm bớt được những khó khăn phức tạp trong quản lý. Việc chuyển đổi từ
nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
có sự quản lý của nhà nước tác động rất lớn đến quản lý và sử dụng đất. Trên
phạm vi cả nước, từ khi chưa tiến hành đổi mới thì hầu hết đều sống dựa vào

khung giá do nhà nước ban hành, nhưng khi đã chuyển sang để phục vụ cho
phát triển đô thị thì giá đất đã tăng gấp nhiều lần so với trước. Từ sự phân tích
trên có thể thấy yếu tố kinh tế có tác động mạnh đến quản lý sử dụng đất, đến
giá trị của đất nhất là trong sự phát triển kinh tế với nhịp độ cao như hiện nay.
1.1.7. Công cụ quản lý nhà nước về đất đai
- Công cụ pháp luật
Pháp luật là công cụ bắt buộc các tổ chức và cá nhân thực hiện nghĩa vụ
thuế đối với nhà nước và các nghĩa vụ khác.
Pháp luật là công cụ quản lý không thể thiếu được của một Nhà nước.
Nhà nước nào cũng luôn thực hiện quyền cai trị của mình trước hết bằng pháp
luật, Nhà nước dùng pháp luật tác động vào ý chí con người để điều chỉnh
hành vi của con người.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status