Tình hình biến động tỷ giá hối đoái VNDUSD giai đoạn 2011 đến 2014 và ảnh hưởng của biến động này đến các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu việt nam - Pdf 22

LỜI NÓI ĐẦU
Tỷ giá hối đoái có vai trò quan trọng gắn liền với nền kinh tế của các nước trên
thế giới và các quan hệ kinh tế quốc tế. Cũng giống như vai trò của giá cả trong nền
kinh tế thị trường, tỷ giá hối đoái có tác động quan trọng tới những biến đổi của
nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế của mỗi quốc gia nói riêng. Nó có thể
thay đổi vị thế và lợi ích của các nước trong quan hệ kinh tế quốc tế. Tỷ giá hối
đoái tác động đến sự thăng bằng trong cán cân thanh toán của một quốc gia, sự biến
động của tỷ giá hối đoái có thể kích thích hoặc hạn chế xuất nhập khẩu. Và các
doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu sẽ là người chịu ảnh hưởng trực tiếp từ
những thay đổi này. Để rõ hơn về ảnh hưởng của sự biến động tỷ giá đến hoạt động
xuất nhập khẩu thì chúng ta sẽ đi sâu vào tìm hiểu “Tình hình biến động tỷ giá hối
đoái VND/USD giai đoạn 2011 đến 2014 và ảnh hưởng của biến động này đến
các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu Việt Nam”. Qua đó ta có thể thấy
được những biến động tỷ giá trong thời gian qua và chính sách của nhà nước và
những thuận lợi, khó khăn của các doanh nghiệp khi tỷ giá tăng, giảm.

I.TỔNG QUAN VỀ TỶ GIÁ VÀ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU
1. Tổng quan về tỷ giá:
1.1. Khái niệm:
Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đồng tiền này được biểu thị thông qua một
đồng tiền khác. Nói cách khác, tỷ giá là số đơn vị đồng tiền định giá trên một đồng
tiền yết giá. Tại Việt Nam sử dụng phương pháp yết giá trực tiếp, nghĩa là dồng
ngoại tệ đóng vai trò là dồng tiền yết giá(số đơn vị =1), còn đồng nội tệ đóng vai
trò là đồng tiền định giá.
1.2. Các loại tỷ giá: có rất nhiều loại tỷ giá khác nhau tùy thuộc vào từng tiêu thức
phân loại khác nhau;
a. Căn cứ vào chế độ quản lý ngoại hối, tỷ giá hối đoái bao gồm:
- Tỷ giá chính thức: là tỷ giá do NHTW của mỗi nước công bố. Tỷ giá hối đoái này
được công bố hàng ngày vào đầu giờ làm việc của NHTW. Dựa vào tỷ giá này các
NHTM và các TCTD sẽ ấn định tỷ giá mua bán ngoại tệ giao ngay, có kỳ hạn, hoán
đổi.

-Tỷ giá hối phiếu trả tiền ngay: là tỷ giá mua bán các loại hối phiếu tra tiền ngay
bằng ngoại tệ.
- Tỷ giá hối phiếu có kỳ hạn : là tỷ giá mua bán các loại hối phiếu có kỳ hạn bằng
ngoại tệ.
- Tỷ giá chuyển khoản: là tỷ giá mua bán ngoại hối bằng cách chuyển khoản qua
ngân hàng.
- Tỷ giá tiền mặt: là tỷ giá mua bán ngoại hối được thanh toán bằng tiền mặt.
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá :
a. Tình hình cán cân thanh toán quốc tế: cán cân thanh toán quốc tế của một quốc
gia có thể rơi vào một trong ba trạng thái sau: cân bằng, thâm hụt hay thặng dư, ảnh
hưởng trực tiếp đến tỷ giá, Vì vậy, nếu cán cân thanh toán quốc tế dương thì tỷ giá
hối đoái có chiều hướng giảm hoặc giữ vững. Ngược lại nếu cán cân thanh toán
quốc tế âm thì tỷ giá hối đoái có xu hướng tăng.
b. Mức độ tăng trưởng hay suy thoái của nền kinh tế:
Mức độ tăng, giảm của GDP thực tế của một nước so với nước khác, trong điều
kiện các nhân tố khác không đổi, sẽ làm tăng hoặc giảm nhu cầu về hàng hóa, dịch
vụ nhập khẩu, do đó sẽ làm cho nhu cầu ngoại hối để thanh toán hàng nhập khẩu sẽ
tăng lên hay giảm xuống từ đó tác động đến cung cầu ngoại tệ và làm cho tỷ gia hối
đoái giảm đi hoặc tăng lên.
c. Sự chênh lệch lạm phát của đồng tiền quốc gia:
Khi tỷ lệ lạm phát của một quốc gia tăng lên hay giảm xuống sẽ làm giá trị của
đồng tiền nước đó thay đổi dẫn đến tỷ giá hối đoái của đồng tiền nước đó so với
nước ngoài bị biến động. Nếu mức lạm phát của nước này cao hơn mức lạm phát
của nước khác thì sức mua của nội tệ sẽ giảm so với ngoại tệ. Lạm phát cao càng
kéo dài, đồng tiền càng mất giá, sức mua càng giảm nhanh, sức mua của đồng tiền
trong nước giảm thì sức mua đối ngoại của nó cũng giảm làm cho tỷ giá hối đoái
tăng.
d. Mức chênh lệch giữa lãi suất các nước:
Ở thị trường nao có mức lãi suất ngắn hạn cao hơn thì những luồng vốn ngắn
hạn có xu hướng đổ về thị trường đó làm cho cung cầu ngoại tệ tăng lên, cầu về

giao lưu trao đổi hàng hóa với các nước khác thông qua các hoạt động xuuats nhập
khẩu.
3. Ảnh hưởng của tỷ giá đến hoạt động xuất nhập khẩu:
3.1. Tác động của biến động tỷ giá lên hoạt động nhập khẩu:
a. Ảnh hưởng của biến động tỷ giá lên kim ngạch nhập khẩu:
Khi giá đồng nội tệ tăng hay tỷ giá hối đoái giảm, nhập khẩu sẽ được khuyến
khích do giá nhập khẩu trở nên rẻ tương đối, chi phí nhập khẩu giảm, lượng nhập
khẩu tăng lên dẫn đến sự tăng lên trong kim ngạch nhập khẩu. Ngược lại, khi tỷ giá
hối đoái tăng (đồng nội tệ giảm giá) sẽ gây bất lợi cho nhập khẩu, giá nhập khẩu trở
nên đắt đỏ hơn, nhà nhập khẩu phải bỏ nhiều tiền hơn để mua một lương hàng hóa
như cũ sẽ dẫn đến việc giảm lợi nhuận các nhà nhập khẩu. Khi lợi nhuận không đủ
bù đắp chi phí, cầu nhập khẩu giảm xuống, do đó kim ngạch nhập khẩu giảm .
b. Ảnh hưởng của biến động tỷ giá lên cơ cấu nhập khẩu:
Trên phương diện cơ cấu nhập khẩu, sự tăng tỷ giá hối đoái sẽ khiến các nhà
quản lý cân nhắc xem phải nhập khẩu những mặt hàng gì. Những mặt hàng như
nông sản có thể sẽ bị hạn chế do sản xuất trong nước có thể đáp ứng nhu cầu, các
mặt hàng như xăng, dầu, máy móc, thiết bị có thể chiếm tỷ trọng lớn trong danh
mục nhập khẩu.
c. Ảnh hưởng của biến động tỷ giá lên tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu:
Khi xét về tính cạnh tranh nhập khẩu, không một quốc gia nào muốn sản phẩm
nhập khẩu lại có tính cạnh tranh cao hơn sản phẩm trong nước. Khi tỷ giá tăng lên,
sản phẩm nhập khẩu có lợi thế trong khi sản phẩm trong nước lại bất lợi về giá. Khi
tỷ giá giảm, cạnh tranh về giá của sản phẩm nhập khẩu không còn, việc tỷ giá giảm
tương đương với việc đánh thuế lên hàng nhập khẩu do đó hàng nhập khẩu trở nên
đắt hơn. Nếu tình trạng này kéo dài thì hàng nhập khẩu từ thị trường này có thể
được thay thế bằng hàng hóa thị trường khác hoặc sản phẩm trong nước.
3.2. Tác động của biến động tỷ giá lên hoạt động xuất khẩu:
a. Ảnh hưởng của biến động tỷ giá lên kim ngạch xuất khẩu:
- Khi tỷ giá hối đoái giảm, giá đồng nội tệ tăng lên, lượng ngoại tệ thu về từ hoạt
động xuất khẩu giảm xuống, doanh thu từ hoạt động xuất khẩu tính ra đồng nội tệ

khẩu nhiều hơn.
II. BIẾN ĐỘNG TỶ GIÁ VND/USD VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN CÁC
DOANH NGHIỆP KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU TẠI VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 2011-2014.
1. Tình hình biến động của tỷ giá hối đoái VND/USD:
Việc quản lý tỷ giá hối đoái là yếu tố rất quan trọng vì nó sẽ giúp kiểm soát
được lạm phát, ổn định được kinh tế vĩ mô và cán cân thương mại. Và ở Việt Nam
cũng đang rất chú trọng vấn đề này, Việt Nam đã có nhiều thay đổi trong cơ chế áp
dụng chế độ tỷ giá và chế độ tỷ giá hiện nay (2011-2014) là chế độ neo tỷ giá với
biên độ được điều chỉnh. Ở Việt Nam đồng USD gần như là được mặc định là đồng
neo tỷ giá và tỷ giá được ngân hàng nhà nước(NHNN) công bố là VND/USD. Căn
cứ vào tỷ giá giữa USD và các đồng tiền khác mà các ngân hàng thương mại sẽ xác
lập tỷ giá giữa các ngoại tệ đó với VND. Trong thời gian qua tỷ giá VND/USD đã
có nhiều biến động và nó ảnh hưởng rất nhiều đến các hoạt động kinh tế cũng như
các hoạt động thương mại mà cụ thể ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất nhập
khẩu của Việt Nam.
Hình1: TỶ GIÁ VND/USD THEO NGÀY VÀ BIÊN ĐỘ GIAI ĐOẠN 2011-2001

Nguồn: NHNN và Vietcombank(2014).
Giai đoạn từ năm 2011-2014 tỷ giá đã có nhiều sự biến động. Đầu năm 2011, nền
kinh tế vừa kết thúc giai đoạn suy thoái và khủng hoảng bắt đi vào sự ổn định.
Giai đoạn 2011-2012 đánh dấu sự phản ứng trong chính sách tỷ giá ở Việt Nam.
Dựa vào đồ thị và số liệu thống kê ta có thể thấy tỷ giá đầu 2011 của ngân hàng
thương mại giảm xuống sàn biên độ và đồng Việt Nam lên giá trong giai đoạn này.
Nguyên nhân là do từ cuối năm 2007 sự gia tăng ồ ạt của các nguồn đầu tư gián
tiếp vào Việt Nam làm cho nguồn cung USD tăng mạnh do đó tỷ giá trong giai
đoạn giảm xuống hay nói cách khác là đồng Việt Nam tăng giá. Dựa vào hình 1 ta
có thể thấy tỷ giá NHTM có nhiều biến động mạnh do lạm phát tăng cao vào giai
đoạn nửa đầu năm( tỷ lệ lạm phát năm 2011 rất cao có lúc kên đến gần 20%) đồng
thời cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã bắt đầu ảnh hưởng và tác động đến nền

USD, giải ngân để lấy tiền đồng hỗ trợ thanh khoản khi cung vốn cạn dần. Tỷ giá
VND/USD từ tháng 7/2011 có xu hướng tăng nhưng ổn định hơn. Trong tháng
7/2011 chênh lệch giữa ngoại tệ liên ngân hàng và ngoại tệ trên thị trường tự do
không quá cách biệt. Nguyên nhân là do ngân hàng nhà nước công bố nguồn dự trữ
ngoại tệ nên tâm lý của người dân được cải thiện hơn nên người dân giảm gim giữ
ngoại tệ và đầu cơ ngoại tệ nên tỷ giá lúc này khá ổn định. Mặc khác lạm phát lúc
này đã được kiểm soát mức tăng lạm phát được kiềm hãm ở mức 1.13% so với
tháng trước. Sang các tháng cuối năm biến động nhưng không nhiều, tỷ giá
VND/USD trong 8/2011 biến động nhích lên theo từng tuần. Cụ thể tỷ giá bình
quân liên ngân hàng từ 16.489 đồng lên 16.493 đồng và tăng đến 16.496 đồng
trong 2 tuần cuối tháng 8. Tỷ giá trên thị trường tự do ổn định hơn. Tháng 9/2011
biến động mạnh nhất vào giũa tháng 9 tỷ giá tăng mạnh từ 16.620 lên 16.740 sau
đó giảm xuống còn 16.630 VND/USD vào cuối tháng. Nguyên nhân là do cuộc
khủng hoảng tài chính ở Mĩ, các tập đoàn tài chính của Mĩ bị phá sản làm cho tỷ
giá biến động bất ngờ. Đến tháng 10/2011 tỷ giá tiếp tục được ổn định và đến cuối
tháng tỷ giá lại bất ngờ tăng vọt lên mốc 16.800 VND/USD trong khi tỷ giá liên
ngân hàng vẫn ổn định. Tuy nhiên sau đó thì tỷ giá này cũng giảm nhẹ. Nguyên
nhân là do cuối tháng 9 các nhà đầu tư nước ngoài đã bán ròng khối lượng cổ phiếu
và trái phiếu trên 2 sàn giao dịh của Việt Nam mà chủ yếu là để mua USD nên gây
sức ép lên tỷ giá. Nguyên nhân nữa là do các ngoại tệ mạnh trên thế giới đều mất
giá so với USD nhất là chính phủ Mĩ can thiệp vào thị trường tài chính ngăn chặn
cuộc khủng hoảng làm cho USD tăng giá trở lại. Cuộc khủng hoảng toàn cầu ảnh
hưởng kinh tế Việt Nam. Rõ ràng nhất là trong cuối năm 2011 nhu cầu hàng xuất
khẩu giảm, kim ngạch xuất khẩu giảm liên tục từ tháng 8 chủ yếu là dầu thô. Các
nhà đầu tư nước ngoài cũng giảm đầu tư, lượng khách du lịch vào Việt Nam cũng
giảm, lượng kiều hối cũng giảm mạnh đã làm cho nguồn cung USD giảm mạnh ảnh
hưởng rất lớn đến tỷ giá. Tuy nhiên chính phủ ta đã có biện pháp hợp lý và đã kiểm
soát được tỷ giá không biến động quá mạnh.
Năm 2012: Giá USD tháng 01/2012 so với tháng 12/2011 tăng 1,48%, so với
tháng 01/2011 tăng 8,16%. Qua tháng 2 dưới sự tác động của khủng hoảng kinh tế

trường liên ngân hàng. Nguyên nhân chủ yếu vẫn là do hiện tượng găm giữ ngoai tệ
của người dân, các doanh nghiệp thì vì sợ tỷ giá sẽ tiếp tục tăng nên mặc dầu chưa
đến kỳ hạn trả nợ nhưng đã mua sẵn ngoại tệ để chuẩn bị cho việc trả nợ. Điều đó
đã làm cho cầu ngoại tệ tăng cao gây ảnh hưởng tỷ giá. Ngoài ra, do tâm lý bất ổn
của người dân và các doanh nghiệp nên họ lựa chon găm giữ ngoại tệ và đồng thời
do chính sách hỗ trợ lãi suất vay tiền đồng thấp cho các doanh nghiệp, phạm vi và
thời gian vay được mở rộng theo chủ trương của chính phủ nên các doanh nghiệp
muốn vay tiền đồng hơn mà không cần bán ngoại tệ để đổi ra VND nữa. Đây là gói
kích cầu mà nhà nước ta thực hiện tuy nhiên đã mang lại ảnh hưởng lớn đến tỷ giá.
Từ cuối 11/2012 đến hết năm 2012 tỷ giá bắt đầu giảm dần trở lại nguyên nhân là
do NHNN thực hiện chính sách bình ổn tỷ giá cùng với sự góp sức của NHTM đã
làm tỷ giá giảm sau giai đoạn biến động mạnh.
Giai đoạn 2013-2014:
Trong năm 2013 các NHTM vẫn tiếp tục áp dụng tỷ giá tại mức trần biên độ của
tỷ giá chính thức trong hầu hết các tháng. Do áp lực của tỷ giá trên thị trường
NHNN đã phải tăng tỷ giá chính thức từ 17940 lên 18544 VND/USD kể từ
11/02/2013 tương đương với việc phá giá 3,3%. Tỷ giá VND/USD của các NHTM
trong giai đoạn 2011-2014 luôn đạt mức tỷ giá trần theo biên độ mà NHNN quy
định, chỉ vào một số thời điểm thì tỷ giá này mới thấp hơn trần biên độ. Cùng với
việc nâng tỷ giá thì NHNN còn thực hiện nhiều biện pháp hành chính để giảm áp
lực lên thị trường ngoại hối như giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ, mở rộng
đối tượng cho vay bằng ngoại tệ, đồng thời NHNN tăng lãi suất cơ bản lên
8%/năm. Kết quả là 6 tháng đầu năm 2013 tín dụng ngoại tệ tăng cao và các khoản
đầu tư và giải ngân ODA, FDI làm cho nguồn cung ngoại tệ tăng lên làm giảm tỷ
giá trên thị trường tự do giảm khoảng cách giữa tỷ giá trên thị trường tự do với tỷ
giá chính thức. Tuy nhiên các NHTM vẫn tiếp tục đặt giá trần hoặc gần với trần
biên độ của tỷ giá chính thức.
Đâu năm 2013 tỷ gía giảm nhẹ và dao động quanh mức 18479 đồng/USD cho
đến 2/2013. Nguyên nhân là do nguồn cung USD từu nước ngoài vào Việt Nam
tăng kể cả nguồn vốn đầu tư trực tiếp, vốn hỗ trợ phát triển chính thức do năm

Việt Nam năm 2013, triển vọng năm 2014” ta thấy đồng nhân dân tệ của Trung
Quốc định giá thấp hơn 30% so với USD tuy nhiên VND lại định giá cao hơn 15%
so với USD. Điều đó cho thấy tỷ giá VND/USD được định giá quá cao so với cung
cầu thực tế về ngoại tệ. Cuối năm 2013 thì tỷ giá tiếp tục biến động tăng, các chủ
thể vẫn thực hiện việc mua ngoại tệ để kì vọng giá tăng. Cuối tháng 11 tỷ giá lên
mức 21380-21450 đồng/USD và tỷ giá trên thị trường tự do vượt qua mức 21500
đồng/USD. Trong năm 2013 ta có thể thấy tỷ giá biến động bất thường, đầu ra
ngoại tệ tăng mạnh do chính sách của NHNN về mở rộng đối tượng được vay vốn
ngoại tệ nhưng đầu vào ngoại tệ rất khiêm tốn. NHTM buộc phải tăng lãi suất huy
động lên. Sự bất thường của tỷ giá cho thấy sức mạnh của yếu tố tâm lý của người
dân, doanh nghiệp. Việc găm giữ USD tiếp tục do tình trạng đô la hóa của Việt
Nam ngày càng trầm trọng.
Bước sang đầu năm 2014 thì tỷ giá cũng có biến động nhưng không nhiều, tuy
nhiên sau thời gian kiềm giữ tỷ giá USD chính thức ở mức 18932đồng/USD thì đã
đẩy chênh lệch tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường tự do lên tới 2000-3000
VND/USD và NHNN đã điều chỉnh tăng tỷ giá liên ngân hàng thêm 9,3% đồng
thời thu hẹp biên độ tỷ giá xuống còn +/-1% từ ngày 11/2/2014. Có nhiều lý giải
đặt ra quanh con số 9,3% đó. Thứ nhất, đó là sự giải phóng áp lực dồn nén quá lớn
sau một thời gian tương đối dài. Thứ hai, nhà điều hành muốn một bước để nhanh
chóng thu hẹp khoảng cách giữa hai tỷ giá. Thứ ba, nhà điều hành đã sòng phẳng
hơn và theo yêu cầu của thị trường… Và một điểm quan trọng của nó là xóa bớt kỳ
vọng sẽ tiếp tục phá giá trong năm 2014 ở giới đầu cơ, hay trong tâm lý thị trường.
Tuy nhiên đến đầu tháng 4/2014 tỷ giá mới có dấu hiệu bình ổn, đó cũng là nhờ
NHNN đã triển khai để có thể tăng cung ngoại tệ. Đó là cơ chế áp và siết trần lãi
suất huy động USD, thực hiện kết hối và mở rộng đối tượng kết hối, xử lý loạt giao
dịch bất hợp pháp trên thị trường tự do… Thêm vào đó, tín dụng ngoại tệ vẫn tăng
cao tạo một nguồn cung thương mại từ vốn chuyển đổi cho thị trường; sự chuyển
đổi vốn ngoại tệ sang VND cũng có ở các ngân hàng thương mại khi chênh lệch lãi
suất cho vay quá hấp dẫn với khoảng 300% càng tạo cung cho thị trường…Việc
cung USD tăng đã làm cho tỷ giá VND/USD lao dốc chóng mặt từ 20940VND

biệt trong năm nay có thêm mặt hàng dây điện và cáp điện đạt kim ngạch xuất khẩu
trên 1 tỷ USD (ước đạt 1,04 tỷ).
Kim ngạch nhập khẩu năm 2011 đạt 80,71 tỷ USD tăng tương đối 28,8% so với
2007 tương ứng với mức nhập siêu ở khoảng 18 tỷ USD đạt con số kỉ lục từ trước
đến nay tăng 27,7% so với con số 14.12 tỷ USD năm 2007. Trong 5 tháng đầu năm
2011 nhập siêu tăng mạnh lên đến 14,4 tỷ USD tuy nhiên trong 7 tháng cuối năm
nhập siêu được kiềm chế ở mức thấp. Một trong những nguyên nhân là do giá hàng
nhập khẩu trên thị trường thế giới giảm mạnh mà đặc biệt là xăng dầu trong khi
nước ta nhập khẩu lượng lớn xăng dầu. Kim ngạch nhập khẩu 12/2011 ước tính đạt
5,4 tỷ USD do một số mặt hàng nhập khẩu tháng này tăng mạnh là: Máy móc thiết
bị tăng 272 triệu USD; xăng dầu tăng 78 triệu USD; thức ăn gia súc tăng 53 triệu
USD; sắt, thép tăng 182 triệu USD.
Đối với Việt Nam là quốc gia nhập siêu do đó tỷ lệ nhập khẩu luôn cao hơn so
với xuất khẩu tuy nhiên trong năm 2011 tốc độ tăng trưởng xuất khẩu vượt tốc độ
tăng trưởng nhập khẩu. Đây là dấu hiệu đáng mừng vì nó góp phần kiềm chế nhập
siêu và ổn định cán cân thương mại.
• Năm 2012:
Đến năm 2012, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước đạt 127,05 tỷ USD.
Trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 57,1 tỷ USD giảm 8,9% so với năm 2011. Năm
2012 là năm đầu tiên xuất khẩu giảm so với trước đó. Đóng góp vào việc giảm kim
ngạch xuất khẩu năm 2012 do tỷ trọng xuất khẩu giảm: dầu thô chiếm 69,7%, tiếp
đến giày dép chiếm khoảng 12,6%, cao su chiếm xấp xỉ 6,8%, cà phê 6,7%, gỗ và
sản phẩm gỗ 4,7%, thủy sản 4,4%,… Kim ngạch nhập khẩu đạt 69,95 tỷ USD giảm
13,3% so với 2011. Cán cân thương mại hàng hóa thâm hụt 12,85 tỷ USD. Kim
ngạch nhập khẩu giảm mạnh hơn so với xuất khẩu.
• Năm 2013:
Năm 2013, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam đạt gần 157
tỷ USD, tăng 23,6% so với năm 2012. Trong đó, trị giá xuất khẩu đạt 72,19 tỷ
USD, tăng 26,4% và nhập khẩu là 84,8 tỷ USD, tăng 21,2%. Nhập siêu là 12,61 tỷ
USD, bằng 17,5% kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Hết năm 2013, tổng trị giá

kết quả trên thì cán cân thương mại hàng hoá của Việt Nam trong năm 2014 thâm
hụt 9,84 tỷ USD, bằng 10,2% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.
Tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI) trong năm 2014 đạt 96,71 tỷ USD, tăng 36% so với kết
quả thực hiện của năm trước. Trong đó, trị giá xuất khẩu là 47,87 tỷ USD, tăng
40,3% và chiếm 49,4% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Trị giá nhập khẩu của khu vực các doanh nghiệp này là 48,84 tỷ USD, tăng 32,1%,
chiếm 45,7% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước. Trong khi đó, khối doanh
nghiệp trong nước xuất khẩu đạt 49,03 tỷ USD trong năm 2014, tăng 28,7% và
nhập khẩu là 57,91 tỷ USD, tăng 21%.
2.2. Ảnh hưởng đến các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu:
Biến động tỷ giá luôn là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tình hình sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh xuất
nhập khẩu. Bởi vì khi tỷ giá thay đổi sẽ ảnh hưởng rất lớn đến giá trị xuất nhập
khẩu vì thế cần phải kiểm soát tỷ giá để đảm bảo hoạt động xuất nhập khẩu.
Khi tỷ giá giảm, các doanh nghiệp nhập khẩu không thể bán USD đang nắm giữ
để chi trả cho hàng hóa nhập khẩu vì lỗ nặng. Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến
hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp. Tỷ giá biến động khó lường gây
xáo trộn trong kế hoạch sản xuất của kinh doanh của nhiều doanh nghiệp xuất nhập
khẩu. Mặc dù tỷ giá vào đầu năm 2011 có giảm nhưng so với năm 2007 thì tỷ giá
VND/USD đã tăng khoảng 9% và đồng USD vẫn chiếm tỷ trọng cao trong việc
thanh toán quốc tế. Việc tăng vượt trội đã làm cho chi phí nhập khẩu và chi phí sản
xuất kinh doanh tăng cao đặc biệt là áp lực lớn đối với doanh nghiệp chủ yếu nhập
khẩu các yếu tố đầu vào. Đồng thời chi phí vay nợ của các doanh nghiệp cũng tăng
cao. Điều đó làm cho chi phí tỷ giá trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp
xuất nhập khẩu tăng đột biến. Trong 5 tháng đầu năm 2011, nhập siêu tăng mạnh,
cao hơn gần 3,4 lần so với cùng kỳ năm 2007, lên tới 14,4 tỷ USD. Nguyên nhân là
do Việt Nam là nước nhập siêu nên nhu cầu hàng nhập khẩu đối với Việt Nam lớn.
Tuy nhiên bên cạnh đó còn có nguyên nhân quan trọng đó là tỷ giá trong đầu năm
2011 giảm mạnh điều đó kích thích hoạt động nhập khẩu của Việt Nam bởi vì cùng

việc tăng chi phí cho việc mua nguyên liệu vì các doanh nghiệp cung cấp nguyên
liệu trong nước sẽ tăng giá nguyên liệu theo tỷ giá và có thể tăng cao hơn tốc độ
tăng tỷ giá. Điều này làm cho chi phí đầu vào của sản phẩm tăng lên làm giá tăng
gây giảm sức cạnh tranh của hàng hóa khi xuất khẩu. Tuy nhiên nếu giá cả của một
số nguyên liệu tăng thì không ảnh hưởng gì nhiều nhưng nếu giá cả các nguyên liệu
đầu vào đồng loạt tăng sẽ ảnh hưởng rất lớn các doanh nghiệp xuất khẩu.
Đối với các doanh nghiệp nhập khẩu thì việc biến động tỷ giá tăng sẽ gây ra
nhiều khó khăn với họ vì giá cả hàng hóa nhập khẩu khi đó sẽ tăng một cách tương
đối do đó người tiêu dùng lựa chọn sử dụng hàng háo trong nước hơn. Tuy nhiên
Việt Nam vẫn là nước có nhu cầu hàng hóa nhập khẩu nên kim ngạch nhập khẩu
trong thời kì này vẫn còn cao. Một vấn đề khó khăn cho các doanh nghiệp nhập
khẩu hàng hóa khi tỷ giá tăng nữa là các doanh nghiệp nhập hàng hóa kí hợp đồng
nhập khẩu trước khi tỷ giá tăng và thời điểm thanh toán và nhận hàng thì tỷ giá lại
tăng làm cho các doanh nghiệp thật sự lo lắng vì họ phải trả số tiền nhiều hơn rất
nhiều, và họ phải bán hàng hóa ra với giá cao hơn nhưng liệu khách hàng có nhấp
nhận mức giá mới.
Cụ thể trong 5 tháng đầu năm 2011, kim ngạch xuất khẩu đạt 23,4 tỷ USD, tăng
27,2% so với cùng kì 2007. Theo thống kê cho thấy đa số các mặt hàng chủ lực đều
tăng giá như: đồ nhựa tăng 31,7%, vi tính và linh kiện tăng 25,2%, đồ gỗ, thủy sản,
…cũng tăng giá. Riêng kim ngạch xuất khẩu tăng lên do giá tăng đạt 2,7 tỷ USD
nếu loại trừ yếu tố giá tăng thì tăng trưởng xuất khẩu chỉ đạt 12,7%. Nhập khẩu đến
hết tháng 5/2011 đạt 37,8 tỷ USD, tăng 67% so với cùng kì. Nhập siêu trong 5
tháng lên đến 14,4 tỷ USD.DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU.
BẢNG 1:TỶ GIÁ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Từ đầu 2011 16.100 VND/USD
Từ tháng 06/2011 đến 12/2011 16.500 VND/USD
Từ tháng 01/2012 đến 11/2012 17.000 VND/USD


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status