Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
ĐẠ I HỌ C THÁ I NGUYÊN
TRƢỜ NG ĐẠ I HỌ C NÔNG LÂM
BI VĂN TÂN
NGHIÊN CƢ́ U ĐẶ C ĐIỂ M SINH THÁ I
SINH VẬ T HỌ C MỘ T SỐ LOÀ I RAU RƢ̀ NG VÀ ĐỀ
XUẤ T GIẢ I PHÁ P QUẢ N LÝ SƢ̉ DỤ NG LUẬ N VĂN THẠ C SĨ KHOA HỌ C NÔNG NGHIỆ P
LUẬ N VĂN THẠ C SĨ KHOA HỌ C NÔNG NGHIỆ P Ngƣờ i hƣớ ng dẫ n khoa họ c: PGS.TS. Đng Kim Vui Thi Nguyên, 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin trân thành cảm ơn Phó Giáo sư Tiến sĩ Đặng Kim Vui đã
hướng dẫn trực tiếp, chỉ đạo tận tình, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi
hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin trân thành cảm ơn Thạc sĩ La Quang Độ đã giúp đỡ tôi trong
quá trình nghiên cứu trên thực địa.
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến sự quan tâm, giúp đỡ,
động viên của các thầy cô giáo khoa Sau đại học Trường đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, cùng bạn bè đồng nghiệp.
Tôi xin trân thành cảm ơn Ban quản lý Vườn Quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn,
Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiền Thần Sa, tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện
thuận lợi để đến nghiên cứu trong quá trình làm luận văn.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ động
CNH: Công nghiệ p hó a
HĐH: Hiệ n đạ i hó a
NN: Nông nghiệ p
PTNT: Phát trin nông thôn
PTNNNT: Phát trin nông nghiệp nông thôn
VQG:Vườ n quố c gia
OTC: Ô tiêu chuẩ n
NXB: Nhà xuất bản
USD: Đô la Mỹ
Stt ÔDB: Số thứ tự ô dạ ng bả n
TB Trung bì nh
VH: Văn hó a
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
DANH MỤ C CÁ C BẢ NG, BIỂ U ĐỒ , ẢNH
Danh mục
Trang
Bảng 4.1: Phân bố rau Sắng với các các loài rau tại khu vực nghiên
cứu
48
Bảng 4.2: Điều tra rau Sắng ở các trạng thái, cấu trúc rừng
49
Bảng 4.3: Đo độ tà n che dướ i tá n rừ ng
51
Bảng 4.4: Các loài cây sống quanh Bò Khai
52
Biu đồ nhiệt độ không khí , ẩm độ, nhiệ t đấ t trong ngày tại đim đo 1
vườ n Quố c gia Ba B
Tầng
đất
Độ dầy
(cm)
Mầu sắc
TP cơ
giới
Độ ẩm
Độ
xp
Tỷ lệ
đ lẫn
(%)
Đ lộ
đầu
(%)
Tỉ lệ
rễ
cây
Ghi
chú
1
Ao
1 5
Chặt 7
2
Ao
10
A
10
Xám vàng
Phù sa
ẩm
2
5 AB
14
A
10
Xám đen
Thịt nhẹ
Hơi
ẩm
Xốp
2
5 AB
10
Nâu vàng
Thịt
Hơi
ẩm
Hơi
chặt
7
1 B
30
Vàng
Sét
12
Xám vàng
Thịt
Xốp
5%
1 B
30
Xám vàng
Thịt nặng
Xốp
5%
5
Ao
1 12%
10
6
Ao
1 12%
A
10
Xám đen
thịt nhẹ
hơi ẩm
xốp
3
5 AB
5
Nâu vàng
A
15
Xám đen
thịt nhẹ
hơi ẩm
xốp
2
3 AB
10
Nâu vàng
thịt
hơi ẩm
xốp
5
1 B
25
Vàng nâu
sét
ẩm
xốp
5
Xốp
2
1 B
20
Vàng
m
Hơi
chặt
5
9
Ao
1
A
10
Ao
1
A
10
Nâu đỏ
Khô
Xốp
1
2 AB
5
Nâu vàng
khô
A
10
Nâu đỏ
Khô
Xốp
1
2
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
(*) Đất bãi ven sông.
AB
15
Nâu vàng
khô
Xốp
5
1 B
AB
5
Xám vàng
Ẩm
Xốp
10
B
20
Vàng xám
Ẩm
Xốp
20
13
Ao
1
Ẩm
Xốp
15
14
Ao
A
2 A
5
Nâu vàng
Khô
Xốp
5
AB
20
Vàng xám
Khô
Xốp
5
B
5
Nâu vàng
Hơi
ẩm
Xốp
5
B
20
Vàng xám
Hơi
ẩm
Xốp
10
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
Phụ lục 2: Điều tra về đất đai tại Võ Nhai - Thái Nguyên.
TT
OTC
Tầng
đất
A1
20
Nâu đỏ
Khô
Xốp
5
B
50
Nâu vàng
Khô
Xốp
10
2
Tỉ lệ đá lộ đầu cao và đá lẫn bề mặt lớn.
Đất có màu xám
3
Tỉ lệ đá lộ đầu cao và đá lẫn bề mặt lớn.
4
Tỉ lệ đá lộ đầu cao và đá lẫn bề mặt lớn.
6
A0
1
A1
15
Nâu vàng
Khô
Xốp
5
B
50
Vàng B
40
Vàng Nâu
Khô
Xốp
20
9
Tỷ lệ đá lộ đầu lớn.
Đất dưới các kẽ đá có màu xám đen, tỉ lệ đá lẫn cao trên 30%
10
Tỷ lệ đá lộ đầu lớn.
Đất dưới các kẽ đá có màu xám đen, tỉ lệ đá lẫn cao trên 30%
11
A0
2 Khô
30
45
A
B
13
A0
14
A0
1 Khô 5
A
5
Xám trắng
Khô
Chặt
15
B
15
Xám vàng
Khô
Chặt
Khô
Chặt
30
16
A0
2 Khô 30
A
5
Xám nâu
Khô
Xốp
10
vụ chiến đấu và công tác.
Ngày nay, tuy là thời bình, cây rau mọc hoang dại vẫn đóng vai trò quan
trọng về dinh dƣỡng cũng nhƣ làm thuốc phòng chữa bệnh đối với mọi tầng lớp
nhân dân đặc biệt là ở những nơi vùng núi rừng, vùng cao, vùng sâu, vùng xa có
khí hậu khắc nghiệt.
Cây rau xanh là thành phần quan trọng trong bữa ăn hàng ngày của nhân
dân ta. Những câu nói “Cơm không rau nhƣ đau không thuốc” hoặc “Đói ăn rau,
đau uống thuốc” đã đƣợc khẳng định tầm quan trọng, sự cần thiết của rau trong
bữa ăn và trong đời sống con ngƣời [5].
Nhân dân ta có rất nhiều loại rau, phổ biến nhất trong bữa ăn hàng ngày là
các loại rau cải, rau muống, rau ngót… đặc biệt ngƣời dân sống ở miền núi
thƣờng sử dụng các loài rau rừng nhƣ rau Dớn (Diplazium esculentum), rau
Sắng (Meliantha suavis Pierre) Trong bữa ăn của ngƣời dân ta chỉ có hai loại
thực phẩm (tính bằng gam) thƣờng xuyên chiếm 3 con số là gạo và rau. Cơm rau
cũng là thành ngữ quen thuộc và phổ biển ở Việt Nam.
Khoa học dinh dƣỡng đã phân tích và xác định trong rau quả hầu hết các
chất dinh dƣỡng cần thiết cho con ngƣời. Không những rau quả đã góp phần
quan trọng và kịp thời chống đói ở những vùng đói thƣờng xuyên hoặc bị thiên
tai mà quan trọng hơn cả là vì rau là nguồn cung cấp chủ yếu vitamin, chất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
2
khoáng, chất xơ và một phần quan trọng chất đạm là những chất dinh dƣỡng
không thể thiếu đối với hoạt động sinh lý của cơ thể [5].
Rau là nguồn cung cấp nhiều chất dinh dƣỡng cần thiết cho hoạt động bình
thƣờng của các chức phận sinh lý và sự chuyển hoá của các chất trong cơ thể.
Lịch sử còn ghi lại 100 ngƣời trong số 160 thủy thủ của đoàn thám hiểm Vasco
de Gama đi tìm đƣờng sang phƣơng Đông đã bị chết về bệnh scorbut, do chế độ
ăn dài ngày trên biển thiếu Vitamin C. Lịch sử cũng ghi lại nhiều cuộc chiến
sinh vật học một số loài rau rừng và đề xuất giải pháp quản lý sử dụng” là
công việc rất cần thiết và cấp bách.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
4
Chƣơng I. TỔNG QUAN LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU
2.1. Trên thế giới
2.1.1. Các nghiên cứu về bảo tồn tài nguyên rừng gắn với hoạt động sinh
kế của cộng đồng địa phương
Trên thế giới cộng đồng quốc tế có nhiều nghiên cứu nhằm nỗ lực làm thay
đổi chiến lƣợc bảo tồn từ đầu năm 1980. Một chiến lƣợc bảo tồn mới dần đƣợc
hình thành và khẳng định tính ƣu việt, đó là liên kết quản lý khu bảo tồn thiên
nhiên và vƣờn quốc gia với các hoạt động sinh kế của các cộng đồng địa
phƣơng, cần thiết cho sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng trên cơ sở tôn
trọng nền văn hoá trong quá trình xây dựng các quyết định.
Một dự án thử nghiệm của dự án “Quản lý rừng bền vững thông qua sự
cộng tác” thực hiện tại Phu kheio Wildife Santuary, tỉnh Chaiyaphum ở miền
Đông Bắc Thái Lan. Kết quả chỉ ra rằng “Điều căn bản để quản lý bền vững tài
nguyên là phải thu hút sự tham gia của các bên liên quan và đặc biệt là phải bao
gồm cả phát triển cộng đồng địa phƣơng bằng các hoạt động thu nhập của họ”.
2.1.2. Các nghiên cứu về vai trò và giá trị sử dụng các loài rau
Theo Farmsworth et al., 1985 thì vào năm 1985 có khoảng 119 hợp chất
hóa học chiết xuất từ thực vật bậc cao đƣợc sử dụng vào sản xuất thuốc trên
toàn thế giới. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ƣớc tính là có 80% ngƣời dân ở các
nƣớc đang phát triển của thế giới hiện đang phụ thuộc vào các loại thuốc truyền
thống để chữa bệnh và trong khoảng 85% các loại thuốc truyền thống đó có sử
dụng các chiết xuất từ thực vật.
Rất nhiều nƣớc trên thế giới quan tâm đầu tƣ nghiên cứu tìm các hợp chất
Malaysia cho thấy có đến 70,6% cộng đồng dân cƣ có lấy các loài rau từ rừng,
82% phụ nữ tham gia lấy các loại rau rừng phục vụ cho gia đình 18% vừa lấy để
dùng vừa đem bán ở các chợ địa phƣơng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
6
Wang Guang-Yin và cộng sự (2002) nghiên cứu về khai thác và sử dụng
nguồn tài nguyên rừng tại tỉnh Hà Nam, Trung Quốc, chỉ ra có tới 91họ, 226 chi
và 415 loài. Phân bố địa lý, sự khai thác và cách thức sử dụng đƣợc chỉ rõ và
đặc tính của loài, đặc điểm sinh học, các phần có thể ăn đƣợc, thời gian thu hái
và sinh cảnh của chúng cũng đề cập tới.
Tugba Bayrak Ozbucak và cộng sự đã nghiên cứu phân bố các loài cây ăn
đƣợc ở vùng biển đen Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy các loài cây ăn đƣợc rất phổ biến và
đƣợc dân cƣ vùng này sử dụng thƣờng xuyên, thống kê đƣợc có 52 loài cây ăn
đƣợc thuộc trong 26 họ. Họ có số loài nhiều nhất là họ Lamiaceae (10 loài), tiếp
theo là các họ Asteraceae (5loài), Apiaceae và Boraginaceae (4 loài), Liliaceae
(3 loài), Orchidaceae và Polygonaceae (2 loài).
Ở Thái Lan đã và đang phát triển các mô hình trồng cây rau Sắng
(Melientha suavis) dƣới tán các vƣờn cây ăn quả hay trong các mô hình nông
lâm kết hợp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông lâm nghiệp.
2.1.3. Thị trường rau xanh một số nước trên thế giới
Trong những năm gần đây, thị trƣờng rau tƣơi ở châu Âu giảm về khối
lƣợng nhƣng tăng về giá trị. Ở nhiều nƣớc phía Đông châu Âu, mức tiêu dùng
sản phẩm rau tƣơi vẫn tiếp tục tăng và ngƣời tiêu dùng đang chuyển dần từ tiêu
dùng một số loại rau cơ bản sang những sản phẩm đa dạng hơn bao gồm cả các
loại nhập khẩu. Bên cạnh đó, sự tồn tại sẵn có của nhiều đồ ăn khác nhƣ thức ăn
nhẹ, đồ ăn nhanh đã trở thành sản phẩm cạnh tranh gay gắt đối với sản phẩm rau
tƣơi. Các nƣớc nhƣ Đức, Tây Ban Nha, Ý, Pháp là những thị trƣờng lớn nhƣng
đã gần nhƣ bão hòa. Chỉ có một số thị trƣờng ngách và một số nhóm sản phẩm
từ các mức giá 26 Rupi, 22 Rupi và 16 Rupi/kg ghi nhận đƣợc trƣớc đây hai
tuần. Tƣơng tự nhƣ vậy đối với một số loại rau khác nhƣ hành, súp lơ thƣờng và
súp lơ Tarai cũng đƣợc bán với giá lần lƣợt là 33 Rupi, 18 Rupi và 10 Rupi/kg,
giảm từ 36 Rupi, 22 Rupi và 18 Rupi/kg tƣơng ứng. Giá của tỏi Trung Quốc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
8
cũng giảm xuống còn 120 Rupi/kg từ 124 Rupi/kg trong khoảng thời gian này.
Tuy nhiên, giá của dƣa chuột lại tăng từ 20 Rupi/kg lên 24 Rupi/kg [41]
2.2. Ở trong nƣớc
2.2.1. Cơ sở của việc bảo tồn và phát triển bền vững các loài rau rừng
Trƣớc đây khi nguồn lâm sản ngoài gỗ đặc biệt là cây rau còn phong phú,
ngƣời ta ít chú ý đến việc bảo tồn nguồn gen của chúng. Đến cuối thế kỷ XX khi
nhận ra rất nhiều loài lâm sản ngoài gỗ đã trở lên khan hiếm, một số loài đứng
trƣớc nguy cơ tuyệt chủng nên chúng ta mới bắt đầu chú ý bảo tồn nguồn gen. Ở
Việt Nam hiện nay quan điểm bảo tồn nguồn gen thƣờng kết hợp với bảo tồn đa
dạng sinh học vì bếu bảo vệ đƣợc hệ sinh thái, bảo vệ đƣợc các loài động thực
vật thì cũng bảo vệ đƣợc nguồn gen của chúng. Hiện nay có 2 hình thức để bảo
tồn nguồn gen lâm sản ngoài gỗ là: Bảo tồn nội vi (In situ) và bảo tồn ngoại vi
(Ex situ) [2].
- Bảo tồn nội vi (Bảo tồn In situ): Là hình thức bảo tồn các hệ sinh thái và
những nơi cƣ trú tự nhiên, duy trì và phục hồi các quần thể loài đang tồn tại
trong điều kiện sống tự nhiên của chúng. Trong trƣờng hợp các loài đƣợc thuần
hoá và canh tác, công việc này đƣợc tiến hành tại khu vực mà các giống vật nuôi
cây trồng đó hình thành nên đặc tính của mình. [theo CBD]. Là hình thức bảo
tồn đa dạng sinh học trong các hệ sinh thái vận động tiến hoá của nơi cƣ trú
nguyên thủy hoặc môi trƣờng tự nhiên. [theo GBA]
Hiện nay, đối với một bộ phận lớn của đa dạng sinh học trên trái đất, công
tác bảo tồn chỉ khả thi khi các loài đó đƣợc duy trì trong phạm vi phân bố cũng
quốc. Tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc ở nƣớc ta tồn tại ở nền y học chính là y
học cổ truyền chính thống, với các hệ thống lý luận và thực hành đƣợc tƣ liệu
hóa trong sách vở nhƣ các học thuyết Âm - Dƣơng, Ngũ hành, v.v. Các nền y
học nhân dân hay y học cổ truyền dân tộc, thƣờng đƣợc gọi là thuốc Nam. Ðiều
này đã tạo nên một kho tàng tri thức sử dụng cây thuốc của các dân tộc ở nƣớc
ta rất phong phú.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
10
Nhận thức đƣợc vai trò và tiềm năng của cây thuốc trong công tác chăm sóc
sức khỏe, chữa trị bệnh tật và phát triển kinh tế, bảo vệ bản sắc văn hóa các dân
tộc, nƣớc ta đã tích cực tham gia và phê chuẩn các công ƣớc quốc tế nhƣ Công
ƣớc Ða dạng sinh học (1992), Kế hoạch và Hành động đa dạng sinh học (1994)
và ban hành nhiều luật và chính sách gắn liền việc chăm sóc sức khỏe nhân dân,
phát triển ngành dƣợc và bảo tồn cây thuốc. Một trong số đó là việc triển khai
nhiệm vụ Bảo tồn nguồn gien và giống cây thuốc của Bộ Khoa học và Công
nghệ và Môi trƣờng từ năm 1988, trƣớc khi có hƣớng dẫn bảo tồn cây thuốc của
Tổ chức Y tế thế giới và chuyển thành Ðề án bảo tồn nguồn gien và giống cây
thuốc vào năm 1997.
Công tác bảo tồn và phát triển giống cây thuốc trong 20 năm qua đã thu
đƣợc kết quả đáng khích lệ. Các địa phƣơng đã hình thành hệ thống bảo tồn cây
thuốc rộng khắp, từ vƣờn thực vật, vƣờn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên đến
các vƣờn thuốc Nam thiết yếu và vƣờn hộ tại các cộng đồng. Các nguồn gien và
giống cây thuốc cũng nhƣ tri thức sử dụng chúng đang đƣợc lƣu giữ trong các
hệ thống bảo tồn trong cả nƣớc có giá trị tiềm năng to lớn. Có hàng triệu hộ gia
đình ở nƣớc ta thuộc vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa đang hằng
ngày sử dụng cây thuốc đƣợc trồng trọt và lƣu giữ tại các vƣờn hộ, tại các vƣờn
thuốc Nam thiết yếu cũng nhƣ ở thiên nhiên chung quanh nơi sinh sống. Các
hoạt động bảo tồn nhƣ chọn tạo, phục tráng, đột biến gien, nghiên cứu quy trình
và yếu, chƣa đáp ứng nhu cầu công tác bảo tồn ngày càng nặng nề trong bối
cảnh mới, chƣa huy động đƣợc sự tham gia của cộng đồng trong công tác bảo
tồn, mà dƣờng nhƣ mới là hoạt động của các nhà chuyên môn.
Theo các nhà khoa học, quản lý trong ngành dƣợc nhiệm vụ trọng tâm của
ngành trong thời gian tới cần tiến hành điều tra cơ bản một cách có hệ thống và
chắc chắn, hệ thống cây làm thuốc ở nƣớc ta. Tiếp tục tổng kết lý luận và thực
tiễn bảo tồn nguồn gien trong thời gian qua để phát triển các lý thuyết và
phƣơng pháp luận bảo tồn cây thuốc trong giai đoạn tới. Mở rộng mạng lƣới ra
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
12
các vùng sinh thái chƣa có cơ sở địa diện, ngƣợc lại cắt giảm các đơn vị trùng
lắp về vùng sinh thái (thí dụ: Hà Nội chỉ cần một vƣờn bảo tồn - đại diện cho
đồng bằng Bắc Bộ). Xây dựng quy chế hoạt động, phân công nhóm, đối tƣợng,
nhiệm vụ bảo tồn cây thuốc trong các cơ quan thành viên. Tập trung nguồn lực
bảo tồn những cây có nguy cơ bị tuyệt chủng, hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng,
các cây quý hiếm mà không bảo tồn tràn lan, các cây thuốc di thực đã bị thoái
hóa về nguồn gien. Xây dựng một đến ba vƣờn quốc gia cây thuốc quốc gia tại
các vùng sinh thái để bảo tồn từ 60 đến 80% số cây thuốc của cả nƣớc. Các
vƣờn cây này phải có diện tích đủ lớn (150 - 300 ha) để bảo đảm điều kiện sinh
thái và lƣu giữ an toàn cây thuốc. Vƣờn cây thuốc quốc gia nên gắn với hoạt
động du lịch nhằm có nguồn thu để có thể tồn tại và phát triển lâu dài. Tăng
cƣờng nghiên cứu cơ bản các nền y học cổ truyền dân tộc. Trƣớc mắt tập trung
vào các dân tộc có lịch sử lâu đời ở Việt Nam nhƣ Thái, Chăm, Khmer, Tày,
Nùng, Xây dựng một số thƣơng hiệu sản phẩm từ dƣợc liệu, chỉ dẫn địa lý
thông qua sự hợp tác với doanh nghiệp và địa phƣơng.
Viện Dƣợc liệu đã nghiên cứu xác định đƣợc 134 loài cây thuốc có nguy cơ
tuyệt chủng và nhân trồng đƣợc 65 loài ở các vƣờn dƣợc liệu trên toàn quốc.
Viện còn bảo tồn giống một số loài thuốc quý trong ngân hàng hạt, góp
quả đƣợc ghi lại để đánh giá khả năng bảo tồn.
Ghi nhận của các nhà khoa học là 90% số loài thích nghi, sinh trƣởng tốt.
Mùa hoa quả của chúng trùng với cây mọc ngoài tự nhiên. Nhiều cây đã cho hạt
giống và tạo ra các thế hệ tiếp theo. Hạt giống của nhiều loài nhƣ ba gạc, hoàng
liên gai, hoàng liên ô rô đƣợc bảo quản trong ngân hàng hạt.
Song song với việc bảo tồn nguồn gen quý, các nhà khoa học ở Viện Dƣợc
liệu chủ trƣơng mở rộng phát triển và khai thác sử dụng, đƣa vào nhân giống
một số loài tại nơi chúng phân bố. Tam thất hoang, sì tô đƣợc trồng ở Sa Pa
(Lào Cai), ngũ gia bì hƣơng trồng ở Hà Giang, Lào Cai. Sâm Ngọc Linh phân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
14
bố ở một điểm duy nhất là núi Ngọc Linh (Quảng Nam và Kon Tum) đã bị khai
thác hết trong tự nhiên.
Viện Dƣợc liệu đã mang hạt đƣợc bảo quản về trồng chính tại núi Ngọc Linh.
Bƣớc đầu các loài này đều sinh trƣởng tốt và Viện đang có kế hoạch đƣa về
trồng đại trà, sản xuất lớn trong cộng đồng dân cƣ [42]
Ở Việt Nam, khoảng 30% ngƣời đƣợc chữa khỏi bệnh nhờ cây thuốc. Tuy
nhiên, theo cảnh báo của các nhà khoa học, trữ lƣợng cây thuốc quý đang ngày
càng giảm sút. Nếu nƣớc ta không có chiến lƣợc bảo tồn, trong thời gian không
xa, rất nhiều cây thuốc quý sẽ biến mất.
Có thể khẳng định, giá trị và lợi nhuận mà cây thuốc đem lại rất lớn. ở Mỹ
mỗi năm lợi nhuận thu đƣợc từ cây thuốc khoảng 1,5 tỷ USD. ở Trung Quốc, chỉ
riêng việc xuất khẩu cao đơn hoàn tán cũng đem lại doanh thu khoảng 2 tỷ
USD/năm. Còn ở Việt Nam, hiện vẫn chƣa có số liệu thống kê nào về lĩnh vực
này. Nhƣng với 30% ngƣời bệnh đƣợc khám chữa nhờ Đông y và chủ yếu bằng
cây thuốc cũng đủ thấy giá trị to lớn của nó.
Thống kê chƣa đầy đủ của Viện Dƣợc liệu (Bộ Y tế) cho thấy, hiện nƣớc ta
có khoảng 3.800 loài thực vật có thể làm thuốc. Trong đó có những loại quý mà