phân tích báo cáo tài chính của ngân hàng eximbank 2010 - 2012 - Pdf 22

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
BÀI TẬP NHÓM:
PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG
EXIMBANK
Nhóm Eximbank
LỜI MỞ ĐẦU
Trong cơ chế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt về mọi mặt,đặc biệt trong hoạt
động ngân hàng đòi hỏi các chủ thể kinh tế ngoài nguồn vốn tự có phải biết huy
động vốn để đáp ứng các yêu cầu kinh doanh, đồng thời quan trọng hơn nữa là việc
phân phối, quản lý và sử dụng nguồn vốn kinh doanh một cách hợp lý, đạt được hiệu
quả cao nhất trên cơ sở chấp hành các chế độ, chính sách Pháp luật hiện hành. Hoạt
động tài chính là hoạt động xuyên suốt tất cả các khâu trong kinh doanh, từ khâu huy
động vốn cho tớ khâu cuối cùng là phân phối lãi thu được từ các hoạt động đó, do
đó, nó có vai trò to lớn đôi với mỗi doanh nghiệp, đồng thời nó cũng là một chỉ tiêu
chủ yếu để đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.
việc tiến hành phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp sẽ giúp cho các đối
tượng sử dụng thông tin tài chính của doanh nghiệp nắm bắt được thực trạng tài
chính, xác định được các nguyên nhân vàmức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến
tình hình tài chính cũng như các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Từ đó có cơ sở để đưa ra các giải pháp nhằm phát huy khả năng của doanh nghiệp,
hạn chế những mặt còn yếu kém nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, tạo điều kiện
tốt nhất cho doanh nghiệp phát triển hơn nữa trong chiến lược kinh doanh của mình.
Eximbank là một trong những Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên của Việt
Nam, hiện là một trong những Ngân hàng có vốn chủ sở hữu lớn nhất trong khối
Ngân hàng TMCP tại Việt Nam. Để hiểu rõ hơn hoạt động của Eximbank, hãy cũng
chúng tôi tìm hiểu thông qua chủ đề phân tích báo cáo tài chính của ngân hàng
eximbank.
PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG
EXIMBANK
I. SƠ LƯỢC VỀ EXIMBANK

Skevington
Thành viên Hội đồng quản trị độc lập
Ban kiểm soát
1 Ông Đặng Hữu Tiến Trưởng Ban Kiểm Soát
2 Ông Nguyễn Hồng Long Thành viên Ban kiểm soát chuyên trách
3 Bà Nguyễn Thị Phụng Thành viên Ban kiểm soát
Ban điều hành
1 Ông Trương Văn Phước
Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng
giám đốc
2 Ông Trần Tấn Lộc Phó Tổng Giám Đốc thường trực
3 Ông Tô Nghị Phó Tổng Giám Đốc
4 Ông Nguyễn Quốc Hương Phó Tổng Giám Đốc
5 Ông Đào Hồng Châu Phó Tổng Giám Đốc
6 Bà Đinh Thị Thu Thảo Phó Tổng Giám Đốc
7 Ông Kenji Kuroki Phó Tổng Giám Đốc
8 Ông Nguyễn Thanh Nhung Phó Tổng Giám Đốc
9 Ông Nguyễn Đức Thanh Phó Tổng Giám Đốc
10 Bà Văn Thái Bảo Nhi Phó Tổng Giám Đốc
11 Ông Mitsuaki Shiogo Phó Tổng Giám Đốc
Eximbank cung cấp đầy đủ các dịch vụ của một Ngân hàng tầm cỡ quốc tế,
cụ thể như sau:
Huy động tiền gởi tiết kiệm, tiền gởi thanh toán của cá nhân và đơn vị bằng
VND, ngoại tệ và vàng. Tiền gửi của khách hàng được bảo hiểm theo quy định
của Nhà nước.
Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn; cho vay đồng tài trợ; cho vay thấu chi; cho
vay sinh hoạt, tiêu dùng; cho vay theo hạn mức tín dụng bằng VND, ngoại tệ và
vàng với các điều kiện thuận lợi và thủ tục đơn giản.
Mua bán các loại ngoại tệ theo phương thức giao ngay (Spot), hoán đổi (Swap),
kỳ hạn (Forward) và quyền lựa chọn tiền tệ (Currency Option).

Tháng 7/2012, Eximbank vinh dự được tạp chí The Banker – tạp chí uy tín
trong lĩnh vực tài chính quốc tế chọn vào Bảng xếp hạng 1000 ngân hàng hàng
đầu thế giới.
Tháng 8/2012 Eximbank tiếp tục được tạp chí AsiaMoney – một tạp chí
tiếng Anh uy tín tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương trao giải thưởng “Ngân
hàng nội địa tốt nhất Việt Nam năm 2012”. Đây là một động lực lớn để
Eximbank tiếp tục củng cố, nâng cao vị thế là một trong những ngân hàng
thương mại hàng đầu tại Việt Nam.
Năm 2011:
Tháng 02/2011, Eximbank nhận Giải Thưởng Thanh Toán Xuyên Suốt (STP
Award) năm 2010 do ngân hàng Bank of New York Mellon trao tặng .
Tháng 03/2011, Eximbank vinh dự nhận giải "Thanh toán quốc tế xuất
sắc” năm 2010 do ngân hàng HSBC trao tặng. Đây là năm thứ 10 liên tiếp ngân
hàng HSBC trao tặng danh hiệu này cho Eximbank.
Tháng 4/2011, Eximbank nhận giải thưởng “Thương hiệu được người tiêu
dùng bình chọn” do độc giả báo Sài Gòn Tiếp Thị bình chọn.
Năm 2010:
Tháng 02/2010, Eximbank nhận Giải Thưởng Thanh Toán Xuyên Suốt (STP
Award) năm 2009 do ngân hàng Bank of New York Mellon trao tặng .
Tháng 03/2010, Eximbank vinh dự nhận giải thưởng Vàng “Thanh toán
quốc tế và quản lý tiền mặt” năm 2010 do ngân hàng HSBC trao tặng.
Tháng 4/2010, Eximbank nhận giải thưởng “Thương hiệu Việt được yêu
thích nhất” do độc giả báo Sài Gòn Giải Phóng trao tặng.
Tháng 5/2010, Eximbank nhận giải thưởng “Thương hiệu được người tiêu
dùng bình chọn” do độc giả báo Sài Gòn Tiếp Thị bình chọn.
Tháng 6/ 2010, Eximbank đoạt giải thương thương hiệu chứng khoán uy
tín năm 2010.
Tháng 7/2010, Eximbank đạt giải thưởng "Báo cáo thường Niên Xuất sắc
nhất năm 2010” do Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM và báo Đầu tư Chứng
khoán trao tặng.

khác tăng đột biến và việc trích lập dự phòng rủi ro tín dung tăng. Nguyên nhân của
sự thay đổi này là bởi trước đây, liên ngân hàng là một kênh cởi mở; đồng vốn trao
đi - đổi lại, ngân hàng vừa gửi vừa cho vay; họ có thể sử dụng thủ thuật “bật tường”
vốn qua lại lẫn nhau để vừa tăng tài sản có vừa tăng tài sản nợ. Nhưng nay, với
Thông tư 21, có hiệu lực từ tháng 9 vừa qua, tiền gửi liên ngân hàng bị chuyển thành
tiền vay kèm những điều kiện về “tư cách” được giao dịch, quy mô tạo tài sản theo
đó bị hạn chế.
Trong bối cảnh tình hình kinh tế ngày càng khó khăn như hiện nay, cộng với việc
có nhiều vụ việc tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức quyền để làm lợi cho bản
thân như vụ Bầu Kiên, Vinashin…bị phanh phui, trong đó có rất nhiều ngân hàng
liên quan và Eximbank là 1 trong số đó thì việc quy mô tài sản giảm do khó khăn
trên thị trường 1, tín dụng tăng trưởng thấp dường như là điều tất yếu.
Tín dụng tăng trưởng thấp dư nợ cho vay khách hàng tại thời điểm 30/9 đạt
62.675,3 tỷ đồng (đã trích lập dự phòng rủi ro 693,5 tỷ) , do trong bối cảnh hiện nay
cả ngân hàng và khách hàng đều gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn => tổng dư nợ
tín dụng giảm 14, 94% so với năm 2011 => ti trọng tín dụng giảm xuống còn 3,91%.
Tỷ trọng khoản mục đầu tư của Eximbank tính đến 30/9/2012 giảm khoảng 80%
so với năm 2011 và khoảng 73% so với năm 2010 do giá trị đầu tư vào cổ phiếu và
trái phiếu của ngân hàng giảm mạnh (giảm 51,89% so với năm 2011). Nguyên nhân
có thể thấy là do nền kinh tế chung đang vô cùng ảm đạm, việc tiếp cận vốn khó
khăn khiến cho các kênh đầu tư đều không mấy nhận đc sự quan tâm của người đầu
tư. Đặc biệt là thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán đang bị sụt giảm 1
cách nghiêm trọng, giá các chứng khoán đều rất thấp. Đã có thời điểm người ta phải
nói rằng giá của nhiều loại chứng khoán chỉ rẻ bằng 1 mớ rau và thậm chí còn rẻ
hơn.
Tỷ trọng tài sản có sinh lời của Eximbank tính đén 30/9/2012 giảm xuống còn
88,9% trong khi những năm trước đó tỉ lệ này đều ở ngưỡng 90% và hơn thế nữa. Có
thể thấy ngay viecj giàm này là do quy mô tài sản của ngân hàng giảm them vào đó
khoản mục tiền mặt và tương đương tiền của ngân hàng lại tăng mạnh ( năm 2011
chỉ tăng có 13,46% so với năm 2010, nhưng chỉ tính đến quý 3 năm 2012 nó đã tăng

đều gặp khó khăn => tốc độ tăng trưởng nguồn vốn giảm ( thậm chí là -12.4% tính
đến 30/9/2012). Đặc biệt việc ban hành thông tư 21, có hiệu lực từ tháng 9 vừa qua,
tiền gửi liên ngân hàng bị chuyển thành tiền vay kèm những điều kiện về “tư cách”
được giao dịch đã khiến cho việc hy động vốn thông qua thị trường cấp 2 ( vốn là
kênh huy động vốn nhanh và hiệu quả trước kia) bị hạn chế rất nhiều.
Ước tính, hiện nguồn vốn khả dụng của Eximbank đang dư thừa trên dưới 15.000
tỷ đồng, trong khi cho vay ra trên cả thị trường 1 và thị trường 2 đều chưa thể đẩy
mạnh. Chi phí huy động theo đó càng phải cân nhắc chặt hơn. khi nguồn vốn dồi
dào, cơ cấu đã thuận lợi hơn mà tín dụng tăng trưởng khó khăn thì việc hạ bớt lãi
suất huy động cũng là hợp lý. Việc huy động vốn cũng gặp khó khăn từ phía khách
hàng khi người dân đang dần thắt chặt chi tiêu để đối phó với thời kì kinh tế khó
khăn này => tỷ trọng nguồn vốn huy động và tỷ trọng nguồn tiền gửi giảm so với
năm 2011 mặc dù nguồn vốn huy động đc từ tiền gửi của khách hàng có tăng ít so
với năm 2011 nhưng không đáng kể so với việc giảm chung của các kênh huy động
khác.
1.3.Phân tích tương quan giưã tài sản và nguồn vốn
tài sản có sinh lời 122855086 173439809 143155471
tổng dư nợ tín dụng 61717617 74044518 62981748
tổng nguồn vốn huy đông 117599138 167366909 145350693
tương quan giũa ts sinh lãi và
ng vốn hd 1.044693763 1.03628495 0.984897065
tg quan tín dụng và ng vốn hd 0.524813515 0.44240835 0.433308894
cho vay đầu tư trung và dài
hạn
24036380
tỉ lệ chuyển hoán vốn
Các chỉ số tương quan giữa tài sản sinh lãi và nguồn vốn, tương quan tín dụng và
nguồn vốn huy động tính đến quý 3 năm 2012 đang có xu hướng giảm so với trước .
Nguyên nhân từ nhiều khía cạnh như: việc huy động và cho vay trên thị trường đang
gặp nhiều khó khăn và rủi ro, thực trạng rủi ro tín dụng đang báo động đã khiến

- Tốc độ tăng trưởng tài sản tài chính
- Tỷ lệ thực hiện tài sản
2.1.Chất lượng tín dụng
Danh mục nợ tín dụng thường là tài sản lớn nhất của các TCTD và phải được
giám sát chặt chẽ bởi nhà quản trị, nhà đầu tư và các cơ quan quản lý. Tại Eximbank,
cho vay khách hàng và các TCTD khác chiểm khoảng 70% tổng tài sản có tính đến
quý 3 năm 2012.
Theo quyết định 493 về phân loại nợ và trích lập dự phòng, được điều chỉnh bởi
quyết định 18/2007/QĐ-NHNN, các khoản cấp tín dụng phải được phân loại và trích
lập dự phòng định kỳ không chỉ dựa trên thời gian quá hạn mà còn phụ thuộc vào
việc đánh giá mức độ rủi ro có thể xảy ra của Ngân hàng đối với khoản nợ.
Bảng dưới phản ánh các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng của Eximbank
Số liệu lấy từ BCTC của Eximbank các năm 2010, 2011, quý 3/2012
Đơn vị:%
Chỉ tiêu Công thức 2010 2011 30/9/2012
Tỷ lệ nợ
quá hạn
1.81 3 5.14
Tỷ lệ nợ
xấu
1.42 1.61 1.89
Tỷ lệ Chi
phí trích
lập DPRR
0.43 0.36 0.31
Tỷ lệ bù
đắp rủi ro
23.54 12.09 6.11
Như vậy từ bảng trên có thể thấy chất lượng nợ của Eximbank từ năm 2010 đến
hết quý 3 năm 2012 đang có xu hướng suy giảm đồng thời chi phí dự phòng cũng

- Cũng trong năm 2011, Eximbank nhận giải Top 25 ngân hàng tăng trưởng tổng
tài sản nhanh nhất thế giới (theo the Banker), với tốc độ tăng là ~100% cho năm
2010. Đồng thời, EIB vẫn tiếp tục duy trì được mức ~40% cho năm 2011. Tuy
nhiên, nếu xem xét trên BCĐKT, tổng tài sản năm 2011 lên tới 183,680 tỷ đồng
nhưng chỉ có 74,529 tỷ cho vay khách hàng, 2.166 tỷ gửi tại NHNN nhưng có
đến 64.529 tỷ gửi tại các TCTD khác, chiếm đến 35.1% tổng tài sản, còn lại
chiếm 1 con số không nhỏ là đầu tư chứng khoán. Tình trạng cũng tương tự đối
với con số tính đến quý 3/2012, tuy khoản mục tiền và vàng gửi tại TCTD có xu
hướng giảm nhưng tỷ trọng trên tổng tài sản vẫn không thay đổi do tài sản có
giảm. Vậy quy mô gửi tiền/cho vay TCTD khác và đầu tư chứng khoán tính ra đã
là 114% tổng cho vay khách hàng, quả là một con số đáng nể phục. Điểm quan
trọng là rủi ro tiềm ẩn của khối lượng tài sản này không được đo đếm bằng các
con số như nợ xấu và dự phòng rủi ro. Câu hỏi đặt ra là liệu các Ngân hàng có
thừa tiền đến mức phải đi gửi tại TCTD khác? Câu trả lời là không bởi nếu thừa
tiền các Ngân hàng sẽ cho vay trong dân cư, cho vay trên thị trường liên ngân
hàng để hưởng lãi suất cao hoặc đầu tư cổ phiếu, trái phiếu chứ không dại gửi
tiền để hưởng lại suất thấp. Thực chất đây vẫn là 1 hình thức cho vay giữa các
ngân hàng bởi trên hợp đồng thì vẫn là hình thức tiền gửi nhưng lại tính theo lãi
suất cho vay. Hoạt đồng này có lợi cho cả bên đi vay và bên cho vay. Đối với bên
cho vay, sẽ không phải phân loại nợ, giảm được chi phí trích lập dự phòng rủi ro,
đối với bên đi vay thì làm đẹp BCTC vì không có ngân hàng nào muốn khoản
mục đi vay ở con số quá cao, nhưng thực chất rủi ro của hoạt động này không
phải là không có nhưng lại rất khó kiểm soát. Mở rộng hơn về việc gửi tiền giữa
các tổ chức tín dụng, về phía Eximbank, khoản mục tiền gửi của các TCTD khác
tại ngân hàng này cũng chiếm tỷ trọng tương đối lớn, thậm chí năm 2011 còn
vượt cả mức huy động từ khách hàng. Trong đó, tính đến quý 2/2012, tổng tài sản
nợ (huy động) vàng của Eximbank đạt 23,330 tỷ, trong đó đa phần gồm 39% là
chứng chỉ vàng và 60% là vàng giữ hộ. Tuy nhiên, với dư nợ vàng chỉ đạt 1,644
tỷ (quy đổi), vậy Eximbank sẽ làm gì với số vàng dư thừa:
- 7,285 tỷ (quy đổi) cất tại két với hiệu quả sử dụng thấp (Trong mục tiền mặt/vàng

7.9 9.6 13.89
Tình
trạng TSCĐ
79.18 79 79.59
Tỷ lệ đầu tư TSCĐ qua các năm đều dưới mức tối đa 20% theo thông lệ quốc tế
cho thấy tỷ lệ đầu tư vốn tự có vào TSCĐ phục vụ kinh doanh của Ngân hàng đang
ở mức hợp lý. Đồng thời, các tỷ lệ về tình trạng của TSCĐ đều trên 50% cho thấy
TSCĐ của Eximbank còn mới, vấn đề chi phí mua sắm TSCĐ là không đáng lo ngại.
Tuy nhiên, mức đánh giá trên còn phụ thuộc vào chính sách trích khấu hao của Ngân
hàng.
II.4. Tốc độ tăng trưởng
Chỉ tiêu Công thức 2011 30/9/201
2
Tốc đọ tăng trưởng
tín dụng
19.7
6
-14.72
Tốc độ tăng trưởng
đầu tư góp vốn mua
cổ phần
3.57 143.58
Theo như bảng trên, tốc đọ tăng trưởng tín dụng tính đến quý 3 năm 2012 chỉ đạt
-14.72% thấp hơn mức tối thiểu 10% theo thông tư số 49. Mặc dù dư nợ tín dụng
giảm nhưng nợ xấu và nợ quá hạn lại tăng, cho thấy Eximbank đang gặp vấn đề
trong hoạt động kinh doanh truyền thống.
Ngoài ra, tốc đọ tăng trưởng đầu tư vào vốn mua cổ phần cũng rất đáng lưu ý bởi
mặc dù tốc độ tăng trưởng cuối quý 3 năm 2012 tăng rất mạnh so với năm 2011
nhưng thực tế cho thấy thông qua BCKQHĐKD, nguồn thu từ đầu tư góp vốn mua
cổ phần không đù bù đắp chi phí, thu nhập lũy kế từ đầu năm đến ngày 30/9/2012

Thu nhập lãi thuần/TSC bq 2.10% 2.89% 0.71%
Thu nhập ngoài lãi/TSCbq 0.796% 0.602389353 0.047%
2. Khả năng quản trị chi phí 2010 2011 q3/2012
Lợi nhuân trước thuế/ Tổng Tn 64.77% 65.19% 58.72%
Chi phí hoạt động/tổng tn -27.98845725 -30.47877619 -36.41000814
Chi phí hoạt động/tổng ts có -0.782035415 -1.036370025 -0.931695624
Chi phí lãi/Thu nhập lãi -61.80183596 -69.81277286 -70.66150371
Chi phí dự phòng/thu nhập lãi -3.51498271 -1.543557598 -1.453528749
Dựa vào bảng số liệu đã tính toán, có thể thấy thu nhập của ngân hàng vẫn chủ
yếu là khoản thu nhập từ lãi, và tỉ trọng khoản thu nhập này đang dần tăng qua các
năm, cùng với nó là sự giảm dần tỉ trọng các khoản thu nhập từ các hoạt động khác (
hoạt động dịch vụ, hoạt động ngoại hối, hoạt động mua bán chứng khoán, hoạt động
kinh doanh khác,…), điều này cho thấy ngân hàng vẫn tập trung vào các hoạt động
cơ bản, thu lãi là chủ yếu.
Tốc độ tăng của các khoản thu nhập và chi phí đều sụt giảm, đáng chú ý là sự sụt
giảm mạnh của thu nhập ngoài lãi giai đoạn 2011-2012 so với giai đoạn 2010-2011.
Có thể đánh giá một phần nguyên nhân là do năm 2012 là 1 năm khá khó khăn đối
với ngân hang, việc tái cơ cấu và các quy định mới ban hành của ngân hang nhà
nước đã tác động không nhỏ đến các hoạt động khác của ngân hang.
Có thể thấy, thu từ hoạt động dịch vụ của ngân hang có chiều hướng giảm trong
khi chi phí lại tăng, đặc biệt thu nhập từ hoạt động dịch vụ giảm mạnh từ 2011- quý
3/2012 (~ 130% ) mặc dù trước đó vẫn đang có chiều hướng tăng, chi phí hoạt động
dịch vụ có giảm tuy nhiên sự giảm đột biến về thu nhập làm lãi thuần từ hoạt động
dịch vụ giảm mạnh ( 632769 tr. Đ)
Các hoạt động mua bán chứng khoán của ngân hàng trong 3 năm trở lại đây đều
không có lãi, tuy nhiên thì lỗ có xu hướng giảm, cũng có thể đánh giá đây là 1 dấu
hiệu tốt cho ngân hang. Nhưng vấn đề đáng chú ý ở đây là các hoạt động ngoại hối,
góp vốn mua cổ phần của ngân hang đang có xu hướng tăng lỗ, trong khi đây là
ngân hang xuất nhập khẩu, việc tăng lỗ hoạt động ngoại hối cần phải được xem xét
thận trọng.

+ 2010 + 2011 + Quý 3/2012
+ 34,5% + 75,12% + 62,51%
+ Chi phí huy động vốn trên TS có sinh lời
+ 2010 + 2011 + Quý 3/2012
+ 5,18% + 11,37% + 6,71%
+ Chi phí phi lãi so với tổng TS có
+ 2010 + 2011 + Quý 3/ 2012
+ 1,41% + 1,74% + 1,44%
+ Mức độ hiệu quả
+ 2010 + 2011 + Quý 3/2012
+ 57,78% + 55,51% + 56,56%
Hiệu quả quản lý chi phí:
+ Chi phí/ Thu nhập:
+ 2010 + 2011 + Quý 3/ 2012
+ 61,79% + 69,78% + 70,6%
Chỉ số này cho biết chi phí phát sinh để có được thu nhập. Nó nói lên để tạo ra
một đồng thu nhập thì ngân hàng phải bỏ ra bao nhiêu chi phí.
Qua đó có thể thấy Eximbank có chỉ số hiệu quả quản lý chi phí khá cao, và có
xu hướng tăng dần. Điều đó thể hiên ngân hàng không kiểm soát chặt chẽ chi phí.
Do vậy, cần có biện pháp quản lý chi phí, tránh thất thoát và kém hiệu quả.
+ LN trước thuế/ Thu nhập:
+ 2010 + 2011 + Quý 3/ 2012
+ 31,51% + 23,11% + 17,72%
Chỉ số này cho biết NH thu được bao nhiêu lợi nhuận trước thuế trên một đồng
thu nhập.
Từ đó có thể thấy chỉ số này của Eximbank đang có xu hướng giảm dần, thể hiện
khả năng kiểm soát chi phí đang có vấn đề. Do đó cần những biện pháp để kiểm soát
chặt chẽ chi phí hơn nữa.
+
2010 2011 Quý 3/ 2012

quản trị
CF
x Hiệu quả
quản trị
TS
x Hiệu suất sử
dụng TS
x Số nhân
đòn bẩy
∆(ROE) = ∆(HQ quản trị CF thuế) + ∆(HQ quản trị CF) + ∆(HQ quản trị TS) +
∆(Hiệu suất sd TS) + ∆(Số nhân đòn bẩy)
2010 ROE = 76,24% x 31,51% x 6,1% x 94,28%x 9,7
2011 ROE= 74,92% x 23,11% x 9,56% x 94,98% x 11,26
Quý
3/2012
ROE = 74,88% x 17,72% x 9,51% x 89,97% x 10,35
4. Phân tích rủi ro thanh khoản
Rủi ro thanh khoản là rủi ro Ngân hàng gặp phải trong việc thực hiện nghĩa vụ cho
công nợ tài chính. Rủi ro thanh khoản phát sinh khi ngân hàng có thể không đủ khả
năng thực hiện nghĩa vụ các khoản nợ đến hạn ở những thời điểm bình thường hoặc
khó khăn.
Để giảm thiểu rủi ro thanh khoản, Ngân hàng huy động từ nhiều nguồn đa đạng
khác ngoài nguồn vốn cơ bản của Eximbank. Thời gian đáo hạn của tài sản và công nợ
tính từ ngày kết thúc kỳ kế toán đến giữa niên độ đến ngày thanh toán theo quy đinh
trong hợp đồng hoặc điều khoản phát hành. Các giả định sau được Eximbank đưa ra áp
dụng trong phân tích thời gian đến ngày thanh toán:
Tiền gửi tại NHNN được xếp loại tiền gửi thanh toán, trong đó bao gồm tiền gửi dự
trữ bắt buộc.
Thời gian đáo hạn của Chứng khoán đầu tư được tính dựa trên ngày đáo hạn của
từng loại chứng khoán.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status