Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO
/
HọC VIệN CHíNH TRị- HàNH CHíNH
QUốC GIA Hồ CHí MINH
HọC VIệN HàNH CHíNH
/
NGÔ QUANG NGọC
NÂNG CAO HIệU QUả QUảN Lý NHà NƯớC TRONG VIệC
BảO ĐảM TRậT Tự AN TOàN GIAO THÔNG ĐƯờNG Bộ
TRÊN ĐịA BàN THàNH PHố Hà NộI HIệN NAY
LUậN VĂN THạC Sỹ QUảN Lý HàNH CHíNH CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý hành chính công
Mã số: 60 34 82
NGƯờI HƯớNG DẫN KHOA HọC:
TS. Nguyễn Minh Sản
Hµ NéI, N¡M 2011
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn thạc sĩ Quản lý Hành chính công với đề
tài: “Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong việc bảo đảm trật tự an
toàn giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay” là công
trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn
khoa học của TS. Nguyễn Minh Sản và hoàn thành vào tháng 12 năm 2011 tại
Học viện Hành chính.
Học viên
Ngô Quang Ngọc
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng trân trọng biết ơn đối với lãnh đạo Học viện Hành
chính, các Khoa, Phòng ban trong Học viện, Quý Thầy Cô giáo giảng dạy tại
Học viện Hành chính.
Đặc biệt trân trọng cảm ơn TS. Nguyễn Minh Sản đã tận tình giúp đỡ,
hướng dẫn tôi trong suốt quá trình hoàn thành đề tài.
mới, nâng cấp, cải tạo đáng kể bằng nhiều nguồn vốn trong nước cũng như
các khoản vay từ các quốc gia, tổ chức tài trợ nước ngoài. Nhìn chung, kinh
tế, văn hóa - xã hội của thành phố Hà Nội phát triển và mức sống của người
dân ngày một được nâng cao.
Tuy nhiên, trong thập kỷ qua, sự gia tăng về kinh tế, thu nhập và sự
phát triển của kết cấu hạ tầng giao thông vận tải đã thúc đẩy số lượng phương
tiện cơ giới đường bộ, đặc biệt là ôtô, môtô, xe gắn máy trên địa bàn thành
phố Hà Nội gia tăng một cách nhanh chóng. Lưu lượng và khối lượng giao
thông đường bộ (GTĐB) trên địa bàn thành phố Hà Nội tăng nhanh kéo theo
các vấn đề liên quan như xung đột giao thông, tai nạn giao thông (TNGT), ùn
tắc giao thông (UTGT) bắt đầu gia tăng. Mặt khác, mức độ hiểu biết và ý thức
chấp hành các yêu cầu về an toàn giao thông (ATGT) của người tham gia giao
thông của cộng đồng vẫn còn rất thấp. Công tác quản lý về an toàn GTĐB của
các cấp chính quyền Thành phố đã được cải thiện rõ rệt nhưng vẫn còn những
bất cập, chưa đáp ứng nhu cầu. Chính vì vậy, TNGT trên địa bàn thành phố
Hà Nội đã trở thành một vấn đề xã hội nghiêm trọng. Tốc độ gia tăng số vụ
TNGT hàng năm đã được kiềm chế, tuy nhiên số người chết, bị thương vẫn
còn ở mức độ cao và tính nghiêm trọng càng gia tăng.
1
Nhằm kiềm chế và giảm thiểu TNGT, Chình phủ đã ban hành các Nghị
định, và Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố Hà Nội đã ban hành các Quyết
định quy định thực hiện các biện pháp cấp bách. Tuy nhiên, hiệu quả chưa cao
do ý thức chấp hành luật của người tham gia giao thông thấp, hệ thống kết cấu
hạ tầng giao thông chưa đồng bộ, yếu kém, hiệu lực quản lý nhà nước
(QLNN) chưa cao.
Sau hơn ba năm thực hiện Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP của Chính
phủ về một số giải pháp cấp bách kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao
thông và Chỉ thị số 18-CT/TU ngày 16/8/2007 của Ban thường vụ Thành ủy
về tăng cường các biện pháp bảo đảm trật tự giao thông trên địa bàn thành
phố Hà Nội, tình hình trật tự ATGT đường bộ (TTATGTĐB) trên địa bàn
giá thực trạng tai nạn GTĐB; từ đó đề xuất những giải pháp phòng ngừa tai
nạn GTĐB của lực lượng cảnh sát giao thông.
- Mai Văn Đức: “Nghiên cứu tình hình an toàn giao thông đường bộ và
các biện pháp khắc phục”, Luận văn thạc sĩ Khoa học- Kỹ thuật, năm 2000.
Luận văn không nghiên cứu về an toàn GTĐB dưới góc độ của khoa học quản
lý hành chính công mà chỉ tập trung nghiên cứu về an toàn GTĐB dưới góc
độ ứng dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật để quản lý, duy trì và
khắc phục những hạn chế trong lĩnh vực GTĐB.
- Nguyễn Huy Bằng: “Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong
lĩnh vực giao thông đường bộ ở nước ta hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Luật học,
năm 2001. Luận văn đã làm rõ lịch sử phát triển tư tưởng pháp chế; khái niệm
pháp chế, quan niệm pháp chế trong lĩnh vực GTĐB; tỉnh tất yếu phải tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong lĩnh vực GTĐB; thực trạng,
phương hướng và giải pháp tăng cường pháp chế trong lĩnh vực GTĐB. Như
vậy, luận văn đã không đề ra mục tiêu nghiên cứu về QLNN về TTATGTĐB.
3
- Nguyễn Thị Thanh Thuỷ: “Hoàn thiện QLNN đối với giao thông đô
thị tại thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính công, năm
2003. Luận văn không nghiên cứu sâu về QLNN đối với GTĐB mà tập trung
xây dựng hệ thống lý thuyết tổng quan về QLNN đối với giao thông đô thị;
phân tích thực trạng QLNN về giao thông đô thị tại Hà Nội; từ đó kiến nghị
những giải pháp QLNN về giao thông đô thị tại Hà Nội.
- Trần Văn Quan: “Tăng cường QLNN về vận tải đường bộ - từ thực
tiễn tỉnh Đồng Nai”, Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính công, năm 2004.
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận chung của QLNN về vận
tải đường bộ trong nền kinh tế thị trường; phân tích và đánh giá thực trạng
QLNN về vận tải đường bộ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai; từ đó đề xuất phương
hướng và giải pháp nhằm tăng cường QLNN về vận tải đường bộ. Như vậy,
luận văn chỉ nghiên cứu một vấn đề về vận tải đường bộ.
- Thạch Như Sỹ: “Phối hợp dịch vụ công cộng và trật tự công cộng
thời gian tới.
Về nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về nâng cao hiệu quả QLNN trong bảo đảm
TTATGTĐB trên địa bàn thành phố Hà Nội thông qua việc làm rõ khái niệm,
đặc điểm, nội dung và vai trò của QLNN trong bảo đảm TTATGTĐB.
- Đánh giá thực trạng, phân tích nguyên nhân hạn chế hiệu quả của
QLNN trong bảo đảm TTATGTĐB trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm
2001 đến nay.
- Xác định các phương hướng và đề xuất hệ thống giải pháp cơ bản
nhằm nâng cao hiệu quả QLNN trong bảo đảm TTATGTĐB trên địa bàn Hà
Nội trong thời gian tới.
5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng: Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là tổng quát hoạt
động QLNN trong lĩnh vực bảo đảm TTATGTĐB trên các mặt về xây dựng,
ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản QLNN về TTATGTĐB; việc xử lý
các hành vi vi phạm TTATGTĐB của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc
chủ thể và đối tượng của QLNN về TTATGTĐB trên địa bàn thành phố Hà
Nội trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo.
Về phạm vi: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về hiệu quả QLNN trong
bảo đảm TTATGTĐB. Vấn đề này được tiếp cận dưới góc độ của khoa học
Quản lý hành chính công, vì thế luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về QLNN
trong bảo đảm TTATGTĐB trên địa bàn thành phố Hà Nội của các cơ quan
quản lý hành chính nhà nước trong mối liên hệ với QLNN về TTATGTĐB
của các cơ quan nhà nước nói chung từ năm 2001 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về QLNN; bám sát chủ trương, đường lối
của Đảng về nâng cao hiệu quả QLNN trong bảo đảm TTATGTĐB, đặc biệt
là Nghị quyết số 15 về mở rộng địa giới hành chính Thủ đô đã được Quốc hội
luận văn được kết cấu thành 3 chương, 8 tiết.
7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
TRONG BẢO ĐẢM TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG BẢO
ĐẢM TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
1.1.1. Khái niệm và nguyên tắc quản lý nhà nước
1.1.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước
Thuật ngữ “quản lý” có nhiều nghĩa khác nhau. Theo Từ điển Tiếng Việt
“quản lý” được hiểu dưới hai khía cạnh: một là, trông coi và giữ gìn theo
những yêu cầu nhất định; hai là, Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo
những yêu cầu nhất định” [34, tr.72]. Theo sách gốc và nghĩa từ Việt thông
dụng quản lý được hiểu là “trông nom, sửa sang, sắp đặt công việc” [34, tr.95].
Như vậy, thuật ngữ “quản lý” có nhiều cách diễn đạt khác nhau tùy
theo góc độ tiếp cận. Các nhà điều khiển học đưa ra quan niệm chung: “quản
lý là sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa
và hướng nó phát triển phù hợp với những quy định nhất định” [34, tr.83].
Trong khái niệm này, sự tác động có định hướng được hiểu là sự tác động có
tính kế hoạch của người quản lý vào bất kỳ một thời điểm nào đó, hướng đến
đối tượng là một hệ thống nào đó”. Hệ thống được xác định là “tập hợp nhiều
yếu tố, đơn vị cùng loại hoặc cùng chức năng có quan hệ hoặc liên hệ với
nhau chặt chẽ, làm thành một thể thống nhất” [22, tr.18].
Xuất phát từ tính kế hoạch của người quản lý nên sự tác động được xác
định mục đích rõ ràng là nhằm trật tự hóa một hệ thống bất kỳ nào đó. Do vậy
có thể nhận thấy, trước khi có tác động quản lý thì các yếu tố, các đơn vị của
một hệ thống đang ở trạng thái tự nhiên, tự phát, chưa được sắp đặt thứ bậc.
8
Nhưng dưới tác động của người quản lý thì các yếu tố, đơn vị được đặt vào
là con người hay tổ chức của con người bị quản lý và khách thể của quản lý
xã hội đó chính là “trật tự xã hội”.
Mối quan hệ giữa chủ thể quản lý với đối tượng quản lý được thể hiện
thông qua quan hệ “quyền uy- phục tùng”. Quyền uy là phương tiện hữu hiệu
để chủ thể quản lý tiến hành hoạt động quản lý. Không có quyền uy thì hoạt
động quản lý sẽ không đạt được mục đích đề ra. Quyền uy và phục tùng tạo
thành nội dung của quyền lực quản lý. Quyền lực là sức mạnh của chủ thể
quản lý và cũng chính là yếu tố quyền lực làm cho ý chí của chủ thể quản lý
trở thành ý chí thống trị buộc đối tượng quản lý phải phục tùng.
Từ khi xã Nhà nước xuất hiện, bộ phận quản lý cơ bản và quan trọng
nhất do Nhà nước với tư cách là một tổ chức quyền lực thực hiện mang tính
nhà nước được gọi là QLNN. Quyền lực trong QLNN có bản chất khác với
quyền lực xã hội, mang tính chất nhà nước do pháp luật quy định và được
đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh của Nhà nước. Nhưng quản lý xã hội
không chỉ do Nhà nước mà còn do tất cả các bộ phận cấu thành khác của hệ
thống chính trị thực hiện. Như vậy, quản lý xã hội là một khái niệm rộng, bao
hàm hai nội dung: 1) quản lý các công việc của Nhà nước - phần quản lý xã
hội do Nhà nước đảm nhiệm; 2) quản lý các công việc có tính xã hội - phần
quản lý còn lại do các tổ chức xã hội, tổ chức tư nhân, gia đình v.v thực hiện.
Theo nghĩa rộng, QLNN được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà
nước, có thể do các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân
dân trực tiếp thực hiện nếu được Nhà nước ủy quyền, trao quyền thực hiện
chức năng của Nhà nước theo quy định của pháp luật. Theo nghĩa hẹp, hoạt
động QLNN là hoạt động chấp hành và điều hành của Nhà nước hay còn gọi
10
là hoạt động quản lý theo ý nghĩa vốn có của nó. Hiểu theo nghĩa hành pháp,
hoạt động QLNN chủ yếu được thực hiện bởi hệ thống cơ quan hành chính nhà
nước, đó là Chính phủ, các bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân
(UBND) các cấp. Các cơ quan này thành lập để chuyên thực hiện hoạt động
quản lý hành chính nhà nước và trong thực tiễn được gọi là cơ quan quản lý
hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.
Từ những đặc tính trên, có thể khái quát: Quản lý nhà nước là một
dạng quản lý xã hội đặc biệt và chủ yếu nhất, là hoạt động mang tính quyền
lực nhà nước, được Nhà nước sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội, các
hành vi của cá nhân, tổ chức, có sức mạnh và hiệu lực do các cơ quan nhà
nước, công chức trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ công, duy
trì sự ổn định và phát triển bền vững xã hội.
1.1.1.2. Nguyên tắc quản lý nhà nước
Ở Việt Nam, để QLNN bảo đảm hiệu lực và hiệu quả, cần quán triệt
các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng trong quản lý nhà nước
Cội nguồn sâu xa mang tính quy luật của cách mạng Việt Nam, của
nguyên tắc này đã từng được thừa nhận. Chính vì vậy, Điều 4 Hiến pháp năm
1992 quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công
nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân
dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức Đảng hoạt
động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” [24, tr.14]. Nội dung của
nguyên tắc này thể hiện: một là, Đảng lãnh đạo QLNN bằng việc đưa ra
những chủ trương, đường lối chính sách của mình về các lĩnh vực khác nhau
12
của QLNN. Các Nghị quyết của các cấp ủy đảng là những cơ sở quan trọng
để các chủ thể QLNN có thẩm quyền thể chế hóa thành pháp luật thực thi
trong QLNN. Để thực hiện nghị quyết này, phải thông qua hàng loạt những
hoạt động mang tính quyền lực nhà nước của các chủ thể QLNN. Thông qua
những hoạt động này, chủ trương của Đảng sẽ được thấm sâu vào các lĩnh
vực QLNN. Hai là, Đảng lãnh đạo QLNN thông qua công tác cán bộ. Đảng
đào tạo, lựa chọn, giới thiệu cán bộ cho cơ quan QLNN. Chính vì vậy, Điều 4
Pháp lệnh cán bộ, công chức quy định: “công tác cán bộ, công chức đặt dưới
sự lãnh đạo thống nhất của Đảng ” [24, tr.9]. Ba là, Đảng lãnh đạo QLNN
trung ương; trong sự phân cấp quản lý; trong sự phụ thuộc hai chiều của cơ quan
QLNN ở địa phương và sự hướng về cơ sở của các cơ quan QLNN.
Tuy nhiên, phải thừa nhận hiện nay chúng ta còn lúng túng trong việc
vận dụng nguyên tắc này vào QLNN làm cho hiệu lực và hiệu quả QLNN
chưa được nâng cao một cách đáng kể, kỷ luật, kỷ cương trong QLNN còn
lỏng lẻo.
Thứ ba, Bảo đảm pháp chế trong quản lý nhà nước
Đây là nguyên tắc cơ bản nhất của QLNN của các nhà nước đương đại.
Không tuân theo nguyên tắc này thì cũng đồng nghĩa với việc nhà nước không
quản lý xã hội bằng pháp luật.
Điều 12 Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng
pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” [24, tr.17].
Nguyên tắc này đòi hỏi từ phía nhà nước (chủ thể quản lý) phải không những
xây dựng và hoàn thiện hệ thông pháp luật. Các cơ quan hành chính, đặc biệt
là Chính phủ phải làm theo pháp luật. Theo Hiến pháp, chính phủ phải chịu sự
giám sát của Quốc hội và các cơ quan tư pháp. Pháp luật là cơ sở, căn cứ tổ
14
chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước. Các cơ quan này
trong tổ chức và hoạt động không được vượt quá phạm vi mà pháp luật đã
quy định. Các quyết định hành chính của các cơ quan hành chính và công
chức, viên chức hành chính đều phải phù hợp với pháp luật. Còn đối với các
đối tượng bị quản lý (không phải là cơ quan, cán bộ công chức, viên chức nhà
nước) được làm tất cả những gì mà nhà nước không cấm. Tuy nhiên, những
việc được làm cần phải thực hiện theo sự hướng dẫn, quy định của nhà nước.
Nói một cách toàn diện “pháp chế xã hội chủ nghĩa là chế độ thực hiện pháp
luật nghiêm minh, thống nhất và tự giác của các cơ quan nhà nước, các tổ
chức chính trị - xã hội, đơn vị kinh tế, lực lượng vũ trang, cán bộ, công chức
nhà nước và mọi công dân”. Quản lý nhà nước là một công việc phức tạp diễn
ra ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Để đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp chế xã
hội chủ nghĩa trong QLNN có nghĩa là phải thực hiện đầy đủ các yêu cầu đối
độ kinh tế - xã hội, chính trị dưới sự tác động của sự phát triển khoa học - kỹ
thuật tiên tiến. Ở đây, dưới góc độ quản lý hành chính công hiện tượng GTĐB
đang đặt ra những vấn đề sau đây:
Thứ nhất, GTĐB là một nhu cầu tự nhiên của xã hội người. Nhưng
từng cá thể con người, tổ chức người nhất định không thể tự lo để thỏa mãn
nhu cầu của mình. Đặc biệt, để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế thị trường,
chỉ có Nhà nước mới có thể xây dựng kết cấu hạ tầng GTĐB. Mặc dù, ở mức
độ nào đó, Nhà nước phải huy động sức dân, nhưng trách nhiệm thuộc về Nhà
nước. Trách nhiệm này mang tính pháp lý được quy định trong chức năng,
nhiệm vụ của Nhà nước.
16
Thứ hai, các quan hệ xã hội diễn ra trong lĩnh vực GTĐB là đối tượng
quản lý của Nhà nước. Nhà nước kiểm soát, hướng dẫn, điều chỉnh các
QHXH để các quan hệ này diễn ra “trong vòng trật tự”.
Thứ ba, các quan hệ xã hội phát sinh trong GTĐB diễn ra bởi nhiều chủ
thể với những mục đích kinh tế, xã hội, quốc phòng an ninh khác nhau và cần
được định chế hóa, quy phạm hóa và tiến tới pháp điển hóa. Các quan hệ xã
hội trong lĩnh vực GTĐB cũng như vậy, kết quả của quá trình định chế hóa,
quy phạm hóa, pháp điển hóa là Luật GTĐB năm 2001 ra đời.
Tóm lại, từ vai trò tất yếu của GTĐB và những vấn đề QLNN nêu trên
là cơ sở, có tính điều kiện để nghiên cứu khái niệm về TTATGTĐB và QLNN
trong bảo đảm TTATGTĐB.
1.1.2.2. Trật tự an toàn giao thông đường bộ
Trên thực tế, còn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về TTATGTĐB.
Có ý kiến cho rằng: TTATGTĐB là sự bảo đảm cho mọi hoạt động giao
thông được trật tự, an toàn, nhanh chóng, tiện lợi, thông suốt và mỹ quan môi
trường; hạn chế thấp nhất các vi phạm Luật Giao thông và các quy phạm pháp
luật về trật tự ATGT, kiềm chế tai nạn giao thông, ngăn ngừa thiệt hại do tai
nạn giao thông gây ra.
Một quan niệm khác cho rằng: “TTATGTĐB là việc chấp hành triệt để
đảm hiệu quả, tiết kiệm và trật tự an toàn vệ sinh môi trường, mỹ quan đô thị.
Nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường, khi mà độ an toàn, chi phí trong lưu
thông vận chuyển đã kết tinh thành giá cả hàng hóa thì TTATGTĐB còn được
xem là tiêu chí quan trọng để xem xét việc có quyết định đầu tư kinh doanh
và mở rộng sản xuất hay không.
18
1.1.2.3. Quản lý nhà nước trong bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ
a. Khái niệm
Hoạt động QLNN nói chung và QLNN trong một lĩnh vực cụ thể nào
đó có thể bằng nhiều phương pháp, cách thức khác nhau. Phổ biến là quản lý
bằng phương pháp hành chính, phương pháp kế hoạch chính sách, phương
pháp kinh tế và phương pháp tư tưởng. Nhưng tựu chung, Nhà nước nào cũng
dùng pháp luật như một công cụ, là chuẩn mực khách quan để đánh giá hiệu
lực, hiệu quả của QLNN, đồng thời là phương pháp chủ yếu để quản lý xã
hội. Tuy nhiên, pháp luật không phải là tuyệt đối, do vậy không được tuyệt
đối hóa vai trò của pháp luật trong QLNN.
QLNN trong bảo đảm TTANGTĐB là hoạt động mang tính chất quyền
lực của cơ quan hành chính nhà nước, nhằm tạo ra các điều kiện để xác lập,
duy trì và ổn định các quan hệ về giao thông, theo quy định của pháp luật về
TTANGTĐB. Đây là một hoạt động có vai trò, vị trí rất quan trọng trong lĩnh
vực an ninh trật tự. Bởi vì, TNGT hàng ngày vẫn xảy ra đã và đang là một
hiểm họa không chỉ đối với nước ta mà còn là hiểm họa chung đối với tất cả
các quốc gia trên thế giới.
QLNN trong bảo đảm TTANGTĐB là hoạt động chấp hành và điều
hành của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội được Nhà nước ủy quyền,
được tiến hành trên cơ sở pháp luật, nhằm bảo vệ trật tự ATGT. QLNN trong
bảo đảm TTANGTĐB được tiến hành trên các lĩnh vực: ban hành các văn bản
quy phạm pháp luật về TTANGTĐB; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp
luật về GTĐB; quản lý quy tắc GTĐB; quản lý kết cấu hạ tầng GTĐB; quản
lý phương tiện tham gia GTĐB; quản lý người điều khiển phương tiện