MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghiên cứu đề tài "Quản lý nhà nước bằng pháp luật về trật tự an
toàn giao thông đường bộ của chính quyền cơ sở tỉnh Thanh Hóa" là hết sức
cần thiết, bởi những lý do sau:
Một là, quản lý nhà nước bằng pháp luật - theo chủ trương của Đảng
tuy đã được thực hiện trong nhiều năm song không phải ở cấp quản lý nhà
nước nào, ở lĩnh vực quản lý nào cũng được bảo đảm. Trên lĩnh vực trật tự an
toàn giao thông đường bộ (TTATGTĐB), ở cấp chính quyền cơ sở, việc quản
lý bằng pháp luật còn rất nhiều hạn chế, là một trong các nguyên nhân dẫn
đến tình trạng ùn tắc, ô nhiễm môi trường, và đặc biệt là tình hình tai nạn giao
thông (TNGT) đang ngày càng gia tăng.
Hai là, Thanh Hóa là một tỉnh lớn, dân số đông (trên 3,8 triệu người),
đang trên đà phát triển, đang đứng trước nhiều vấn đề lớn về kinh tế - xã hội
phải giải quyết, trong đó có vấn đề củng cố xây dựng bộ máy chính quyền cơ
sở, nâng cao trình độ, năng lực quản lý bằng pháp luật của cấp chính quyền
này. Thực tế cho thấy, nhiều cấp chính quyền cơ sở trên địa bàn tỉnh thực hiện
công tác quản lý trong lĩnh vực an toàn giao thông đường bộ (ATGTĐB) còn
nhiều hạn chế. Ở những nơi đó thường là TTATGTĐB không được bảo đảm,
hầu hết các vi phạm, va chạm, TNGT đều xảy ra trên địa bàn này. Cùng với
việc chính quyền cơ sở chưa làm tốt công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật
về TTATGTĐB thì ý thức chấp hành pháp luật an toàn giao thông (ATGT)
của người dân, nhất là lớp trẻ ở nông thôn khi tham gia giao thông còn yếu
kém, vai trò của đội ngũ công an xã chưa được phát huy.
Trong bối cảnh kinh tế - xã hội mới của đất nước, Nghị quyết Đại hội
lần thứ X của Đảng tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo
đảm các đạo luật có vai trò trung tâm trong hệ thống pháp luật, trực tiếp điều
1
chỉnh các lĩnh vực của đời sống xã hội. Theo chủ trương đó, việc bảo đảm quản
lý nhà nước bằng pháp luật về TTATGTĐB nói chung, trên địa bàn cơ sở nói
riêng có ý nghĩa to lớn về nhiều mặt, trong đó không chỉ để khắc phục sự mất
bảo vệ rừng", của nghiên cứu sinh Hà Công Tuấn, bảo vệ tại Học viện Chính
trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
+ Luận án tiến sĩ (2006): "Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với
doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay", của nghiên cứu sinh Lê Văn
Trung, bảo vệ tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, còn nhiều luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ khác về đề tài
quản lý nhà nước các lĩnh vực khác, như lĩnh vực hoạt động du lịch, về văn
hóa, xuất bản… Những luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ đó đã nghiên cứu
những cơ sở lý luận chung về quản lý nhà nước bằng pháp luật mà tác giả có
thể kế thừa trong thực hiện Luận văn của mình.
Một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ nghiên cứu những vấn đề liên
quan trực tiếp đến lĩnh vực trật tự an toàn giao thông (TTATGT), đáng chú ý là:
+ Luận văn thạc sĩ luật học (2001): "Tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở nước ta hiện nay" của Nguyễn
Huy Bằng, bảo vệ tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Luận văn đã
xây dựng cơ sở lý luận về pháp chế, trong lĩnh vực TTATGTĐB, như khái niệm
pháp chế pháp chế trong lĩnh vực TTATGTĐB, nội dung và giải pháp tăng
cường pháp chế trên lĩnh vực này. Mặc dù đề tài luận văn này không trùng lặp
với đề tài luận văn mà tác giả nghiên cứu, song có nhiều vấn đề, nhất là những
vấn đề về cơ sở pháp luật của pháp chế trong lĩnh vực giao thông đường bộ
(GTĐB) có giá trị tham khảo đối với việc thực hiện luận văn của tác giả.
- Luận văn thạc sĩ luật học (2005): "Tăng cường quản lý nhà nước
bằng pháp luật trên lĩnh vực giao thông đường bộ ở Việt Nam hiện nay", của
Dương Quốc Hoàng, bảo vệ tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
3
Những vấn đề lý luận mà luận văn này nghiên cứu trực tiếp liên quan đến đề
tài luận văn. Tuy nhiên, đề tài luận văn mà tác giả nghiên cứu hẹp hơn, cụ thể
hơn, tức là chỉ nghiên cứu lĩnh vực TTATGTĐB mà chủ thể quản lý là cấp
chính quyền cơ sở, gắn với đơn vị hành chính cụ thể là tỉnh Thanh Hóa.
- Sách của nhóm tác giả Trần Văn Luyện, Trần Sơn và Nguyễn Văn
chính quyền này thực hiện việc quản lý có hiệu quả lĩnh vực TTATGTĐB
bằng công cụ pháp luật hiện nay.
+ Phân tích thực trạng TTATGTĐB và thực trạng quản lý nhà nước
bằng pháp luật trên lĩnh vực này của cấp chính quyền cơ sở tỉnh Thanh Hóa,
thời gian từ năm 2003 đến nay. Qua phân tích thực trạng, luận văn rút ra ưu
điểm, hạn chế, nhất là rút ra những nguyên nhân hạn chế trong quản lý bằng
pháp luật của chính quyền cơ sở trên lĩnh vực TTATGTĐB.
+ Đề xuất và luận chứng các giải pháp bảo đảm quản lý nhà nước bằng
pháp luật về TTATGTĐB của chính quyền cơ sở tỉnh Thanh Hóa hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Về đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là
những vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước bằng pháp luật của chính
quyền cơ sở trên lĩnh vực TTATGTĐB.
- Về phạm vi nghiên cứu: Do khuôn khổ có hạn, luận văn chỉ giới hạn
phạm vi nghiên cứu là hoạt động quản lý bằng pháp luật của chính quyền xã,
thị trấn ở tỉnh Thanh Hóa, thời gian nghiên cứu gắn với nhiệm kỳ của chính
quyền cơ sở, từ năm 2003 đến năm 2007.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà
nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng về đổi mới, cải cách bộ máy nhà
5
nước, phát huy vai trò của chính quyền cơ sở trong quản lý kinh tế - xã hội
bằng pháp luật trên địa bàn.
Luận văn cũng dựa trên cơ sở lý luận của khoa học luật chuyên ngành,
trực tiếp là cơ sở lý luận của bộ môn lý luận chung về nhà nước và pháp luật.
Về phương pháp nghiên cứu: Ngoài các phương pháp truyền thống
của triết học Mác - Lênin, như phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn,
phân tích và tổng hợp, lịch sử cụ thể, luận văn còn sử dụng một số phương
pháp của lý thuyết hệ thống, xã hội học, khoa học thống kê. Cụ thể là:
- Các phương pháp của triết học Mác - Lênin, như phương pháp phân
lý nhà nước.
Về học thuật, luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo
trong giảng dạy, nghiên cứu tại các cơ sở nghiên cứu đào tạo luật.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chương, 7 tiết.
7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT
VỀ TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
CỦA CHÍNH QUYỀN CƠ SỞ
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT
VỀ TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ CỦA CHÍNH QUYỀN CƠ SỞ
1.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước bằng pháp luật về trật tự an
toàn giao thông đường bộ của chính quyền cơ sở
Khái niệm quản lý nhà nước bằng pháp luật về TTATGTĐB liên quan
đến nhiều khái niệm khác như: khái niệm quản lý, quản lý nhà nước, quản lý
nhà nước bằng pháp luật. Tuy nhiên, đây cũng là những khái niệm đã được
nhiều công trình khoa học, trong đó có các luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ
nghiên cứu. Để có tính hệ thống luận văn chỉ khái quát những nội dung cơ
bản của các khái niệm ấy.
1.1.1.1. Khái niệm quản lý
Quản lý là nhu cầu khách quan của xã hội, ngay từ xã hội mông muội,
đến xã hội hiện đại ngày nay. Quản lý xuất hiện thì các học thuyết về quản lý
cũng ra đời, phát triển và không ngừng hoàn thiện. Mỗi học thuyết quản lý
nghiên cứu theo những "lát cắt" khác nhau. Học thuyết quản lý của Khổng Tử
là một trong các thuyết ra đời sớm nhất, cho đến ngày nay vẫn có ảnh hưởng
lớn đến thực tiễn quản lý ở cả các nước phương Ðông, và cả các nước phương
Tây. Khổng Tử không chỉ là nhà khoa học quản lý lỗi lạc, mà còn là nhà thực
tiễn quản lý tài ba, và là người đầu tiên trên thế giới mở trường tư dạy quản
cách quản lý khoa học mà còn khi tạo ra được trong các tổ chức đó những mối
quan hệ con người tốt đẹp" [32, tr. 15]; rằng "phải chú trọng tới những người
lao động với toàn bộ đời sống của họ, cả yếu tố kinh tế lẫn yếu tố tinh thần và
9
tình cảm" [32, tr. 15]. Đó là các học thuyết quản lý của M.Follet (1868 -1933),
của E.Mayo (1880-1949);
- P. Drucker xây dựng học thuyết quản lý của mình trong xã hội thông
tin - hậu công nghệ, với triết lý "kiến thức và hiệu quả lao động trí óc trở
thành nhân tố quyết định sự phát triển của các tổ chức".
Trong Nhà nước xã hội chủ nghĩa, học thuyết về quản lý cũng phát triển
hết sức phong phú. V.I. Lênin là người đầu tiên sau Cách mạng Tháng Mười
năm 1917 đã đặc biệt chú trọng đến vấn đề quản lý. Người nhấn mạnh nhiệm
vụ trọng tâm của chính quyền Xô viết "là quản lý và quản lý" đồng thời đòi
hỏi phải phân biệt quản lý với hoạt động chính trị, rằng "mục tiêu cơ bản của
hoạt động quản lý nhà nước là nhằm phát triển kinh tế" [32, tr. 12], phải học
tập quản lý "ở những nhà tổ chức lớn nhất của chủ nghĩa tư bản" [32, tr. 12].
Nội dung cơ bản của những học thuyết về quản lý xã hội trong các nhà
nước xã hội chủ nghĩa là:
- Quản lý xã hội là quản lý một cách khoa học, "là sự tác động có ý
thức, có mục đích của con người lên toàn bộ hệ thống xã hội hoặc đến từng
khâu của nó" (các phạm vi hoạt động xã hội, các ngành kinh tế, các liên hiệp
sản xuất, các xí nghiệp...), bảo đảm sự hoạt động tối ưu và sự phát triển của
chúng trên cơ sở vận dụng các quy luật khách quan và những xu hướng vốn
có của chủ nghĩa xã hội [64, tr. 263].
Quản lý với quan niệm trên là khách quan, vừa là kết quả, vừa là yêu
cầu cần thiết của sự giao tiếp trong quá trình lao động, trao đổi sản phẩm lao
động, yêu cầu về tính tổ chức, trật tự, sự phân công lao động, hay do tính chất
xã hội của lao động quyết định.
- Quản lý xã hội một cách khoa học là việc sử dụng hệ thống tri thức,
công cụ, phương thức và cơ chế đa dạng, phong phú tác động lên ý thức, hành
11
với những chức năng quản lý, quy trình quản lý của nhà nước, gắn với việc
thực hiện quyền lực nhà nước.
- Vì vai trò của pháp luật như trên nên quản lý nhà nước đối với xã hội
(quản lý dân cư, quản lý lãnh thổ, quản lý các mặt, các lĩnh vực khác nhau của
đời sống xã hội) cũng đồng nghĩa với quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với
xã hội. Và như thế, nội dung của quản lý, hay của những hoạt động quản lý
mà nhà nước là chủ thể được quy ra thành ba hoạt động sau:
Một là, hoạt động soạn thảo và ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
Đây là hoạt động nhằm đặt ra các chuẩn mực pháp lý để điều chỉnh các hành
vi, hoạt động quản lý cụ thể nhằm tác động lên đối tượng quản lý, hướng đối
tượng quản lý theo những mục tiêu (khách thể quản lý) cụ thể.
Hoạt động soạn thảo, ban hành pháp luật là hoạt động đầu tiên của chu
trình quản lý nhà nước, và với nội dung trên, trở thành hoạt động có tính chất
quyết định hiệu lực, hiệu quả quản lý, chi phối các hoạt động khác của quản lý.
Tất nhiên, hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước còn phụ thuộc vào chất lượng
các văn bản quy phạm pháp luật - sản phẩm của hoạt động ấy. Đó phải là một hệ
thống pháp luật có đầy đủ các thuộc tính hiện đại, như tính thống nhất, đồng bộ,
toàn diện, ổn định, minh bạch, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội
trong từng giai đoạn khác nhau của xã hội, phù hợp và phản ánh được đầy đủ
tâm tư, nguyện vọng, ý chí của số đông đối tượng quản lý, có tính phổ thông
đại chúng, được trình bày với trình độ kỹ thuật cao, và do đó có tính khả thi.
Trong điều kiện của nhà nước pháp quyền, các đạo luật ngày càng giữ vị trí
trung tâm, trực tiếp điều chỉnh các quan hệ xã hội thì giai đoạn đầu tiên của
chu trình quản lý nhà nước, cũng là nội dung đầu tiên của hoạt động quản lý
nhà nước chính là hoạt động thực hiện chức năng lập pháp của cơ quan quyền
lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân (Quốc hội).
Hoạt động soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật - xét dưới
góc độ quản lý, cũng là hoạt động ra quyết định quản lý quy phạm, thể hiện ý
12
với cấp tỉnh là các sở, với cấp huyện là các phòng, và ở cấp cơ sở là các công
chức chuyên môn.
Hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật được triển khai thông qua công
vụ của công chức hành chính nhà nước. Vì lẽ đó, hiệu lực, hiệu quả quản lý ở
giai đoạn này phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng đội ngũ công chức hành
chính, vào chất lượng công vụ của công chức. Chất lượng đó phụ thuộc phần
quan trọng vào chất lượng của pháp luật về công chức, công vụ. Vì lẽ đó,
Luật Công chức và Luật Công vụ luôn là những thể chế quản lý có vị trí quyết
định chất lượng thực hiện pháp luật trong quản lý. Ở Việt Nam, theo định
hướng xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc
soạn thảo ban hành Luật Công chức và Luật Công vụ đang là đòi hỏi cấp bách
của công cuộc cải cách hành chính, thực thi Chiến lược xây dựng và hoàn
thiện pháp luật, với quan điểm "xác định rõ cơ quan, công chức nhà nước chỉ
được làm những gì pháp luật cho phép. Xây dựng tiêu chuẩn đạo đức nghề
nghiệp cho từng loại cán bộ, công chức và hệ thống tiêu chuẩn đánh giá, khen
thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức" [41, tr. 19].
Mặt khác, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước bằng pháp luật ở giai
đoạn tổ chức thực hiện pháp luật còn phụ thuộc vào ý thức pháp luật, vào
trình độ tri thức về quản lý và tri thức pháp luật của đội ngũ công chức, và cả
của đối tượng quản lý nhà nước. Vì lẽ đó, công tác tuyên truyền, phổ biến,
giáo dục pháp luật cho các tầng lớp nhân dân, với các hình thức, phương tiện,
phương pháp, nội dung phù hợp với từng chủ thể, đối tượng quản lý, từng lĩnh
vực quản lý là hết sức quan trọng. Cũng vì thế, ngay khi đề ra đường lối đổi
mới, thực hiện quản lý đất nước bằng pháp luật Đảng ta khẳng định:
Coi trọng công tác giáo dục, tuyên truyền, giải thích pháp
luật; đưa việc giảng dạy pháp luật vào hệ thống các trường của
Đảng, của Nhà nước (kể cả các trường phổ thông, đại học), của các
đoàn thể nhân dân. Cán bộ quản lý các cấp từ trung ương đến đơn
14
vị cơ sở phải có kiến thức về quản lý hành chính và hiểu biết về pháp
pháp luật, biết sử dụng pháp luật để thực hiện các tác động quản lý lên quá
trình phát triển của xã hội.
- Pháp luật là cơ sở, là công cụ, hình thức của quản lý nhà nước, là
chuẩn mực khách quan để đánh giá hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước.
Mặc dù vậy, pháp luật không phải là tuyệt đối, cũng không được tuyệt đối hóa
vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước. Quản lý nói chung, quản lý nhà
nước bằng pháp luật nói riêng còn là một nghệ thuật, đòi hỏi nhà nước với tư
cách là chủ thể quản lý phải biết sử dụng đồng bộ, linh hoạt, sáng tạo các
công cụ, phương tiện quản lý. Vì lẽ đó, bên cạnh pháp luật, nhà nước phải biết
sử dụng kết hợp các công cụ, chuẩn mực quản lý khác, nhất là đạo đức, truyền
thống dân tộc, vừa tăng cường quản lý nhà nước, vừa coi trọng tính độc lập,
tự chủ của các cộng đồng, thực hiện xã hội hóa... Qua việc vận dụng các hình
thức và phương pháp đó cũng góp phần để nhà nước hoàn thiện pháp luật, hoàn
thiện quy trình ra và thực hiện các quyết định quản lý cụ thể. Đây cũng là
quan điểm đã được Đảng ta khẳng định trong nhiều Nghị quyết Đại hội Đảng
thời kỳ đổi mới. Nghị quyết Đại hội VIII khẳng định: "Tăng cường pháp chế
xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam. Quản lý xã hội
bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức" [34, tr. 129].
- Tùy theo bản chất của chế độ nhà nước, theo mô hình và cơ chế quản
lý, quản lý nhà nước phải tuân theo những nguyên tắc nhất định. Trong nhà
nước xã hội chủ nghĩa, quản lý nhà nước bằng pháp luật được tiến hành bởi
các cơ quan quản lý hành chính nhà nước, và do đó phải tuân theo các nguyên
tắc sau:
+ Các nguyên tắc có tính chính trị - xã hội, gồm: nguyên tắc Đảng
lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước; nguyên tắc nhân dân lao động
tham gia đông đảo vào quản lý hành chính nhà nước; nguyên tắc tập trung dân
16
chủ; nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc trong quản lý hành chính nhà
nước; nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.
+ Các nguyên tắc mang tính tổ chức - kỹ thuật, gồm nguyên tắc quản
vực đó. Và vì nhà nước quản lý bằng pháp luật, nên khách thể của quản lý nhà
nước cũng chính là trật tự pháp luật trên lĩnh vực mà pháp luật điều chỉnh.
Từ sự phân tích trên về quản lý nhà nước bằng pháp luật có thể rút ra
khái niệm quản lý nhà nước bằng pháp luật về TTATGTĐB. Đó là: toàn bộ
các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm xác lập cơ sở
pháp lý cho hoạt động quản lý về TTATGTĐB, cũng như các hoạt động tổ
chức thực hiện và xử lý vi phạm pháp luật GTĐB nhằm bảo đảm thiết lập và
duy trì TTATGTĐB. Thông qua việc xác lập trật tự quản lý nhà nước về GTĐB
góp phần giữ vững trật tự, kỷ cương xã hội, bảo đảm giao thông thông suốt, an
toàn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.
1.1.2. Đặc điểm của quản lý nhà nước bằng pháp luật về trật tự an
toàn giao thông đường bộ của chính quyền cơ sở
1.1.2.1. Đặc điểm chung
Từ khái niệm về quản lý, quản lý nhà nước bằng pháp luật và quản lý
nhà nước bằng pháp luật về TTATGTĐB có thể rút ra một số đặc điểm chung
của quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực này của chính quyền cơ
sở như sau:
+ Đặc điểm về chủ thể quản lý nhà nước bằng pháp luật về TTATGTĐB.
Quản lý nhà nước bằng pháp luật về TTATGTĐB có thể do nhiều chủ
thể tham gia, không thể chỉ do nhà nước, nhất là trong xu thế xã hội hóa. Tuy
nhiên, trong hệ thống chủ thể quản lý nhà nước bằng pháp luật về TTATGTĐB,
nhà nước, trực tiếp là các cơ quan quản lý hành chính nhà nước là chủ thể chủ
yếu. Những cơ quan này thực hiện quản lý với tư cách đại diện công quyền,
18
mang quyền lực nhà nước. Vì lẽ đó, các quyết định quản lý về TTATGTĐB
có giá trị pháp lý, có tính chất bắt buộc, cưỡng chế; đa số các quan hệ quản lý
phát sinh trong quá trình quản lý là những quan hệ hành chính, các bên chủ
thể không có địa vị pháp lý bình đẳng; phương pháp điều chỉnh là phương
pháp quyền uy, mệnh lệnh - phục tùng.
Từ đặc trưng trên cho thấy hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước nói
Từ phạm vi và đối tượng điều chỉnh trên cho thấy pháp luật GTĐB chỉ
là một bộ phận của pháp luật về an toàn giao thông, bên cạnh đó còn có pháp
luật về giao thông đường thủy (đường thủy nội địa), pháp luật về giao thông
đường sắt, pháp luật về giao thông đường không, và pháp luật về giao thông
đường biển.
- Nội dung của pháp luật GTĐB. Luật GTĐB (năm 2001) - bộ phận cốt
lõi của pháp luật GTĐB thể hiện tập trung những nội dung căn bản của pháp luật
GTĐB, với các nội dung sau: quy định các quy tắc GTĐB, các điều kiện bảo
đảm GTĐB của kết cấu hạ tầng, phương tiện và người tham gia GTĐB, các
điều kiện bảo đảm hoạt động vận tải đường bộ. Cụ thể là những vấn đề sau:
+ Các quy định chung, gồm quy định về nguyên tắc bảo đảm ATGTĐB;
về chính sách pháp luật trên lĩnh vực GTĐB, về tuyên truyền, phổ biến, giáo
dục pháp luật GTĐB; trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
thành viên trong bảo đảm TTATGTĐB; các hành vi nghiêm cấm, trong đó có
15 hành vi mà việc vi phạm sẽ gây hậu quả không chỉ phá vỡ TTATGTĐB,
mà còn làm thiệt hại về tính mạng, tài sản, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước.
+ Các quy định về quy tắc GTĐB. Đây là nội dung trọng yếu của Luật
Giao thông đường bộ, gồm các quy tắc trong các hoạt động giao thông cụ thể,
như quy tắc đối với người điều khiển phương tiện trong các loại đường và địa
bàn cụ thể, quy tắc về tổ chức và điều khiển giao thông, xử lý TNGT.
20
+ Các quy tắc về kết cấu hạ tầng GTĐB;
+ Các quy định về phương tiện tham gia GTĐB;
+ Các quy định về người điều khiển phương tiện GTĐB;
+ Các quy định về vận tải đường bộ
+ Các quy định quản lý nhà nước về GTĐB.
Ngoài ra, Luật GTĐB còn có quy định việc khen thưởng và xử lý vi
phạm, điều khoản thi hành.
Những quy định quản lý nhà nước về GTĐB gồm các nội dung sau:
TTATGTĐB.
Khách thể của quản lý nhà nước bằng pháp luật về TTATGTĐB là
một bộ phận quan trọng cấu thành khách thể của quản lý nhà nước về GTĐB.
Tuy nhiên, do quản lý nhà nước bằng pháp luật thực chất là quản lý con
người, gắn với những quan hệ xã hội cụ thể, nhằm tạo ra những cơ hội, khả
năng phát triển con người, hướng dẫn, định hướng hoạt động của họ theo một
trật tự phù hợp với quy luật phát triển xã hội thì khách thể của quản lý nhà
nước bằng pháp luật về TTATGTĐB được quan niệm là trật tự được thiết lập
nhờ đó mà bảo đảm cho GTĐB được an toàn, nhanh chóng, tiện lợi, thông
suốt, bảo đảm mỹ quan, môi trường, hạn chế thấp nhất vi phạm pháp luật
GTĐB, ùn tắc giao thông, ngăn ngừa thiệt hại do TNGT gây ra. Điều cần lưu ý
là quan niệm này về khách thể của quản lý nhà nước bằng pháp luật về
TTATGTĐB như trên phải xuất phát từ quan niệm đúng đắn về TTATGTĐB.
Theo các tác giả đề tài khoa học cấp Bộ: "Tai nạn giao thông đường bộ, thực
trạng, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa của lực lượng Cảnh sát giao
thông", Bộ Công an (1998), và Từ điển Bách Khoa Công an nhân dân thì "trật
tự an toàn giao thông đường bộ là hệ thống các mối quan hệ xã hội được hình
thành và điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực GTVT công
22
cộng mà mọi người tham gia giao thông phải tuân theo để bảo đảm hoạt động
giao thông thông suốt, trật tự, an toàn, hạn chế thấp nhất TNGT, gây thiệt hại
về người và tài sản [63, tr. 130].
1.1.2.2. Đặc điểm riêng của quản lý nhà nước bằng pháp luật về trật
tự an toàn giao thông đường bộ của chính quyền cơ sở
Bên cạnh những đặc điểm chung của quản lý nhà nước bằng pháp luật
về TTATGTĐB, quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực này của
chính quyền cơ sở có những đặc điểm riêng sau:
+ Về chủ thể quản lý.
Quản lý nhà nước bằng pháp luật về TTATGTĐB của chính quyền cơ
sở là quản lý mà chủ thể là chính quyền cơ sở. Đó là cấp chính quyền thấp
Quản lý nhà nước bằng pháp luật về TTATGTĐB của chính quyền cơ
sở mang tính xã hội sâu sắc, bởi khả năng huy động đông đảo nhân dân ở cơ
sở tham gia trực tiếp, gắn liền với phong trào xây dựng làng, xã, khối phố văn
hóa, với việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.
+ Quản lý nhà nước bằng pháp luật về TTATGTĐB gặp nhiều khó
khăn, bất cập:
Quản lý nhà nước bằng pháp luật về TTATGTĐB của chính quyền cơ
sở hiện còn nhiều bất cập, hạn chế, nhất là bất cập giữa nhiệm vụ, quyền hạn
quản lý của chính quyền cơ sở với tình hình hoạt động giao thông ở cơ sở
ngày càng phức tạp; bất cập giữa việc phân cấp quản lý về cầu, đường, quản
lý phương tiện giao thông, về xử lý vi phạm…
Quản lý nhà nước bằng pháp luật về TTATGTĐB của chính quyền cơ
sở, nhất là của chính quyền xã, thị trấn được thực hiện trong điều kiện hiểu biết
pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật, trong đó có pháp luật, về TTATGTĐB
của cán bộ, nhân dân ở cơ sở còn rất nhiều hạn chế.
24
Quản lý nhà nước bằng pháp luật về TTATGTĐB của chính quyền cơ
sở chủ yếu là quản lý hoạt động giao thông trên địa bàn, nơi trực tiếp sinh
sống, sản xuất, kinh doanh, học tập, công tác của cán bộ, doanh nghiệp, nhân
dân; nhiều nơi đang trong quá trình đô thị hóa, từ đó tạo ra những yêu cầu,
sức ép và khó khăn rất lớn, trong khi thẩm quyền và năng lực quản lý của cấp
chính quyền này còn rất hạn chế.
1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT VỀ TRẬT TỰ
AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ CỦA CHÍNH QUYỀN CƠ SỞ
1.2.1. Nội dung quản lý nhà nước bằng pháp luật về trật tự an
toàn giao thông đường bộ của chính quyền cơ sở
Nội dung quản lý nhà nước về TTATGTĐB của chính quyền cơ sở
cũng bao gồm việc ban hành các quy định pháp luật về TTATGTĐB, tổ chức
thực hiện và xử lý vi phạm pháp luật về TTATGTĐB. Cơ sở pháp lý trực tiếp
xác định những nội dung quản lý đó của chính quyền cơ sở là các văn bản quy