LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sỹ này là do
chính tôi nghiên cứu và thực hiện. Các thông tin, số
liệu được sử dụng trong luận văn là hoàn toàn trung
thực và chính xác.
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Tên đầy đủ
Amex American Express
ATM
Automated Teller Machine
(Máy rút tiền tự động)
Banknet Công ty cổ phần chuyển mạch tài chính quốc gia Việt Nam
BCEL Ngân hàng thương mại ngoại thương Lào
BIN Bank Identification Number
Cup China Union Pay
ĐƯTM Điểm ứng tiền mặt
ĐVCNT Đơn vị chấp nhận thẻ
EDC
Electric Data Capturer
(Máy thanh toán thẻ tự động)
MSC MasterCard SecureCode
NHNNVN Ngân hàng nhà nước Việt Nam
NHPH Ngân hàng phát hành
NHTMVN Ngân hàng Thương mại Việt Nam
NHTT Ngân hàng thanh toán
PIN Personal Identification Number
POS Point of sales (máy tính tiền cao cấp)
TCTQT Tổ chức thẻ quốc tế
TMCP Thương mại cổ phần
VbV verified by Visa
sự quan tâm thích đáng đến hoạt động quản lý rủi ro trong quá trình kinh doanh thẻ.
Là một cán bộ Trung Tâm Thẻ ngân hàng Ngoại thương, qua thực tiễn công
tác và với mong muốn hoạt động kinh doanh thẻ của Vietcombank ngày càng an
toàn, hiệu quả, tôi đã chọn đề tài : "Quản trị rủi ro trong kinh doanh thẻ tại ngân
hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam" làm đề tài nghiên cứu của
mình.
1
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu gồm các nội dung chính sau:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quản trị rủi ro.
- Phân tích thực trạng quản trị rủi ro trong kinh doanh thẻ tại ngân hàng
Vietcombank để tìm ra những nguyên nhân của các rủi ro ở Vietcombank.
- Đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh thẻ ở
Vietcombank.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
- Quản trị rủi ro trong kinh doanh thẻ tại Vietcombank
* Thời gian nghiên cứu:
- Số liệu thứ cấp thu thập từ năm 2006 đến nay.
- Số liệu sơ cấp thu thập trong năm 2011.
* Phạm vi nghiên cứu: tại các Ngân hàng trên địa bàn Hà Nội và tại Hội sở
chính ngân hàng Vietcombank.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1 Quá trình nghiên cứu
2
4.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp được thu thập từ các Báo cáo thường niên, Bản công bố
thông tin, từ các cơ quan thống kê, tạp chí…và được xử lý trên máy tính. Mục đích
nhằm thu thập các số liệu thực tế về tình hình rủi ro trong phát hành và thanh toán
thẻ từ đó phân tích, đánh giá các rủi ro về thẻ tại Vietcombank.
doanh thẻ tại
Vietcombank
+ Phỏng vấn Giám đốc trung tâm Thẻ: Dự kiến các giải pháp nhằm quản trị
rủi ro về thẻ trong thời gian tới của Vietcombank?
+ Phỏng vấn phụ trách phòng Quản lý rủi ro: Tình hình rủi ro hiện nay tại
Vietcombank? Các giải pháp hiện đang sử dụng để quản trị rủi ro? Đề xuất để hoạt
động quản trị rủi ro ngày càng hiệu quả?
- Lập các phiếu câu hỏi để điều tra công tác quản lý rủi ro tại các ngân hàng:
+ Lập phiếu điều tra khoảng 20 ngân hàng: Bao gồm các ngân hàng trên địa
bàn Hà Nội.
+ Cách phát phiếu: Lập phiếu câu hỏi và đến trực tiếp các ngân hàng đề gửi
phiếu điều tra.
4.4 Phương pháp xử lý số liệu
- Sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh để phân tích dữ liệu.
Các số liệu sau khi được thu thập sẽ được phân tích bằng phần mềm Excel và
SPSS.
- Sử dụng các bảng biểu, sơ đồ, mô hình để phân tích và minh họa.
Trên cơ sở nghiên cứu kỹ các dữ liệu và kết quả phân tích để xác định các
nguyên nhân và đưa ra các giải pháp quản trị rủi ro về thẻ cho ngân hàng.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục,
luận văn bao gồm 3 chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về kinh doanh thẻ và quản trị rủi ro
trong kinh doanh thẻ ngân hàng.
Chương 2: Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro trong kinh doanh thẻ
tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
Chương 3: Giải pháp quản trị rủi ro trong kinh doanh thẻ tại Ngân
hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
4
CHƯƠNG 1
trường thẻ. Thẻ Charge-It đã mở đường cho sự ra đời của thẻ vào năm 1951 do
ngân hàng Franklin National, New York phát hành. Tại đây, khách hàng xin cấp
hạn mức tín dụng và được thẩm định khả năng thanh toán, tình hình tài chính thông
qua hoạt động tín dụng trước đó của họ với ngân hàng. Những khách hàng đủ tiêu
chuẩn sẽ được cấp thẻ để thực hiện giao dịch tại các đại lý chấp nhận thẻ. Các cơ sở
này khi nhận được giao dịch sẽ liên hệ với ngân hàng, nếu được phép chuẩn chi họ
sẽ thực hiện giao dịch và đòi tiền sau đối với ngân hàng. Các chủ thẻ phải trả toàn
bộ dư nợ vào cuối tháng. Năm 1955, hàng loạt thẻ mới như Trip Charge, Golden
Key, Gourmet Club rồi đến Carte Blanche và American Express (1958), JCB (1961)
ra đời. Năm 1960, ngân hàng Bank of America giới thiệu sản phẩm thẻ ngân hàng
của riêng mình, the Bank Americard, và đã đạt được nhiều thành công. Với những
lợi ích của hệ thống thanh toán này, ngày càng có nhiều tổ chức tín dụng tham gia
thanh toán. Nhiều tổ chức phát hành thẻ khác bắt đầu liên kết để cạnh tranh với
Bank of America. Năm 1966, 14 ngân hàng Mỹ liên kết thành tổ chức Interbank
(Interbank Card Association-ICA), một tổ chức mới có khả năng trao đổi thông tin
các giao dịch thẻ tín dụng. Năm 1967, bốn ngân hàng California đổi tên từ
California Bankcard Association thành Western States BankCard Association
(WSBA) và mở rộng mạng lưới thành viên với các tổ chức tài chính khác ở phía tây
nước Mỹ. Sản phẩm thẻ của tổ chức này là Master Charge. Tổ chức này cũng cấp
phép cho Interbank sử dụng tên và thương hiệu Master Charge. Vào cuối thập niên
1960, nhiều tổ chức tài chính đã trở thành thành viên của Master Charge và đủ sức
cạnh tranh với Bank Americard.
Tuy nhiên, để hình thức thanh toán thẻ có thể thu hút được khách hàng cần
phải có một mạng lưới thanh toán lớn, không chỉ trong phạm vi một địa phương,
một quốc gia mà trên phạm vi toàn cầu. Đứng trước đòi hỏi đó, Inter Bank (Master
Charge) và Bank of American (Bank Americard) đã xây dựng một hệ thống các quy
6
tắc, tiêu chuẩn trong xử lý thanh toán thẻ toàn cầu. Năm 1977, Bank Americard trở
thành Visa USA và sau đó trở thành tổ chức thẻ quốc tế Visa. Năm 1979, Master
Charge cũng trở thành một tổ chức thẻ quốc tế lớn khác là Master Card. 4 tổ chức
1.1.2.2 Phân loại thẻ :
Các loại hình về thẻ thanh toán rất đa dạng, phong phú, chúng ta có thể phân
loại thẻ dựa trên các tiêu chí sau:
* Nếu căn cứ theo công nghệ sản xuất chia thành 3 loại: thẻ in nổi, thẻ từ và
thẻ thông minh:
- Thẻ in nổi (Embossed Card ): Là loại thẻ dựa trên kỹ thuật khắc chữ nổi,
trên bề mặt thẻ được khắc nổi các thông tin cần thiết. Ngày nay loại thẻ này ít được
sử dụng vì công nghệ in quá thô sơ, tính bảo mật kém, dễ bị làm giả.
- Thẻ từ (magnetic stripe): là loại thẻ mà các thông tin của chủ thẻ vừa được
dập nổi ở mặt trước của thẻ vừa được mã hoá trong băng từ ở mặt sau của thẻ. Các
thông tin này phải đảm bảo chính xác và khớp với nhau. Đây là loại thẻ phổ thông
nhất thế giới. Nó được ra đời ngay từ ngày đầu của nền tảng của nền công nghiệp
thẻ và đến nay vẫn tỏ ra hữu hiệu. Cùng với kĩ thuật in hình chìm nhiều lớp biểu
tượng và hologram, cộng thêm in ảnh và chữ kí của khách hàng trên thẻ, các Tổ
chức thẻ và các Nhà phát hành thẻ đã làm cho loại thẻ này tăng thêm tính bảo mật
và an toàn trong sử dụng thẻ.
- Thẻ thông minh (Smart card ): Đây là thế hệ mới nhất của thẻ, có đặc tính
bảo mật và an toàn rất cao, dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học, gắn vào thẻ một chip
điện tử có cấu tạo như một máy tính hoàn hảo. Thông thường một tấm thẻ thông
minh được gắn chip điện tử để thay thế cho dải băng từ sau thẻ. Cũng có trường hợp
thẻ thông minh có cả Chip điện tử và băng từ. Chip điện tử độc lập với thẻ và được
gắn trên bề mặt của thẻ, về bản chất gồm 2 loại chip: chip bộ nhớ và chip xử lý dữ
liệu. Trong đó, chip bộ nhớ lưu trữ toàn bộ các thông tin cần thiết có thể cung cấp
cho thẻ trong mỗi lần sử dụng; còn chip xử lý dữ liệu có khả năng bổ sung, xóa bỏ
hoặc điều chỉnh các thông tin trong bộ nhớ. Thẻ thông minh gắn chip xử lý dữ liệu
có khả năng vừa lưu trữ các thông tin về chủ thẻ, điểm thưởng thích lũy đồng thời
8
lưu giữ số liệu về những lần giao dịch tại ĐVCNT. Tính năng vượt trội này của thẻ
thông minh giúp cắt giảm chi phí xử lý đối với ngân hàng và các trung gian thanh
toán bởi việc đối chiếu thông tin tài khoản và thông tin của chủ thẻ cũng như việc
bảo chi trả được xác định dựa trên các tiêu chí như: thu nhập, tình hình chi tiêu, uy
tín, mối quan hệ sẵn có với các tổ chức tài chính, tài sản thế chấp … của khách
hàng. Khi sử dụng thẻ, thay bằng tiền mặt, chủ thẻ xuất trình thẻ của mình tại các
điểm cung ứng hàng hóa dịch vụ có chấp nhận thẻ để thanh toán. Hiện nay các sản
phẩm thẻ tín dụng rất đa dạng:, ví dụ: thẻ tín dụng Visa, Master Card có thẻ Vàng
(Gold) và thẻ Chuẩn (Classic/Standard)…
- Thẻ ghi nợ (debit card): Là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ
trong phạm vi số tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán của chủ thẻ mở tại một tổ
chức cung ứng dịch vụ thanh toán và được phép nhận tiền gửi không kỳ hạn.
Đối với thẻ ghi nợ, giữa ngân hàng và khách hàng không diễn ra quá trình
cho vay tín dụng, không có việc phân loại khách hàng nên mọi khách hàng chỉ cần
có tài khoản tại ngân hàng đều có thể tiếp cận với sản phẩm thẻ ghi nợ của ngân
hàng. Chính vì vậy về mức độ có thể thay thể tiền mặt, thẻ ghi nợ chiếm ưu thế vượt
trội so với thẻ tín dụng.
Thẻ ATM là hình thức phát triển đầu tiên của thẻ ghi nợ, cho phép khách
hàng có thẻ tiếp cận trực tiếp tới tài khoản tại ngân hàng từ máy rút tiền tự động.
Chủ thẻ có thể thực hiện nhiều giao dịch khác nhau tại máy ATM bao gồm: rút tiền,
chuyển khoản, xem số dư tài khoản, in sao kê, xem các thông tin quảng cáo, thanh
toán hóa đơn… Hệ thống ATM hiện đại còn cho phép chủ thẻ gửi tiền vào tài
khoản của mình ngay tại các máy ATM, đổi séc qua máy rút tiền tự động, thực hiện
nộp hồ sơ cho một khoản vay cũng như tự mình thực hiện nhiều dịch vụ ngân hàng
khác. Sự tiện lợi là đặc điểm quan trọng nhất của thẻ ATM. Bằng cách nhập mã các
số PIN, chủ thẻ có thể tiếp cận tài khoản cá nhân của mình tại ngân hàng, mọi nơi,
mọi lúc 24/24h một ngày và 7 ngày trong tuần. Điều này có nghĩa là cùng với số thẻ
ATM, hệ thống ATM đã cung cấp cho khách hàng sử dụng thẻ khả năng giao dịch
10
ngoài giờ làm việc, ngoài trụ sở của ngân hàng và khả năng tự phục vụ (any where,
any time).
Theo thời gian, các tổ chức thẻ đã chủ động kết nối hệ thống ATM với nhau
tạo nên một mạng ATM khu vực, cho phép khách hàng có thể thực hiện giao dịch
Để phát hành thẻ quốc tế, ngân hàng phát hành thẻ phải đăng ký và được chấp nhận
làm thành viên của Tổ chức thẻ quốc tế, tuân thủ chặt chẽ các quy định trong việc
phát hành và thanh toán thẻ do Tổ chức thẻ quốc tế đó ban hành. Có 2 loại thẻ quốc
tế là thẻ ghi nợ quốc tế và thẻ tín dụng quốc tế.
1.1.3 Các chủ thể tham gia hoạt động thẻ:
Hoạt động phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng trong nước có sự
tham gia của 4 thành phần cơ bản là: ngân hàng phát hành thẻ, ngân hàng thanh
toán thẻ, chủ thẻ và các đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT). Đối với thẻ quốc tế còn
thêm một thành phần nữa là các Tổ chức thẻ quốc tế. Mỗi chủ thể đóng vai trò quan
trọng khác nhau trong việc phát huy tối đa tính năng phương tiện thanh toán hiện
đại không dùng tiền mặt của thẻ ngân hàng.
1.1.3.1 Tổ chức thẻ quốc tế:
Tổ chức thẻ quốc tế là Hiệp hội các tổ chức tài chính, tín dụng lớn, có mạng
lưới hoạt động rộng khắp và đạt được sự nổi tiếng với thương hiệu và các loạt sản
phẩm đa dạng, ví dụ tổ chức thẻ Visa, tổ chức thẻ MasterCard, công ty thẻ
American Express, công ty thẻ JCB, công ty Diners Club, công ty Mondex … Tổ
chức thẻ quốc tế là đơn vị đầu não, quản lý và đưa ra những quy định cơ bản về
hoạt động phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ, đóng vai trò trung gian giữa các tổ
chức và các công ty thành viên trong việc điều chỉnh và cân đối các lượng tiền
thanh toán giữa các công ty thành viên.
1.1.3.2 Ngân hàng phát hành
Ngân hàng phát hành là thành viên chính thức của các Tổ chức thẻ quốc tế,
là ngân hàng tự mình phát hành thẻ mang thương hiệu riêng hoặc được tổ chức thẻ
quốc tế, công ty thẻ trao quyền phát hành thẻ mang thương hiệu của những tổ chức
và công ty này. Ngân hàng phát hành chịu trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ xin cấp thẻ,
12
xử lý và phát hành thẻ, mở và quản lý tài khoản thẻ, đồng thời thực hiện việc thanh
toán cuối cùng với chủ thẻ.
Ngân hàng phát hành có quyền ký kết hợp đồng đại lý với bên thứ ba là một
ngân hàng hoặc một tổ chức tài chính tín dụng khác trong việc thanh toán và phát
trách nhiệm thanh toán các khoản phát sinh trong kỳ nhưng chủ thẻ chính là người
có trách nhiệm thanh toán cuối cùng đối với ngân hàng. Chủ thẻ sử dụng thẻ của
mình để thanh toán hàng hoá, dịch vụ tại các đơn vị cung ứng hàng hoá, dịch vụ có
chấp nhận thẻ ( ĐVCNT), các điểm ứng tiền mặt thuộc hệ thống ngân hàng hoặc sử
dụng thẻ để thực hiện các giao dịch tại máy rút tiền tự động. Đối với thẻ tín dụng,
sau một khoảng thời gian nhất định tuỳ theo quy định của từng ngân hàng phát
hành, chủ thẻ sẽ nhận được sao kê (statement) thông báo chi tiết các giao dịch chi
tiêu sử dụng thẻ của chủ thẻ trong kỳ sao kê, số dư nợ cuối kỳ, ngày đến hạn thanh
toán cũng như số tiền thanh toán tối thiểu mà khách hàng phải thanh toán trong kỳ
cho ngân hàng và các thông báo liên quan đến việc sử dụng thẻ. Căn cứ vào các
thông tin trên sao kê, nếu không có gì thắc mắc chủ thẻ sẽ thực hiện việc thanh toán
sao kê cho ngân hàng phát hành thẻ, ngược lại chủ thẻ có quyền khiếu nại đối với
các thông tin, các giao dịch không chính xác hoặc không thực hiện gửi tới ngân
hàng yêu cầu được giải đáp.
1.1.3.5 Đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT)
Là các thành phần kinh doanh hàng hoá và dịch vụ có ký kết với Ngân hàng
thanh toán về việc chấp nhận thanh toán thẻ như: nhà hàng, khách sạn, cửa hàng
Các đơn vị này phải trang bị máy móc kỹ thuật để tiếp nhận thẻ thanh toán tiền mua
hàng hoá, dịch vụ, trả nợ thay cho tiền mặt.
Để trở thành ĐVCNT của một ngân hàng nhất thiết đơn vị đó phải có tình
hình tài chính tốt và có năng lực kinh doanh. Cũng như các ngân hàng phát hành
thẩm định khách hàng trước khi phát hành thẻ, ngân hàng thanh toán cũng tiến hành
đánh giá lựa chọn ĐVCNT. Chỉ có những đơn vị có hiệu quả kinh doanh cao, có
khả năng thu hút được nhiều giao dịch thanh toán thẻ thì ngân hàng mới có thể thu
hồi được vốn đầu tư cho các đơn vị đó và có lãi.
14
1.1.4 Các hoạt động kinh doanh thẻ tại NHTM
1.1.4.1 Hoạt động phát hành thẻ
Hoạt động phát hành thẻ của ngân hàng bao gồm các việc quản lý và triển
khai toàn bộ quá trình phát hành thẻ, sử dụng thẻ và thu nợ khách hàng. Cả ba quá
nghĩa rất quan trọng.
Hiện nay, hoạt động thanh toán trên thị trường thẻ thế giới đã phát triển ở
mức độ rất cao với hàng trăm nghìn ĐVCNT tại hơn 200 quốc gia, chấp nhận thẻ
mang các thương hiệu nổi tiếng thế giới như Visa, MasterCard, Diners Club,
American Express, JCB và nhiều loại thẻ ngân hàng quốc tế và nội địa khác. Tại
Việt Nam, tuy thẻ ngân hàng còn là mới mẻ nhưng nhằm đáp ứng nhu cầu thanh
toán của một lượng lớn khách nước ngoài cũng như thị trường nội địa ngày càng
phát triển, số lượng các ngân hàng thanh toán thẻ tính tới năm 2010 đạt khoảng 49
ngân hàng với mạng lưới hơn 50.000 ĐVCNT trên toàn quốc. Hoạt động thanh toán
thẻ của các ngân hàng chủ yếu là:
- Xây dựng và quản lý hệ thống thông tin khách hàng ĐVCNT
- Quản lý hoạt động của mạng lưới ĐVCNT
- Tổ chức thanh toán các giao dịch sử dụng thẻ cho các ĐVCNT
- Cung cấp dịch vụ khách hàng
- Tổ chức tập huấn kiến thức thanh toán thẻ cho nhân viên các ĐVCNT
- Cung cấp trang thiết bị, vật tư phục vụ cho công tác thanh toán thẻ.
1.1.4.3 Hoạt động quản lý rủi ro và tra soát khiếu nại
Hoạt động kinh doanh thẻ phải đối mặt với khá nhiều loại rủi ro khác nhau
như: thực hiện giao dịch giả mạo, việc các tổ chức, cá nhân cố ý sử dụng thẻ một
cách không hợp pháp, các ĐVCNT không tuân thủ quy trình đã được hướng dẫn,
cung cấp các thông tin về thẻ cho bên thứ ba hoặc việc các ĐVCNT không thông
báo việc chấm dứt hoạt động kinh doanh trong khi vẫn còn nợ tiền ngân hàng …
Tất cả những hành vi trên đều gây ra những rủi ro và tổn thất đối với ngân hàng.
16
Chính vì vậy, một trong những lĩnh vực quan trọng của kinh doanh thẻ ngân hàng là
hoạt động quản lý rủi ro. Các ngân hàng sẽ xây dựng một bộ phận quản lý rủi ro
nhằm kiểm soát, hạn chế rủi ro và giải quyết các tra soát khiếu nại liên quan đến rủi
ro về thẻ.
Bộ phận quản lý rủi ro tại các ngân hàng có kinh doanh thẻ được coi là bộ
phận xương sống (backbone) trong hoạt động thẻ, thực hiện các chức năng:
hàng lâu dài của ngân hàng.
Trên thực tế, marketing và dịch vụ khách hàng trong kinh doanh thẻ bao gồm
các hoạt động như:
- Tiếp xúc với các khách hàng là cá nhân, doanh nghiệp có tiềm năng sử
dụng thẻ, thuyết phục họ ký kết hợp đồng sử dụng thẻ thông qua những tiện ích của
thẻ ngân hàng nói chung và các ưu thế, những dịch vụ mà ngân hàng cung cấp.
- Duy trì mối liên hệ với chủ thẻ, khuyến khích tiêu dùng thẻ của chủ thẻ
thông qua việc xây dựng các chương trình khuyến mại, điểm thưởng …
- Tiếp xúc với các đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch vụ có tiềm năng cho hoạt
động thẻ, thuyết phục họ ký kết hợp đồng chấp nhận thanh toán thẻ thông qua
những lợi ích về thẻ ngân hàng và các ưu thế của các ngân hàng riêng biệt.
- Cung cấp dịch vụ cho các ĐVCNT như: lắp đặt các thiết bị đọc thẻ, hướng
dẫn quy trình nghiệp vụ, thao tác cần thiết cho hoạt động chấp nhận thẻ, tiếp nhận
những yêu cầu về duy trì, bảo dưỡng máy móc thiết bị từ ĐVCNT.
- Tiến hành việc quảng cáo cho các ĐVCNT nói chung hoặc các ĐVCNT
tiềm năng cùng với chương trình quảng cáo, khuếch trương thẻ.
- Nâng cao tính trung thành của các ĐVCNT bằng cách xếp hạng, tính điểm
phục vụ hoặc lượng giá trị giao dịch tại đơn vị để từ đó có thể giảm phí chiết khấu …
Tuy nhiên, yếu tố quan trọng và đóng vai trò quyết định trong hoạt động
marketing chính là con người. Các cán bộ marketing đòi hỏi vừa vững kiến thức về
thẻ, vừa nắm rõ thị trường, nhanh nhạy, linh hoạt với các thông tin và có khả năng
nghiệp vụ marketing.
18
1.2 Rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ:
1.2.1 Khái niệm về rủi ro
Rủi ro gắn liền vớí khả năng xảy ra của 1 biến cố ko lường trước đó là biến cố mà
hoàn toàn ko chắc chắn
Quản trị rủi ro trong kinh doanh là một quán trình bao gồm các hoạt động
nhằm nhận diện, xác định mức độ ưu tiên xử lý các rủi ro, áp dụng các nguồn lực để
hạn chế, loại bỏ các rủi ro hoặc khắc phục các hậu quả mà rủi ro gây ra đối với hoạt
h ö ô ûn g c u ûa r u ûi r o
T h ô øi ñ i e åm x a ûy r a r u ûi r o
P h a ân l o a ïi r u ûi r o
S a ép x e áp r u ûi r o
t h e o ñ o ä ö u t i e ân
C a ùc y e áu t o á ñ a àu v a øo
K h a ûo s a ùt r u ûi r o K i e åm s o a ùt r u ûi r o
N h a än d i e än r u ûi r o
P h a ân t í c h r u ûi r o
X a ùc ñ ò n h r u ûi r o
C a ùc c h i e án l ö ô ïc ñ o ái
p h o ù r u ûi r o
K i e åm s o a ùt v a ø ñ o
l ö ô øn g
M u ïc
t i e âu
Nguồn: Putting Risk Management into Practice của
Software Engineering Íntitute
Hình 1.2: Trình tự các bước trong quy trình quản lý rủi ro
Quá trình quản trị rủi ro có thể được khái quát qua 5 bước sau:
Bước 1: Nhận diện rủi ro: là việc sử dụng các kỹ thuật như xem xét tài liệu,
hỏi ý kiến chuyên gia… nhằm xác định các khả năng có thể phát sinh rủi ro từ đó
nhận diện các rủi ro có thể xảy ra.
Bước 2: Phân tích rủi ro: là phân tích tất cả những rủi ro trong danh sách các
rủi ro, đánh giá khả năng xảy ra và tác động dự kiến của các rủi ro, để xác định
những rủi ro hàng đầu cần phải được quản lý.
Bước 3: Xác định rủi ro: là việc sắp xếp rủi ro theo các mức độ ưu tiên
Bước 4: Kiểm soát rủi ro: là việc lựa chọn chiến lược và phương pháp đối
phó rủi ro.
Bước 5: Giám sát và điều chỉnh: Bao gồm hoạt động giám sát để đảm bảo
thường liên quan đến tội phạm có tổ chức (vì yêu cầu công nghệ cao hơn). Các giao
dịch giả mạo được thực hiện từ thẻ giả khó phát hiện và có thể được NHPH hoặc Tổ
21