Khóa luận: : GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TRONG KINH DOANH THẺ CỦA NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN THƯƠNG TÍN - Pdf 28

ĐỀ TÀI: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TRONG KINH DOANH THẺ CỦA
NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN THƯƠNG TÍN
Sinh viên: Lê Thuỳ Nhung
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân xuất phát từ yêu
cầu nghiên cứu khoá luận. Các số liệu có nguồn gốc rõ ràng, tuân thủ đúng nguyên tắc,
kết quả trình bày trong khoá luận là trung thực, không sao chép từ bất cứ nguồn nào
khác. Những thông tin tham khảo trong khoá luận đều được trích dẫn cụ thể nguồn sử
dụng.
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Lê Thùy Nhung
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài khoá luận tốt nghiệp cũng như trải qua bốn năm học tập tại
trường Học viện Ngân hàng, em đã may mắn nhận được sự giúp đỡ, sự chỉ dạy tận tình
cùng những kinh nghiệm quý báu từ các thầy cô khoa Ngân hàng nói riêng và các cán
bộ giảng viên trường Học viện Ngân hàng nói chung. Nhờ vào sự hướng dẫn nhiệt tình
Sinh viên: Lê Thuỳ Nhung
của các thầy cô và những kiến thức thực tế có được trong thời gian thực tập tại Ngân
hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín, em đã hoàn thành bài khoá luận tốt nghiệp này.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám đốc cùng quý thầy cô trường Học
viện Ngân hàng đã tạo cho em một môi trường học tập tích cực và bổ ích trong suốt
bốn năm học vừa qua.
Em xin chân thành cảm ơn các cán bộ giảng viên khoa Ngân hàng, đặc biệt là thầy
PGS.TS Lê Văn Luyện đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện
khoá luận tốt nghiệp.
Với sự giúp đỡ của thầy cô cùng nỗ lực của bản thân, em đã hoàn thành bài khoá
luận tốt nghiệp này. Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian cũng như hiểu biết, khoá luận
không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý của giáo viên
hướng dẫn và các thầy cô để khoá luận tốt nghiệp hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên: Lê Thuỳ Nhung
Bảng 2.3
Tình hình sử dụng thẻ tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín
giai đoạn 2012 – 2014
Bảng 2.4
Giả mạo theo sản phẩm thẻ của Sacombank phát hành giai đoạn 2012
- 2014
Bảng 2.5 Giả mạo thẻ family do Sacombank phát hành giai đoạn 2012 - 2014
Sơ đồ 2.1
Quy trình phát hành thẻ tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín
Sơ đồ 2.2 Sơ đồ quy trình thanh toán thẻ cúa Sacombank
Sơ đồ 2.3 Mô hình quản trị rủi ro tại Sacombank
Biểu đồ 2.1
Tỷ lệ doanh số thanh toán qua thẻ của Ngân hàng TMCP Sài Gòn
Thương Tín từ năm 2012 - 2014
Biểu đồ 2.2
Biểu đồ thể hiện tốc độ tăng trưởng về thẻ và các điểm chấp nhận thẻ
các năm 2012, 2013, 2014 so với năm 2011
Biểu đồ 2.3
Biểu đồ thể hiện tỷ trọng khoản thu dịch vụ từ thẻ qua các năm
2012,2013,2014
Biểu đồ 2.4
Giả mạo trong lĩnh vực thanh toán thẻ của Sacombank năm 2012 -
2014
MỤC LỤC
Sinh viên: Lê Thuỳ Nhung
6
LỜI MỞ ĐẦU
1- Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế toàn cầu hóa với nhiều thời cơ và thách thức đan xen, để có thể vượt

2- Mục đích nghiên cứu:
- Hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về quản lý rủi ro trong
hoạt động kinh doanh thẻ của NHTM
- Nghiên cứu thực trạng rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ của Ngân
hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín, chỉ ra những thành công, những hạn
chế và nguyên nhân của hiện trạng để làm cơ sở cho đề xuất các giải
pháp.
- Đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong kinh doanh thẻ của
Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín.
3- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong giới hạn đề tài, đối tượng chính của luận văn những rủi ro và hoạt động
quản lý rủi ro trong kinh doanh dịch vụ thẻ của Ngân hàng NHTM.
Phạm vi nghiên cứu gồm các lĩnh vực có liên quan đến hoạt động kinh
doanh thẻ và quản lý rủi ro trong kinh doanh thẻ tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn
Thương Tín từ năm 2012 đến 2014.
4- Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp thống kê, phân tích
và tổng hợp: Tiếp cận thực tế, thu thập thông tin, số liệu để so sánh, đối chiếu,
phân tích, đánh giá, đồng thời vận dụng kiến thức của các môn học về kinh tế,
tài chính ngân hàng và tranh thủ những kinh nghiệm của những cán bộ làm
thực tiễn trên lĩnh vực dịch vụ thẻ ngân hàng để phát hiện và đề xuất giải pháp
giải quyết những vấn đề đặt ra trong đề tài.
5. Kết cấu luận văn.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu trong ba chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về thẻ và các rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ
của NHTM
Sinh viên: Lê Thuỳ Nhung
8
Chương 2: Thực trạng về kinh doanh thẻ và rủi ro trong kinh doanh thẻ tại Ngân hàng
TMCP Sài Gòn Thương Tín

Sinh viên: Lê Thuỳ Nhung
9
mở rộng, quay vòng vốn cho vay thì các tổ chức này mới có khả năng cung cấp cho
khách hàng những khoản vay miễn lãi trong một thời gian tương đối. Vào năm 1914,
tổ chức chuyển tiền Western Union của Mỹ lần đầu tiên cung cấp cho các khách hàng
đặc biệt của mình dịch vụ thanh toán trả chậm. Công ty này phát hành những tấm kim
loại có chứa các thông tin in nổi thực hiện 2 chức năng: giúp nhận diện và phân biệt
khách hàng.; cung cấp và cập nhật dữ liệu về khách hàng, bao gồm các thông tin về tài
khoản và thông tin về giao dịch thực hiện. Các tổ chức khác dần nhận ra những giá trị
của loại hình dịch vụ nói trên của Western Union và chỉ trong một vài năm sau đó, rất
nhiều đơn vị như nhà ga, khách sạn cũng như các cửa hàng trên khắp nước Mỹ đã lựa
chọn cung cấp dịch vụ trả chậm cho khách hàng của mình theo phương thức của
Western Union. Trong đó, Tập đoàn xăng dầu của Mỹ cho ra đời tấm thẻ mua xăng
đầu tiên vào năm 1924, cho phép người dân sử dụng thẻ này để mua xăng, dầu tại các
cửa hàng trên toàn quốc.
Tiếp theo những tổ chức cung cấp hàng hóa, dịch vụ, các ngân hàng chính thức
bước vào thị trường thẻ với mục tiêu nhanh chóng nhân rộng hình thức thanh toán này
dựa trên mối quan hệ sẵn có giữa các đơn vị cung cấp hàng hóa, dịch vụ trên cả nước
với hệ thống đại lý rộng khắp của ngân hàng. Với tốc độ tăng trưởng rất nhanh và
trước những khoản lợi dễ dàng như vậy, chỉ một vài năm sau đó, hơn 100 ngân hàng
khác nhau trên nước Mỹ cùng thực hiện ý tưởng phát hành thẻ thanh toán trả chậm,
sau này gọi là thẻ tín dụng. Tuy nhiên, bởi việc phát triển sản phẩm quá nhanh, ồ ạt và
không đa dạng hóa sản phẩm bằng những tiện ích đầy đủ như thẻ tín dụng hiện giờ nên
nhiều ngân hàng cũng như các tổ chức tài chính khác đã gặp những bài học đắt giá và
buộc phải xem lại chiến lược kinh doanh của mình.
Vào năm 1950, Diners Club phát hành tấm thẻ tín dụng đầu tiên, được làm bằng
chất liệu plastic. Sau này Frank McNamara, người sáng lập Diners Club, kể lại là ông
đã từng trải qua một trường hợp hết sức lúng túng khi ông ở một cửa hiệu ở New York
nhưng quên mang theo ví. Chính việc cam kết phải thanh toán sau đã gợi lên một ý
tưởng kinh doanh thẻ đối với Frank McNamara. Sau Diners Club, vào năm 1958, công

thị trường Đông Á này. Như vậy, thẻ ngân hàng ra đời từ nhu cầu thanh toán và phát
triển dựa trên nền tảng công nghệ cũng như chiến lược thay thế tiền mặt trong lưu
thông. Thực tế cho thấy, thẻ ngân hàng là một phát triển tất yếu trong lĩnh vực tài
chính ngân hàng đồng thời đã và đang phản ánh đầy đủ những tiến bộ của khoa học kỹ
thuật và văn minh xã hội. Tiếp thu và ứng dụng những thành tựu của thế giới về khoa
học kỹ thuật, nhất là về công nghệ thông tin, hệ thống thẻ ngày càng hoàn thiện. Cùng
với mạng lưới thành viên và khách hàng phát triển hàng ngày, các Tổ chức thẻ quốc tế
Sinh viên: Lê Thuỳ Nhung
11
đã xây dựng hệ thống xử lý giao dịch và trao đổi thông tin toàn cầu về phát hành,
thanh toán, cấp phép, tra soát, khiếu kiện và quản lý rủi ro. Với doanh số giao dịch
hàng trăm tỷ Đô la Mỹ mỗi năm, thẻ ngân hàng đang cạnh tranh quyết liệt cùng tiền
mặt và séc trong hệ thống thanh toán toàn cầu. Đây là một thành công đáng kể đối với
một ngành kinh doanh mới chỉ có vài thập kỷ hình thành và phát triển
 Tình hình phát triển thị trường thẻ tại Việt Nam
Trong khi thị trưởng thẻ trên thế giới đã sớm hình thành từ đầu thế kỷ 20, thì đến
những năm đầu thế kỷ 21 – khi Việt Nam bắt đầu mở cửa, hội nhập quốc tế, số lượng
khách du lịch tăng lên thì nhu cầu sử dụng thẻ là tất yếu, thị trường thẻ tại Việt Nam
bước đầu hình thành.
• Năm 1990, hợp đồng đại lý chi trả thẻ Visa giữa ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
với ngân hàng Pháp BFCE đã mở đầu quá trình hình thành thị trường thanh toán thẻ ở
Việt Nam.
• Đến năm 1991, Vietcombank tiếp tục ký hợp đồng đại lý thanh toán thẻ Mastercard
với công ty thẻ MBF Malaysia. Cũng trong năm 1991, thẻ JCB của Nhật cũng được
chấp nhận thanh toán ở Việt Nam theo hợp đồng đại lý ký kết giữa Vietcombank và
công ty JCB International Co Ltd của Nhật.
• Mục tiêu phát hành thẻ là định hướng được đặt ra của ngành ngân hàng Việt Nam.
Chính vì vậy, năm 1993, Vietcombank tiên phong thí điểm phát hành thẻ nội địa
Vietcombank Card.
• Ngay sau khi Mỹ bãi bỏ cấm vận đối với Việt Nam năm 1994, Vietcombank đã ký hợp

với số lượng trên 77,3 triệu thẻ đã được phát hành, gần 15.900 máy ATM và hơn
164.000 POS/EDC. Trước sự phát triển nhanh chóng của thị trường thẻ tại Việt Nam,
quyết định số 20/2007/QĐ – NHNN đã không còn phù hợp. Vì vậy, NHNN đã xây
dựng dự thảo Thông tư quy định về hoạt động thẻ ngân hàng (dự thảo Thông tư) để
thay thế Quyết định 20. NHNN cũng muốn tạo hành lang pháp lý đầy đủ và toàn diện.
Đối tượng và phạm vi điều chỉnh phải bao hàm đầy đủ các hoạt động và chủ thể tham
gia trên thị trường thẻ, tạo dựng được một môi trường cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy
việc sử dụng thẻ trong thanh toán không dùng tiền mặt.
• Thời gian đầu mới hình thành, thị trường thẻ Việt Nam được đánh giá là phát triển rời
rạc do mỗi ngân hàng tự đầu tư hệ thống ATM và người sử dụng phải chạy tìm đúng
máy ATM của ngân hàng phát hành thẻ mới có thể rút tiền được. Hạn chế này được
khắc phục một phần sau khi bốn liên minh thẻ được thành lập, trong đó liên minh lớn
nhất do Vietcombank chủ trì với 17 ngân hàng khác (Smartlink). Ba liên minh còn lại
là Công ty cổ phần Chuyển mạch tài chính quốc gia (gọi tắt là Banknetvn do Ngân
Sinh viên: Lê Thuỳ Nhung
13
hàng Nhà nước chỉ định Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm trung
tâm kết nối); liên minh VNBC giữa Ngân hàng Đông Á, Sài Gòn Công thương, Ngân
hàng Phát triển nhà ĐBSCL (MHB) và Ngân hàng Nhà Hà Nội (HBB) và liên minh
giữa Ngân hàng Sacombank và ANZ. Cho đến năm 2014, chỉ còn lại 2 liên minh thẻ là
Smartlink và Banknetvn ( do liên minh VNBC sáp nhập vào Banknetvn; Sacombank
và ANZ đã chấm dứt hợp tác sau khi ANZ thoái vốn tại Sacombank vào năm 2012).
• Vào ngày 25/12/2014, hai liên minh thẻ Smartlink và Banknetvn chính thức ký kết hợp
đồng sáp nhập nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, giảm chi phí xã hội, cải thiện chất
lượng dịch vụ, phát triển đa dạng hóa các dịch vụ giá trị gia tăng trên nền tảng hệ
thống chuyển mạch thống nhất
Qua đây, có thể thấy được rằng: mặc dù Việt Nam tham gia vào thị trường thẻ
muộn hơn so với thế giới nhưng hoạt động kinh doanh thẻ không ngừng phát triển theo
hướng đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ, nâng cao chất lượng thẻ, công nghệ kỹ thuật,
đem lại nhiều tiệc ích, tiệt kiệm thời gian, chi phí cho khách hàng cũng như cho nền

thẻ không phải thanh toán toàn bộ số dư trên bảng sao kê giao dịch hằng tháng. Tuy
nhiên, Chủ thẻ phải trả khoản thanh toán tối thiểu trước ngày đáo hạn đã ghi rõ trên
bảng sao kê. Thẻ tín dụng khác với thẻ ghi nợ vì tiền không bị trừ trực tiếp vào tài
khoản tiền gửi của chủ thẻ ngay sau mỗi lần mua hàng hoặc rút tiền mặt.
Khi mua sắm, người dùng thẻ cam kết sẽ trả tiền cho nhà phát hành thẻ. Chủ thẻ
thể hiện cam kết này bằng cách ký tên lên hóa đơn có ghi chi tiết của thẻ cùng với số
tiền, hoặc bằng cách nhập một mật mã cá nhân (PIN). Ngoài ra nhiều điểm bán hàng
cũng chấp nhận cách thức xác minh qua điện thoại hoặc xác minh qua internet cho
những giao dịch được gọi là giao dịch vắng thẻ hoặc vắng chủ thẻ (CNP -
Card/Cardholder Not Present).
Chủ thẻ cũng có thể rút tiền mặt từ tài khoản thẻ tín dụng (tiền mặt ứng trước)
nếu muốn
Người ta sử dụng nhiều hệ thống điện tử để xác minh trong vòng vài giây tính
hợp lệ của thẻ cũng như kiểm tra xem hạn mức tín dụng của thẻ còn đủ chi trả cho lần
mua sắm đó không. Việc xác minh được thực hiện bằng một đầu đọc thẻ (POS - Point
of Sale) kết nối vào ngân hàng thu nhận (acquiring bank) của người bán hàng.
 Thẻ trả trước
Thẻ trả trước cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch trong phạm vi giá trị tiền được
nạp vào thẻ, tương ứng với số tiền mà chủ thẻ đã trả trước cho tổ chức phát hành thẻ.
Chủ thẻ trả trước không nhất thiết phải có quan hệ tài khoản với ngân hàng. Thẻ trả
trước gồm có thẻ trả trước định danh và thẻ trả trước vô danh.
Thẻ trả trước có một số tiện ích như:
 Thực hiện thanh toán trực tiếp, online hoặc qua điện thoại.
Sinh viên: Lê Thuỳ Nhung
15
 Tặng thẻ làm quà tặng cho bạn bè và gia đình.
 Rút tiền mặt từ máy ATM hoặc ngân hàng.
 Chuyển lương vào thẻ.
 Thanh toán hóa đơn.
1.1.2.2- Phân loại thẻ theo phạm vi sử dụng

- Thẻ thông minh (smart card - thẻ chip): thẻ được sản xuất dựa trên kỹ thuật vi
xử lý nhờ gắn một chíp điện tử theo nguyên tắc xử lý như một máy tính nhỏ. Đây là
thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán, nó khắc phục nhiều nhược điểm của thẻ từ, đảm
bảo tính an toàn cao.
1.1.3- Quy trình phát hành và thanh toán thẻ
1.1.3.1- Quy trình phát hành thẻ
Quy trình phát hành thẻ ngân hành bao gồm các bước như sau:
a- Nhận hồ sơ
 Đối với thẻ ghi nợ
- Phiếu đăng ký thông tin khách hàng (chỉ một số ngân hàng yêu cầu)
- Giấy đề nghị cấp thẻ theo mẫu của từng ngân hàng
- Bản sao chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu
- Số tiền tối thiểu để duy trì trong tài khoản
 Đối với thẻ tín dụng
- Phiếu đăng ký thông tin khách hàng
- Giấy đề nghị cấp thẻ và hợp đồng sử dụng theo mẫu của ngân hàng
- Bản sao chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu
b- Thẩm định hồ sơ
 Đối với thẻ ghi nợ: không cần thẩm định hồ sơ
 Đối với thẻ tín dụng:
• Phòng giao dịch/ Các chi nhánh tiến hành lập tờ trình thẩm định cấp thẻ tín
dụng và trình tại Ban tín dụng của Chi nhánh đó.
• Nội dung thẩm định như sau:
- Tư cách chủ thẻ ( đối với thẻ cá nhân), tư cách doanh nghiệp ( đối với thẻ doanh
nghiệp)
- Khả năng thánh toán của chủ thẻ hoặc doanh nghiệp
- Tiềm lực tài chính của chủ thẻ hoặc doanh nghiệp
- Tài sản đảm bảo
- Các yếu tố ảnh hưởng khác
c- Sau khi có kết quả thẩm định

 Đối chiếu số tiền thanh toán với hạn mức thanh toán
 Kiểm tra chứng minh nhân dân, hộ chiếu của người cầm thẻ để xác định
xem đó có phải là chủ thẻ không
• Nếu thẻ đầy đủ thanh toán, đơn vị chấp nhận thẻ lập hóa đơn thanh toán,
yêu cầu chủ thẻ ký trên hóa đơn và đối chiếu với chữ ký trên thẻ ( nếu có
). Hóa đơn thanh toán được lập 3 liên, sử dụng như sau:
 1 liên đưa cho chủ thẻ
 1 liên lưu tại đơn vị chấp nhận thẻ
 1 liên cùng với các hóa đơn thanh toán gửi cho ngân hàng thanh toán để
tiến hành thanh toán thẻ
 Tại ngân hàng thanh toán thẻ:
• Nhận được bảng kê kèm các hóa đơn thanh toán của đơn vị chấp nhận
thẻ gửi đến.
• Sau khi kiểm tra các điều kiện thanh toán, ngân hàng tiến hành thanh
toán cho đơn vị chấp nhận thẻ
• Việc thanh toán giữa ngân hàng phát hành thẻ và ngân hàng thanh toán
thẻ về số tiền thanh toán cho đơn vị chấp nhận thẻ phải theo thỏa thuận
giữa 2 bên qua phương thức thanh toán giữa các ngân hàng
1.2- Rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng
1.2.1- Khái niệm về rủi ro trong kinh doanh thẻ của NHTM
Rủi ro trong hoạt động thẻ là các tổn thất về vật chất hoặc phi vật chất có liên
quan tới hoạt động kinh doanh thẻ, bao gồm hoạt động phát hành, sử dụng và thanh
Sinh viên: Lê Thuỳ Nhung
18
toán thẻ. Đối tượng chịu rủi ro là ngân hàng, chủ thẻ và đơn vị chấp nhận thẻ.
1.2.2- Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ
1.2.2.1- Xem xét rủi ro từ góc độ tổng quát chung: có thể xảy ra do những rủi ro sau:
• Rủi ro về môi trường pháp lý: trong hoạt động kinh doanh thẻ, quá trình thực hiện giao
dịch đôi khi có liên quan đến các chủ thể nước ngoài; do vậy có một số vấn đề không
những bị điều chỉnh bởi luật pháp trong nước mà còn có thể bị điều chỉnh bởi pháp

dụng cho NHPH khi chủ thẻ không có đủ khả năng thanh toán các khoản tín dụng thẻ
hoặc chủ thẻ cố tình lừa đảo để chiếm dụng tiền của ngân hàng.
• Thẻ giả: là loại rủi ro lớn nhất và nguy hiểm nhất hiện nay mà tất cả các tổ chức thẻ rất
quan tâm. Tội phạm làm thẻ giả dựa trên các thông tin lấy được qua việc đánh cắp các
dữ liệu của thẻ thật bằng các thủ đoạn khác nhau từ các chứng từ giao dịch thẻ hoặc từ
thẻ bị mất cắp, thất lạc. Theo quy định của tổ chức thẻ quốc tế, NHPH chịu hoàn toàn
trách nhiệm với mọi giao dịch mang mã số của NHPH, nên buộc các NHPH phải có
những biện pháp bảo mật thông tin trên thẻ cũng như các ràng buộc kiểm tra khi chấp
nhận thanh toán thẻ.
• Thẻ mất cắp, thất lạc: Thẻ bị mất cắp hoặc thất lạc và bị sử dụng trước khi chủ thẻ kịp
thời thông báo cho NHPH để có các biện pháp chấm dứt sử dụng hoặc thu hồi thẻ. Thẻ
bị mất cắp, thất lạc cũng có thể bị bọn tội phạm sử dụng làm thẻ giả (như dập nổi, mã
hóa lại băng từ bằng các thông tin giả mạo). Cần cảnh giác với những trường hợp chủ
thẻ cố tình gian lận, báo mất thẻ và sau đó sử dụng thẻ.
• Rủi ro do sử dụng vượt hạn mức (sử dụng nhiều lần dưới mức cấp phép): rủi ro xảy ra
cho NHPH khi chủ thẻ lợi dụng quy định về hạn mức cấp phép. Chủ thẻ cố tình sử
dụng nhiều lần các giao dịch dưới hạn mức phải xin cấp phép, và dẫn đến tổng số sử
dụng vượt trội rất nhiều so với hạn mức được cấp. NHPH chỉ phát hiện khi tổng kết
các hóa đơn quay về ngân hàng hoặc khi in sao kê thanh toán. Rủi ro hoàn toàn xảy ra
khi chủ thẻ không đủ khả năng thanh toán.
• Rủi ro do lợi dụng tính chất thanh toán và quy định sử dụng thẻ để lừa gạt ngân hàng:
chủ thẻ thông đồng với người khác, giao thẻ và mã số PIN cho người đó mang đi sử
dụng ở nước ngoài bằng chữ ký giả mạo của chủ thẻ; sau đó từ chối thanh toán khi bị
NHPH đòi tiền vì chủ thẻ đã đưa ra bằng chứng hợp lý tại thời điểm đó chủ thẻ không
có mặt tại nơi xảy ra giao dịch.
• Chủ thẻ không nhận được thẻ do NHPH gửi: Thẻ bị đánh cắp hoặc bị lợi dụng thực
hiện giao dịch trong quá trình chuyển từ NHPH đến chủ thẻ. Thẻ bị sử dụng trong khi
chủ thẻ đích thực không hay biết gì về việc thẻ đã gửi cho mình. NHPH chịu mọi rủi
ro đối với các giao dịch bị lợi dụng đó.
• Tài khoản của chủ thẻ bị lợi dụng: Rủi ro này phát sinh khi NHPH nhận được những

 Rủi ro đối với ĐVCNT:
• Các giao dịch giả mạo thực hiện thanh toán qua thư, điện thoại, Internet: Các ĐVCNT
cung cấp hàng hóa, dịch vụ theo yêu cầu bằng thư, điện thoại, fax của chủ thẻ, dựa trên
các thông tin giả mạo như loại thẻ, số thẻ, tên chủ thẻ, ngày hiệu lực. Đặc biệt, khi
công nghệ Internet phát triển, thương mại điện tử đã trở thành phổ biến thì rủi ro này
rất dễ xảy ra. ĐVCNT cũng như NHTT có thể chịu tổn thất trong trường hợp chủ thẻ
thực không phải là khách đặt mua hàng của ĐVCNT và giao dịch đó bị từ chối thanh
Sinh viên: Lê Thuỳ Nhung
21
toán.
• ĐVCNT thanh toán vượt hạn mức giao dịch không xin cấp phép, bị NHTT từ chối
toàn bộ giá trị giao dịch. Một số ĐVCNT quan niệm sai cho rằng mình chỉ chịu trách
nhiệm ở phần vượt hạn mức nên đã thanh toán nhiều giao dịch vượt hạn mức với tỷ lệ
nhỏ. Thực tế NHTT sẽ từ chối toàn bộ giao dịch chứ không phải chỉ từ chối phấn vượt
mà thôi.
• ĐVCNT vô tình hay cố ý chấp nhận thẻ giả mạo, thẻ hết hiệu lực, mất cắp, thất lạc
hoặc các trường hợp skimming,…
• ĐVCNT sửa chữa hóa đơn: theo qui định, khi thực hiện giao dịch, chủ thẻ sẽ giữ lại 1
liên để làm cơ sở đối chiếu sau này. Trong trường hợp vô tình hay cố ý mà ĐVCNT
sữa chữa, tẩy xóa hóa đơn xuất trình thanh toán, NHTT có thể căn cứ vào đó từ chối
thanh toán cho ĐVCNT.
 Rủi ro đối với chủ thẻ:
• Thẻ bị mất cắp hay thất lạc được sử dụng trước khi chủ thẻ kịp thông báo cho NHPH
có biện pháp hạn chế sử dụng hoặc thu hồi.
• Lộ mã số bí mật cá nhân (PIN): mã số PIN được giao cho chủ thẻ và chủ thẻ có quyền
thay đổi. PIN được sử dụng khi thực hiện các giao dịch tự động với các thiết bị tự
động, đặc biệt là thẻ ATM. Do vậy, khi để lộ PIN trong trường hợp thẻ bị mất cắp mà
chủ thẻ chưa kịp báo cho ngân hàng phát hành khóa thẻ hoặc trường hợp thẻ bị “lấy
cắp tạm thời” để rút tiền mặt hoặc chuyển khoản sẽ gây ra thiệt hại rủi ro cho chủ thẻ.
1.2.3- Các nguyên nhân và hậu quả rủi ro trong kinh doanh thẻ của ngân hàng

Ngày nay, trình độ công nghệ luôn thay đổi, đòi hỏi các ngân hàng phải có nguồn
nhân lực am hiểu về công nghệ thông tin liên quan đến thẻ và phải có vốn đầu tư lớn
cho hệ thống mạng ATM, cũng như hệ thống kỹ thuật nối các máy POS. Thực tế cho
thấy rủi ro do yếu tố công nghệ phát sinh từ những nguyên nhân sau:
• Mặt bằng công nghệ, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phục vụ cho dịch vụ thẻ của các ngân
hàng thương mại Việt Nam chưa cao, chưa đáp ứng được tốc độ phát triển của hoạt
động kinh doanh thẻ. Những sai sót do lỗi hệ thống cũng thường xuyên xảy ra như
mạng bị treo, hệ thống xử lý không chính xác các giao dịch,… đã ảnh hưởng rất lớn
đến chất lượng dịch vụ thẻ và uy tín của ngân hàng.
• Hệ thống quản lý phát hành và thanh toán thẻ của các ngân hàng chưa thống nhất dẫn
đến sự không tương thức, gây khó khăn và tốn kém cho việc kết nối đồng bộ thành
một hệ thống sau này.
• Hầu hết các ngân hàng Việt Nam hiện nay chỉ phát hành thẻ từ, vốn rất dễ bị làm giả
nếu kẻ gian nắm trong tay dữ liệu về tài khoản của khách hàng. Hơn nữa, với sự tiến
bộ của công nghệ tin học, các tổ chức tội phạm ngày càng sử dụng nhiều thủ đoạn tinh
vi kỹ thuật cao để sao chép dữ liệu, lấy cắp thông tin thẻ thật để làm thẻ giả lợi dụng
chi tiêu.
• Đối với rủi ro máy ATM chi lộn tiền, một trong những nguyên nhân là do các máy
Sinh viên: Lê Thuỳ Nhung
23
ATM không có khả năng phân biệt tiền theo mệnh giá. Các máy ATM trên thế giới
đều được thiết kế với việc xác định mệnh giá tiền đưa ra khi chi trả cho khách hàng
qua các trang thiết bị cảm ứng về độ dày, chiều rộng của tờ tiền để tránh trường hợp
trả nhầm. Tuy nhiên, các mệnh giá tiền của Việt Nam hiện nay được thiết kế và sản
xuất khá tương đương nhau về kích cỡ, độ dày nên các chức năng trên hiện chưa phát
huy được hiệu quả tại Việt Nam nếu trường hợp xếp nhầm mệnh giá vào hộp tiền xảy
ra.
 Nguyên nhân do người sử dụng
Rủi ro do chủ thẻ gây ra, phát sinh do môt số nguyên nhân sau:
• Chủ thẻ mất khả năng hoàn trả nợ cho ngân hàng do chủ thẻ gặp tai nạn, tử vong, phá

tiêu dùng, trừng phạt kẻ xấu lợi dụng cơ chế để trục lợi. Trong Bộ luật Hình sư, tội
phạm thẻ cũng được quy vào tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Như vậy, việc hoàn
thiện khung pháp lý cho hoạt động thẻ vẫn chưa được quan tâm đúng.
1.2.3.2- Các hậu quả của rủi ro trong kinh doanh thẻ ngân hàng
Rủi ro trong kinh doanh thẻ đã gây ra nhiều hậu quả lớn đối với cả các ngân hàng
và cả về phía chủ thẻ và xã hội
 Về phía chủ thẻ:
Có thể nói, cho dù nguyên nhân gây ra rủi ro là từ phía ngân hàng, ĐVCNT hay
từ phía chủ thẻ thì chủ thẻ là đối tượng trực tiếp chịu hậu quả từ rủi ro trong việc kinh
doanh thẻ của các ngân hàng thương mại. Những rủi ro này phát sinh một cách thường
xuyên mà chủ thẻ không lường trước được hậu quả của chúng. Chẳng hạn như:
- Nếu chủ thẻ làm mất thẻ mà không báo ngay cho ngân hàng phát hành, vô hình chung
đã tiếp tay cho các tổ chức cá nhân, lừa đảo. Các tổ chức, cá nhân này có thể lợi dụng
thông tin thẻ có được để thực hiện hành vi lừa đảo trên mạng, bắt cóc tống tiền và yêu
cầu nạn nhân gửi tiền vào tài khoản của chủ thẻ. Sau đó, những đối tượng này sẽ cầm
thẻ ra ATM để rút tiền. Dựa vào cách này thì công an sẽ khó truy ra được thông tin của
tội phạm. Như vậy, chủ thẻ vừa bị lợi dụng tài khoản, vừa bị vướng vào cuộc điều tra
của công an.
- Đối với những sự cố kĩ thuật về máy ATM, máy POS khiến cho thẻ không sử dụng
được, gây mất thời gian cho khách hàng, đôi khi khiến chủ thẻ rơi vào những tình
huống khó xử nếu chủ thẻ không mang theo tiền mặt để thanh toán.
- Với những rủi ro tác nghiệp, chủ thẻ có thể bị mất tiền, rơi vào những cuộc tranh chấp,
khiếu nại không đáng có.
- Trong nhiều trường hợp, các rủi ro phát sinh sẽ làm chậm lại quá trình trao đổi, mua
bán hàng hóa dịch vụ của chủ thẻ. Đặc biệt, công việc kinh doanh của khách hàng có
thể bị gián đoạn, làm giảm lợi nhuận, thậm chí chủ thẻ có thể bị mất những thương vụ
làm ăn quan trọng.
 Về phía ngân hàng:
Những rủi ro trong kinh doanh thẻ để lại những hậu quả:
- Thứ nhất, gây ảnh hưởng đến uy tín, hình ảnh của ngân hàng, tạo ấn tượng xấu, không

là người “đứng giữa” các lực lượng cung và các lực lượng cầu về các dịch vụ Ngân
hàng. Hoạt động kinh doanh thẻ của các NHTM do đó bao gồm rất nhiều loại rủi ro.
Bởi vậy, nhiều ý kiến cho rằng các Ngân hàng cần đánh giá cơ hội kinh doanh dựa trên
mối quan hệ rủi ro - lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được những lợi ích xứng
đáng với mức rủi ro có thể chấp nhận được. Ngân hàng sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro
mà Ngân hàng gánh chịu là hợp lý và kiểm soát được chứ không thể chối bỏ rủi
ro. Hiệu quả kinh doanh của NHTM phụ thuộc vào mức độ rủi ro.
Sinh viên: Lê Thuỳ Nhung

Trích đoạn Quá trình phát triển hoạt động kinh doanh thẻ tại ngân hàng TMCP Sà Hoạt động phát hành thẻ Kết quả kinh doanh thẻ của Sacombank Các rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ cua Sacombank Những hạn chế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status