Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHỬ THANH GIANG
GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT LÚA
TẠI HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60-31-10 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐỖ THỊ BẮC
THÁI NGUYÊN - 2010
tác của các đồng chí tại địa điểm nghiên cứu, tôi xin cảm ơn.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới bạn bè đồng nghiệp và người
thân trong gia đình với sự quan tâm động viên và tạo điều kiện về vật chất,
tinh thần trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành trước những sự giúp đỡ quý báu đó.
Tôi xin trân trọng gửi tới các thầy giáo, cô giáo và các vị trong hội
đồng chấm luận văn lời cảm ơn và lời chúc tốt đẹp nhất.
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2010
Tác giả luận văn Chử Thanh Giang
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, BẢN ĐỒ x
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4. Ý nghĩa khoa học và những đóng góp mới của luận văn 3
5. Bố cục của luận văn 4
QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT LÚA TẠI HUYỆN YÊN
DŨNG, TỈNH BẮC GIANG 33
2.1. Tác động của môi trường vi mô và vĩ mô đến nâng cao hiệu quả
kinh tế sản xuất lúa 33
2.1.1. Điều kiện tự nhiên 33
2.1.1.1. Vị trí địa lý 33
2.1.1.2. Địa hình, thổ nhưỡng 33
2.1.1.3. Điều kiện khí hậu, thời tiết, thuỷ văn 34
2.1.1.4. Tình hình đất đai và sử dụng đất đai 35
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 37
2.1.2.1. Tình hình dân số và lao động 37
2.1.2.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật của huyện 39
2.1.2.3. Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu huyện Yên Dũng 41
2.2. Tình hình sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa tại
huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang 51
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
v
2.2.1. Thực trạng phát triển sản xuất lúa tại huyện Yên Dũng 51
2.2.1.1. Vị trí của cây lúa trong diện tích gieo trồng cây trồng
hàng năm của huyện 51
2.2.1.2. Diện tích, năng suất, sản lượng lúa ở huyện Yên Dũng 53
2.2.2. Kết quả kinh tế từ sản xuất lúa đến sự phát triển kinh tế - xã
hội của huyện 57
2.2.3. Kết quả, hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các hộ điều tra 58
2.2.3.1. Một số thông tin chung về các hộ điều tra 58
2.2.3.2. Tình hình đầu tư chi phí cho sản xuất lúa trong các hộ
điều tra 60
2.2.3.3. Kết quả, hiệu quả sản xuất lúa trong các hộ điều tra 69
3.3.1.2. Quy hoạch vùng sản xuất lúa lai, lúa chất lượng cao tập trung 98
3.3.1.3. Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng thủy lợi 100
3.3.2. Giải pháp về kỹ thuật 101
3.3.3. Giải pháp về thị trường, xúc tiến thương mại 105
3.3.4. Xây dựng thương hiệu gạo thơm huyện Yên Dũng 108
3.3.5. Huy động mọi nguồn vốn phục vụ nâng cao hiệu quả kinh tế
sản xuất lúa tại huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang 109
3.3.6. Giải pháp về khuyến nông nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế
sản xuất lúa tại huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang 110
3.3.7. Nâng cao trình độ dân trí, trình độ cho cán bộ và người lao động 111
3.3.8. Vận dụng tốt các chính sách của Đảng và Nhà nước trong
việc nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa 111
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 114
1. Kết luận 114
2. Kiến nghị 116
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
BQ
:
Bình quân
BVTV
:
Bảo vệ thực vật
CN
:
Công nghiệp
NL,TS
:
Nông lâm, thuỷ sản
NLN,TS
:
Nông lâm nghiệp, thuỷ sản
Pr
:
Lợi nhuận
PTNT
:
Phát triển nông thôn
THCS
:
Trung học cơ sở
THPT
:
Trung học phổ thông
TM
:
Thương mại
Tr.đ
:
Triệu đồng
TTCN
:
Tiểu thủ công nghiệp
UBND
:
Uỷ ban nhân dân
Bảng 2.5. Diện tích gieo trồng cây hàng năm trên địa bàn huyện Yên
Dũng năm 2007-2009 52
Bảng 2.6. Diện tích gieo trồng, năng suất và sản lượng lúa trên địa bàn
huyện Yên Dũng năm 2007 - 2009 theo mùa vụ 55
Bảng 2.7: Diện tích gieo trồng lúa trên địa bàn huyện Yên Dũng năm
2007 - 2009 theo cơ cấu giống lúa 56
Bảng 2.8: Năng suất lúa của tỉnh Bắc Giang năm 2007-2009 57
Bảng 2.9: Sản lượng lúa của tỉnh Bắc Giang năm 2007 - 2009 58
Bảng 2.10: Chi phí sản xuất cho 1 ha diện tích gieo trồng lúa của các
nhóm hộ năm 2009 61
Bảng 2.11: Chi phí sản xuất cho 1 ha diện tích gieo trồng lúa của các
vùng năm 2009 64
Bảng 2.12: Chi phí sản xuất cho 1 ha diện tích gieo trồng lúa của các
giống lúa năm 2009 66
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ix
Bảng 2.13: Chi phí sản xuất cho 1 ha diện tích gieo trồng lúa của các
mùa vụ năm 2009 68
Bảng 2.14: Mức độ đầu tư phân bón, lao động và kết quả sản xuất lúa
Khang dân 18 ở các nhóm hộ điều tra năm 2009 71
Bảng 2.15: Kết quả, hiệu quả sản xuất cho 1 ha diện tích gieo trồng lúa
của các nhóm hộ năm 2009 73
Bảng 2.16: Kết quả, hiệu quả sản xuất cho 1 ha diện tích gieo trồng lúa
của các vùng năm 2009 77
Bảng 2.17: Kết quả, hiệu quả sản xuất cho 1 ha diện tích gieo trồng lúa
của các giống lúa năm 2009 80
Bảng 2.18: Kết quả, hiệu quả sản xuất cho 1 ha diện tích gieo trồng lúa
của các mùa vụ năm 2009 84
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hiện nay, con người đang phải đối mặt với vấn đề bùng nổ dân số toàn
cầu mà hậu quả là sự thiếu hụt lương thực. Cùng với sự đô thị hóa ngày càng
gia tăng, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, sản xuất lương thực
tăng chậm hơn mức tăng dân số thì vấn đề “An ninh lương thực” để đảm bảo
cho cuộc sống con người, xóa đói nghèo đang là vấn đề quan tâm hàng đầu
của mỗi quốc gia. Một trong những cây trồng chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu
sản lượng cây lương thực đó là cây lúa. Cây lúa là một trong ba cây lương
thực chủ yếu trên thế giới và là loại lương thực chính của khoảng 1,3 tỉ người
nghèo nhất trên thế giới, là sinh kế chủ yếu của nông dân. Là nguồn cung cấp
năng lượng lớn nhất cho con người [12].
Việt Nam là nước có điều kiện tự nhiên rất thích hợp cho sản xuất lúa
và có nền văn minh lúa nước lâu đời, gắn liền với quá trình phát triển của lịch
sử. Cây lúa là cây lương thực chính trong mục tiêu phát triển nông nghiệp của
Việt Nam để đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu.
Trong những năm gần đây, ngành nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói
riêng đã có những tiến bộ vượt bậc và đạt được những thành tựu đáng kể, Việt
Nam đang là nước đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo.
Tuy nhiên, mặc dù đã có những bước phát triển đáng kể nhưng nhìn
chung sản xuất nông nghiệp ở nước ta chưa thoát khỏi tình trạng sản xuất nhỏ
lẻ, cơ sở vật chất, kỹ thuật còn thiếu thốn, công nghệ còn lạc hậu. Hơn nữa,
nông nghiệp Việt Nam nói chung và sản xuất cây lúa nói riêng đang gặp phải
những khó khăn trong phát triển sản xuất như: quá trình đô thị hoá tăng, diện
tích đất trồng lúa ngày càng bị thu hẹp; nhiều vùng sản xuất lúa được nông dân
sở hữu rất manh mún, khó cơ giới hóa; quá trình áp dụng giống mới chịu thâm
canh, phát triển thành những vùng sản xuất hàng hóa là điều kiện thuận lợi để
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
3
đời sống cho người nông dân, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế nông
nghiệp, nông thôn trên địa bàn huyện Yên Dũng.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá về cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế sản
xuất lúa.
- Phân tích, đánh giá thực trạng sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế
sản xuất lúa trên địa bàn huyện Yên Dũng năm 2007-2009.
- Đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản
xuất lúa huyện Yên Dũng trong thời gian tới.
3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề về sản xuất và nâng cao
hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của người dân nông thôn, các hộ, cộng đồng trên
địa bàn huyện Yên Dũng.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Đề tài thực hiện trên địa bàn huyện Yên
Dũng, tỉnh Bắc Giang.
- Phạm vi về thời gian: Số liệu điều tra thực trạng phục vụ đề tài được
thu thập, nghiên cứu số liệu từ năm 2007 đến năm 2009.
- Phạm vi về nội dung: Đề tài nghiên cứu về thực trạng, đánh giá những
thuận lợi, khó khăn từ đó đề ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu
quả kinh tế sản xuất lúa của huyện.
Tuy vậy, vấn đề hiệu quả kinh tế sản xuất lúa là rất rộng, vì vậy đề tài
chỉ nghiên cứu một số giống lúa chính tại huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
4. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
- Luận văn là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, là tài
liệu tham khảo giúp huyện Yên Dũng xây dựng quy hoạch, kế hoạch sản xuất và
nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa những năm tiếp theo có cơ sở khoa học.
khác nhau giữa kết quả và hiệu quả.
Theo trung tâm từ điển ngôn ngữ hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu
của việc làm mang lại [16].
Kết quả hữu ích của một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con
người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định. Do tính chất mâu
thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu ngày càng tăng của con
người mà người ta phải xem xét kết quả được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ
ra để tạo ra kết quả đó là bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích hay không?
chính vì thế khi đánh giá hoạt động sản xuất không chỉ dừng lại ở việc đánh
giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng các hoạt động sản xuất kinh
doanh tạo ra sản phẩm đó. Đánh giá chất lượng của hoạt động sản xuất kinh
doanh là nội dung đánh giá hiệu quả.
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể
là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối có kế hoạch thời gian lao động
theo các ngành sản xuất khác nhau. Theo các nhà khoa học kinh tế Samuel –
Nordhuas “Hiệu quả là không lãng phí”. Theo các nhà khoa học Đức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
(Stienier, Hanau, Rusteruyer, Simmerman) hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh
mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết
quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm
tăng thêm lợi ích cho xã hội [17].
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới
nền sản xuất hàng hoá và với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác.
Vì thế hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề:
- Một là: Theo quan điểm triết học Mác xít thì bản chất của hiệu quả
kinh tế là sự thực hiện yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian, biểu hiện trình
độ sử dụng nguồn lực của xã hội. Các Mác cho rằng quy luật tiết kiệm thời
giữa 2 đại lượng đó.
Hiệu quả kinh tế được nhiều nhà kinh tế nói đến như Farell, Schultz,
Rizzo, các học giả trên đều đi đến thống nhất là cần phân biệt rõ ba khái niệm
cơ bản về hiệu quả: Hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả kinh tế và hiệu quả phân bổ:
+ Hiệu quả kỹ thuật là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn
vị chi phí đầu vào hay nhân lực sử dụng vào sản xuất trong những điều kiện
cụ thể về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào nông nghiệp. Hiệu quả kỹ thuật
được áp dụng phổ biến trong kinh tế vi mô để xem xét tình hình sử dụng
nguồn lực cụ thể. Hiệu quả này thường được phản ánh trong mối quan hệ về
các hàm sản xuất. Hiệu quả kỹ thuật liên quan đến phương diện vật chất của
sản xuất. Nó chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại
thêm bao nhiêu đơn vị sản phẩm.
Hiệu quả kỹ thuật của việc sử dụng các nguồn lực được thể hiện trong
mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra, giữa các đầu vào với nhau và giữa các
sản phẩm khi nông dân quyết định sản xuất. Hiệu quả kỹ thuật phụ thuộc vào
bản chất kỹ thuật và công nghệ áp dụng vào sản xuất nông nghiệp, kỹ năng
của người sản xuất cũng như môi trường kinh tế xã hội khác mà trong đó kỹ
thuật được áp dụng [21].
+ Hiệu quả phân bổ là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả trong các yếu tố giá sản
phẩm và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
đồng chi phí thêm về đầu vào hay nguồn lực. Thực chất của hiệu quả phân bổ
là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu tố về giá của đầu vào và đầu ra, vì thế
nó còn được gọi là hiệu quả giá. Việc xác định hiệu quả này giống nhu xác
định các điều kiện về lý thuyết biên để tối đa hoá lợi nhuận. Điều đó có nghĩa
là giá trị biên của sản phẩm phải bằng giá trị biên của nguồn lực sản xuất [21].
+ Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu
doanh là lợi nhuận và tối đa hoá lợi nhuận.
- Hiệu quả xã hội: Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết
quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra. Cùng với sự công bằng trong xã
hội, nó kích thích phát triển sản xuất có hiệu quả kinh tế cao. Nhờ phát triển
sản xuất mà xã hội ngày càng nâng cao được mức sống của người lao động cả
về mặt vật chất và tinh thần, đồng thời tỷ lệ thất nghiệp giảm, các mối quan hệ
xã hội được cải thiện, môi trường sống, điều kiện làm việc, trình độ xã hội
cũng đều được nâng lên. Như vậy, có thể nói hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã
hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng là tiền đề của nhau và là một
phạm trù thống nhất
- Hiệu quả kinh tế xã hội là hiệu quả chung phản ánh kết quả thực hiện
mục tiêu mà chủ thể đặt ra trong một giai đoạn nhất định trong quan hệ với
chi phí để có được những kết quả đó. Hiệu quả kinh tế biểu thị mối tương
quan giữa cá kết quả đạt được tổng hợp ở các lĩnh vực kinh tế xã hội với chi
phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Do vậy, hiệu quả kinh tế xã hội phản ánh
một cách tổng quát dưới góc độ xã hội.
- Hiệu quả môi trường là hiệu quả của việc làm thay đổi môi trường do
hoạt động sản xuất gây ra như xói mòn, ô nhiễm đất, không khí, bệnh
tật…Việc xác định hiệu quả môi trường là tương đối khó.
- Hiệu quả phát triển phản ánh sự phát triển của các tế bào kinh tế, các
cơ sở sản xuất, kinh doanh, các khu vực, vùng kinh tế trong tổng thể nền kinh
tế. Sự phát triển này là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố như: Đời sống vật
chất, đời sống tinh thần, trình độ dân trí, môi trường sống…do kết quả phát
triển sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế mang lại.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
Khi xem xét các loại hiệu quả cho thấy hiệu quả kinh tế luôn là trọng
tâm và quyết định nhất. Hiệu quả kinh tế chỉ được nhìn nhận đánh giá một
bản, làm cho nội dung kinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn.
+ Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông
nghiệp ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối
ngoại, nhất là những sản phẩm có khả năng hướng tới xuất khẩu.
+ Hệ thống chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn và tính khoa học. Và
phải có tác dụng kích thích sản xuất phát triển. Phù hợp với đặc điểm và trình
độ của sản xuất cây lúa nói riêng
* Hiệu quả kinh tế:
Nội dung chỉ tiêu hiệu quả kinh tế được tính toán dựa vào bản chất của
hiệu quả. Đó là quan hệ giữa các yếu tố đầu vào và đầu ra hay giữa chi phí và
kết quả thu từ chi phí đó. Hiện nay, có nhiều cách tính toán hiệu quả kinh tế
như sau:
Công thức 1:
Hiệu quả =
Kết quả thu được
––––––––––––––––––
Chi phí bỏ ra
Q
H
C
Trong đó: H là hiệu quả
Q là kết quả thu được. Kết quả thu được là khối lượng sản phẩm hay
giá trị sản phẩm, phản ánh kết quả trực tiếp hữu ích cho lao động xã hội tạo ra
trong thời kỳ nhất định thường là 1 năm. Với quan niệm đó kết quả sản xuất
có thể biểu hiện bằng tổng giá trị sản xuất (GO), hay lãi gộp (GM), thu nhập
hỗn hợp, lợi nhuận…
C: Chi phí bỏ ra
Công thức này phản ánh rõ hiệu quả sử dụng các nguồn lực sản xuất.
Quốc tế đã gọi hạt gạo là “hạt của sự sống”. Lúa cung cấp lương thực cho 1/2
dân số thế giới. Trong cơ cấu sản xuất lương thực của thế giới: lúa mì chiếm
30,5%, lúa gạo 26,5%, ngô 24%, còn lại các loại ngũ cốc khác [12].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
Ngoài việc sử dụng làm lương thực chủ yếu, các sản phẩm của cây lúa
còn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
- Gạo dùng để chăn nuôi
Nói chung, gạo dùng để chăn nuôi gia súc chủ yếu là tấm và gạo có
chất lượng xấu. Trước đây, khoảng 5% tổng sản lượng gạo được dùng để
chăn nuôi hàng năm. Kể từ thập kỷ 60, nhất là những năm đầu thập kỷ 90, tỷ
lệ này giảm nhanh chóng bởi lẽ:
+ Sự bùng nổ dân số ở các nước đang phát triển, trước hết là ở Châu Á
dẫn đến quan hệ cung cầu gạo trên thế giới căng thẳng, giá gạo tăng trong những
năm gần đây. Đặc biệt, năm 2007 đến nay giá gạo tăng một cách chóng mặt.
+ Trình độ kỹ thuật sản xuất và công nghệ chế biến gạo được chú trọng
đáng kể đã giảm nhanh chóng tỉ lệ tấm và không ngừng nâng cao chất lượng gạo,
đáp ứng những nhu cầu cấp thiết của con người cả về chất lượng và số lượng.
+ Sản xuất ngô được đẩy mạnh, cùng với sự phát triển của sản xuất
ngô các loại khác như khoai, sắn cũng được sử dụng cho chăn nuôi gia súc
nhằm tiết kiệm triệt để lúa gạo. Hiện nay gạo dùng cho chăn nuôi chỉ chiếm
khoảng 1%.
- Gạo dùng cho công nghiệp chế biến
Từ lâu, gạo đã được sử dụng để chế biến các loại rượu cồn, cồn cao cấp
hay gạo được dùng để làm bún, bánh phở… một số loại dược liệu y tế cũng
được chế biến từ gạo. Nhiều năm qua, ngành công nghiệp thực phẩm phát
triển đã sử dụng gạo chế biến ra hàng loạt bánh mứt kẹo cao cấp. Trong suốt
thời gian dài trước đây, gạo được dùng làm nguyên liệu chế biến thường
phân chuồng, hoặc làm chất đốt; Rơm rạ: Được sử dụng cho công nghệ sản
suất giầy, các tông xây dựng, đồ gia dụng ( thừng, chão, mũ, giầy dép), hoặc
làm thức ăn cho gia súc, sản xuất nấm
Như vậy, ngoài hạt lúa là bộ phận chính làm lương thực, tất cả các bộ
phận khác của cây lúa đều được con người sử dụng phục vụ cho nhu cầu cần