giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất, chế biến, tiêu thụ chè trên địa bàn tỉnh thái nguyên - Pdf 22


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

i

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
HOÀNG VÂN NGỌC

GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNG TRANH CỦA
DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT, CHẾ BIẾN, TIÊU THỤ CHÈ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60 - 31 - 10 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS. BÙI ĐÌNH HOÀ

bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, khích lệ và giúp đỡ em trong suốt quá
trình học tập và nghiên cứu.
Thái Nguyên, tháng năm 2010
Tác giả luận văn Hoàng Vân Ngọc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iv
M ỤC L ỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn 2
2.1. Mục tiêu chung 2
2.2. Mục tiêu cụ thể 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1. Đối tượng nghiên cứu 3
3.2. Phạm vi nghiên cứu 3
3.2.1. Phạm vi không gian 3
3.2.2. Phạm vi thời gian 3
4. Bố cục của luận văn 3
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1. Cơ sở lý luận về cạnh tranh 4
1.1.1.1. Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 4
1.1.1.2. Chức năng và vai trò của cạnh tranh 12
1.1.1.3. Các hình thức cạnh tranh 13

CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT, CHẾ BIẾN, TIÊU THỤ CHÈ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN 70
2.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 70
2.1.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên tỉnh Thái Nguyên 70
2.1.1.1. Điều kiện tự nhiên 70
2.1.1.2. Địa hình 71
2.1.1.3. Khí hậu 72

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

vi
2.1.1.4. Tài nguyên đất 74
2.1.1.5. Điều kiện kinh tế - xã hội 76
2.2. Thực trạng về năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp sản xuất, chế biến và
tiêu thụ chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 79
2.2.1. Tình hình chung về sản xuất chè tỉnh Thái nguyên trong 3 năm 2006-2008 79
2.2.2. Tình hình phát triển nguồn lực trong doanh nghiệp sản xuất, chế
biến, tiêu thụ chè trên địa bàn tỉnh Thái nguyên từ năm 2006 - 2008 81
2.2.3. Khả năng cạnh tranh của các yếu tố liên quan đến sản phẩm 81
2.2.3.1. Khả năng cạnh tranh về giá sản phẩm 86
2.2.3.2. Khả năng cạnh tranh về phân phối và lưu thông sản phẩm chè 91
2.2.3.3. Đánh giá cạnh tranh bằng hoạt động quảng cáo, tiếp thị, yểm trợ
bán hàng 93
2.3. Đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất, chế
biến, tiêu thụ chè tỉnh Thái Nguyên 95
2.4. Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong phát triển sản xuất ngành chè
tỉnh Thái Nguyên 101
2.5. Nguyên nhân ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp chè tỉnh Thái Nguyên 103
2.5.1. Nguyên nhân từ phía doanh nghiệp 103


viii
DANH MỤC VIẾT TẮT

SXKD : Sản xuất kinh doanh
ĐTTNN : Đầu tư nước ngoài
QĐ : Quyết định
TDMN : Trung du miền núi
HTX : Hợp tác xã
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
XNK : Xuất nhập khẩu
GDP : Tổng thu nhập quốc dân

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ix
DANH MỤC BẢNG

Biểu 01: Tóm lược các mô hình phân tích và đo lường năng lực cạnh tranh 28
Biểu 02: Tỷ trọng xuất khẩu của một số quốc gia năm 2008 31
Biểu 03: Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam 2006 - 2008 32
Biểu 04: Xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước so với các doanh
nghiệp có vốn nước ngoài, 2006 - 2008 33
Biểu 05: Tình hình lỗ, lãi của doanh nghiệp Việt nam 2006-2008 38
Biểu 06: Tình hình lãi theo loại doanh nghiệp ở Việt Nam, 2006 - 2008 40
Biểu 07: Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam 41
Biểu 08: Tỷ suất lợi nhuận doanh thu của doanh nghiệp Việt Nam so với
các doanh nghiệp Trung Quốc 42
Biểu 09: Năng suất sử dụng vốn, tài sản của các doanh nghiệp 44
Biểu 10: Năng suất sử dụng vốn, tài sản của các doanh nghiệp theo

Biểu 31: Tỷ trọng sản lượng chiếm lĩnh thị phần của các doanh nghiệp
sản xuất chè Thái Nguyên 96

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cây chè có từ lâu đời ở Thái Nguyên, nhưng thực sự phát triển mạnh
vào những năm 1960 khi Nhà nước chú trọng tập trung đầu tư thành những
vùng chè với quy mô lớn. Thái Nguyên là tỉnh trung du, miền núi phía Bắc
được thiên nhiên ưu đãi một hệ thống đất đai và điều kiện thời tiết hết sức
thích hợp cho việc phát triển cây chè. Thái Nguyên là tỉnh có diện tích chè
đứng thứ hai của cả nước (chỉ đứng sau tỉnh Lâm Đồng). Trong quá trình phát
triển kinh tế, chuyển đổi cơ cấu cây chè, cây chè Thái Nguyên được xác định
là cây trồng phù hợp, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Đặc biệt từ năm 2000,
tỉnh Thái Nguyên đã đầu tư cây chè một cách đồng bộ về khoa học - kỹ thuật,
vật chất và con người. Thông qua việc ban hành nhiều chính sách khuyến
khích phát triển cây chè, thực hiện chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật về
sản xuất, chế biến chè nên năng suất, sản lượng chè của tỉnh không ngừng
tăng lên.
Hiện nay nền kinh tế nước ta đang vận hành theo cơ chế thị trường có
sự quản lý vĩ mô của Nhà nước, nhờ chính sách về kinh tế đổi mới của Đảng
và Nhà Nước, các thành phần kinh tế đã có bước phát triển đáng kể. Nhiều
doanh nghiệp đã chọn đầu tư vào sản xuất kinh doanh chế biến và tiêu thụ
chè. Các cơ sở nói trên đã hoạt động khá sôi động trong thời gian qua, nhưng
vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển theo hướng công nghiệp hoá - hiện
đại hoá.
Có khá nhiều doanh nghiệp với nhiều hình thức sở hữu khác nhau, song
tồn tại lớn nhất của các doanh nghiệp chè Thái Nguyên hiện nay là khả năng

2.2. Mục tiêu cụ thể
+ Góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về năng lực
cạnh trong kinh doanh nói chung và đối với doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh chè nói riêng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
+ Thực trạng về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất,
chế biến và tiêu thụ chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
+ Đề ra các giải pháp thiết yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của
các doanh nghiệp chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Tập chung nghiên cứu toàn bộ vấn đề liên quan đến năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp sản xuất, chế biến, tiêu thụ chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
3.2.1. Phạm vi không gian
Nghiên cứu các nhân tố tác động đến khả năng cạnh tranh của các
doanh nghiệp chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
3.2.2. Phạm vi thời gian
Thời gian nghiên cứu: Thu thập thông tin trong một số năm gần đây
các số liệu khảo sát tại các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh chè từ năm
2006 - 2008.
Thời gian thực hiện đề tài: từ 2008 - 2010
4. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận nội dung của luận văn bao gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu.

giành giật khách hàng và thị trường về phía mình và như vậy cạnh tranh tất
yếu sẽ xảy ra. Vì vậy cạnh tranh cũng là động lực để nâng cao hiệu quả của
mỗi nền kinh tế. Cạnh tranh có thể đưa lại lợi ích cho người này và gây thiệt
hại cho người khác, xong xét dưới góc độ toàn xã hội, cạnh tranh luôn có tác
động tích cực: như chất lượng tốt hơn, giá rẻ hơn, dịch vụ tốt hơn.
Thực chất của cạnh tranh là sự tranh giành về lợi ích kinh tế giữa các
chủ thể tham gia thị trường. Đối với người mua họ muốn mua được hàng hóa

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
có chất lượng cao, mức giá rẻ. Ngược lại, các doanh nghiệp khi nào cũng
muốn tối đa hóa lợi nhuận, với mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp phải
giảm chi phí, tìm cách giành giật khách hàng và thị trường về phía mình và
như vậy cạnh tranh tất yếu sẽ xảy ra. [1.14]
Để đạt được những lợi thế trong cạnh tranh, doanh nghiệp phải dựa trên
những năng lực cạnh tranh nhất định.
a. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp - tổng quát và hệ thống hoá về cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh là hiện tượng phổ biến và có ý
nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế ở các quốc gia.Việc nghiên cứu hiện
tượng cạnh tranh cũng xuất hiện từ rất sớm với các trường phái nổi tiếng như:
lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển và lý thuyết cổ điển và lý thuyết cạnh tranh
hiện đại.
Lý thuyết cạnh tân cổ điển gắn với kinh tế học tân cổ điển ở các nước
phương Tây cuối thế kỷ XIX - chủ yếu nghiên cứu các hành vi kinh tế, lý
thuyết sản xuất và phân phối ở cấp độ vi mô trong điều kiện chủ nghĩa tự do
kinh tế chiếm ưu thế áp đảo. Lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển chứng minh gắn
với các tên tuổi nổi tiếng của các trường phái cạnh tranh hoàn hảo như
W.S.Jevos, Cournot, L.Walras, Marshall…
Lý thuyết cạnh tranh hiện đại được hình thành từ giữa thế kỷ XX đến nay,

Cạnh tranh trong nền kinh tế nói chung và cạnh tranh trong doanh
nghiệp nói riêng đã được nghiên cứu từ lâu. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh
và việc nghiên cứu năng lực cạnh tranh một cách hệ thống lại được bắt đầu
khá muộn và chỉ mới từ cuối những năm 1980 đến nay. Theo kết quả tổng
hợp các công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của các nhà kinh tế
người Anh là BucKley, Pass và Prescott, đến năm 1988 có rất ít định nghĩa về
năng lực cạnh tranh được chấp nhận. M.E.Porter - một chuyên gia hàng đầu
thế giới về năng lực cạnh tranh lại chỉ ra rằng cho đến năm 1990, năng lực
canh tranh vẫn chưa được hiểu một cách đầy đủ và chưa có một định nghĩa

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
nào được chấp nhận một cách thống nhất. Năm 1996, Waheeduzzan và các
cộng sự cho rằng “năng lực cạnh tranh vẫn là một trong những khái niện được
hiểu thiếu đầy đủ” (misunderstood concept). Cho đến năm 2004, Henricsson
và các cộng sự đã chỉ rõ rằng khái niệm năng lực cạnh tranh vẫn còn nhiều
cạnh cãi giữa các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh tế, các nhà báo, các
học giả ở nhiều nước.
Khi tổng thuật tài liệu nghiên cứu về năng lực cạnh tranh, một số tác
giả như Thorne (2002, 2004), Momay (2002, 2005) chỉ ra rằng, bắt đầu từ
những năm 1990 đến nay, lý thuyết về năng lực cạnh tranh trên thế giới bước
vào thời kỳ “bùng nổ” với số lượng công trình nghiên cứu được công bố rất
lớn. Theo Thorne, các lý thuyết về năng lực cạnh tranh tựu trung lại có 3 cách
tiếp cận: lý thuyết thương mại truyền thống, lý thuyết tổ chức công nghiệp và
trường phái quản lý chiến lược.
c. Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Một là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và
mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây là cách quan niệm khá
phổ biến hiện nay, theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hoá,

tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững.
Ngoài ra, không ít ý kiến đồng nhất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với
năng lực kinh doanh.
* Các yếu tố cấu thành và đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp:
Các yếu tố cấu thành và các tiêu chí đo lường năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp phải thể hiện được bản chất của năng lực cạnh tranh doanh
nghiệp, thể hiện được mức độ cạnh tranh của các doanh nghiệp trong việc
chiến lĩnh thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra, thu hút yếu tố đầu vào. Tuy
nhiên, trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại, năng lực cạnh tranh cần bảo
đảm tính bền vững, tức là phải tính đến cả mức độ sử dụng các điều kiện để
duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cả trong ngắn hạn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
và dài hạn. Theo đó, các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp bao gồm:
* Khả năng duy trì và mở rộng thị phần của doanh nghiệp:
Thị phần là tiêu chí thể hiện vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Nếu
doanh nghiệp có thị phần lớn hơn các doanh nghiệp khác có nghĩa là năng lực
cạnh tranh của doanh nghhiệp đó lớn hơn. Là chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt
động của doanh nghiệp. Do nhiệm vụ cơ bản của doanh nghiệp là sản xuất -
kinh doanh nên nếu sản phẩm của doanh nghiệp có sức cạnh tranh thấp thì sức
cạnh tranh của doanh nghiệp không thể cao được. Năng lực cạnh tranh của
sản phẩm doanh nghiệp dựa trên các các yếu tố cơ bản sau: chất lượng sản
phẩm cao, giá cả hợp lý, mẫu mã hợp thời, đáp ứng nhu cầu khách hàng.
+ Chất lượng sản phẩm là một chỉ tiêu tổng hợp gồm các nhóm chỉ tiêu
thành phần: các chỉ tiêu kinh tế (chi phí sản xuất, chi phí bảo đảm chất lượng,
chi phí sử dụng, chi phí môi trường) và các chỉ tiêu kỹ thuật (công dụng, thẩm
mỹ, an toàn - vệ sinh, tiện dụng).

+ Năng suất yếu tố tổng hợp (TFP).
* Khả năng thích ứng và đổi mới của doanh nghiệp: Kinh doanh trong
điều kiện kinh tế thị trường theo xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế
quốc tế với nhiều biến động đòi hỏi doanh nghiệp có khả năng thích ứng cao
và đổi mới nhanh chóng. Đây là một chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh
“động” của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải thích ứng với sự thay đổi của
thị trường trong nước và quốc tế (sở thích, nhu cầu, giá cả, chất lượng, mẫu
mã…) và sự thay đổi trong môi trường kinh doanh. Đây được coi là tiền đề
cho sự tồn tại và phát triển của doanh do đó cũng là một trong những chỉ tiêu
quan trọng nhất tạo ra lợi thế cạnh tranh và phản ánh năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay. Chỉ tiêu này được xác định bởi một số
chỉ tiêu thành phần như: Số lượng cải tiến, sáng tạo sản phẩm, cải tiến quy
trình sản xuất, tái cơ cấu doanh nghiệp, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
* Khả năng thu hút nguồn lực:
Khả năng thu hút nguồn lực không chỉ nhằm điều kiện sản xuất kinh
doanh được tiến hành bình thường, mà còn thể hiện năng lực cạnh tranh thu
hút đầu vào của doanh nghiệp. Nhờ việc thu hút các đầu vào có chất lượng
cao như nguồn lực có trình độ, tay nghề cao, công nghệ hiện đại, vật tư
nguyên liệu, nguồn vốn… mà doanh nghiệp có thể nâng cao chất lượng, năng
suất và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Đây là một tiền đề nhằm đảm bảo nâng
cao năng lực cạnh tranh trong dài hạn.
Khả năng liên kết và hợp tác của doanh nghiệp: cạnh tranh trong điều
kiện hiện nay không hoàn toàn đồng nghĩa với tiêu diệt lẫn nhau mà đặt trong
sự liên kết và hợp tác để cạnh tranh cao hơn. Do vậy khả năng liên kết hợp tác
được coi là tiền đề cho hoạt động kinh doanh hiệu quả đồng thời cũng là một
tiêu chí định tính của năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong điều kiện

- Cạnh tranh sẽ điều khiển sao cho những nhân tố sản xuất sẽ được sử
dụng vào những nơi có hiệu quả nhất, làm giảm thiểu tổng giá thành sản xuất
xã hội.
- Dưới điều kiện cạnh tranh là những tiền đề thuận lợi nhất làm cho sản
xuất thích ứng linh hoạt của cầu và công nghệ sản xuất.
- Sự bóc lột trên cơ sở quyền lực của thị trường và việc hình thành thu
nhập không tương ứng với năng suất sẽ bị cản trở bởi cạnh tranh, như vậy sẽ
tác động một cách tác động một cách tích cực đến phân phối thu nhập.
Sự thúc đẩy đổi mới được coi là một chức năng cạnh tranh năng động
trong thập kỷ gần đây.
* Vai trò của cạnh tranh:
Cạnh tranh có vai trò đối với nội tại bản thân của ngạch đó, xét trên
toàn bộ phạm vi nền kinh tế trong thời kỳ mở cửa thì cạnh tranh là tất yếu và
được thừa nhận. Vai trò của cạnh tranh thể hiện một cách rõ nét hơn như:
Cạnh tranh thúc đẩy quá trình sản xuất phát triển, tăng năng suất lao
động đạt hiệu quả kinh tế.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
Cạnh tranh cho phép lựa chọn và sử dụng nguồn tài nguyên một cách
tối ưu, khuyến khích áp dụng khoa học kỹ thuật và thỏa mãn các nhu cầu của
người tiêu dùng. [1,5]
1.1.1.3. Các hình thức cạnh tranh
Cạnh tranh diễn ra dưới nhiều hình thức, nhiều góc độ khác nhau. Theo
góc độ thị trường thì có các hình thức cạnh tranh chủ yếu như sau:
* Cạnh tranh hoàn hảo:
Cạnh tranh hoàn hảo bao gồm rất nhiều người bán và người mua một
sản phẩm hàng hóa giống nhau nào đó. Không một người mua hay người bán
nào ảnh hưởng lớn đến mức giá trên thị trường hiện hành của hàng hóa .

lao động,… có thể phân tổ thành 3 nhóm yếu tố bên trong tác động đến năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp như sau:
- Trình độ, năng lực và phương thức quản lý.
- Khả năng nghiên cứu phát triển.
- Năng lực sản xuất. [4,49]
a. Trình độ và năng lực tổ chức, quản lý doanh nghiệp
Năng lực tổ chức, quản lý doanh ngiệp được coi là yếu tố có tính quyết
định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói chung cũng như năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng. Trình độ tổ chức, quản lý doanh
nghiệp được thể hiện trên các mặt:
Trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý: được thể hiện bằng những kiến
thức cần thiết để quản lý và điều hành, thực hiện các công việc đối nội và đối
ngoại của doanh nghiệp. Trình độ của đội ngũ này không chỉ đơn thuần là
trình độ học vấn mà còn thể hiện những kiến thức rộng lớn và phức tạp thuộc
rất nhiều lĩnh vực liên quan tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ
pháp luật trong nước và quốc tế, thị trường, ngành hàng,… đến kiến thức về
xã hội, nhân văn. Ở nhiều nước, trình độ và năng năng lực của giám đốc
doanh nghiệp nói riêng và đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp nói chung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
không chỉ được đo bằng bằng cấp của các trường quản lý danh tiếng, mà còn
thể hiện ở tính chuyên nghiệp, ở tầm nhìn xa trông rộng, có óc quan sát, phân
tích, nắm bắt cơ hội kinh doanh, sử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề
thực tiễn đặt ra.
Trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp: thể hiện ở việc sắp xếp, bố trí
cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của bộ
phận. Việc hình thành tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp theo hướng tính,
gọn, nhẹ và hiệu lực cao có ý nghĩa quan trọng không chỉ bảo đảm hiệu quả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status